Thực trạng cải cách hành chính và các giải pháp, phương hướng của cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay - Pdf 12

MỤCLỤC
Trang
MỞĐẦU
2
CHƯƠNG I: CƠSỞLÝLUẬNCỦACẢICÁCHHÀNHCHÍNH
3
I. Cải cách hành chính Nhà nước 3
II. Mục tiêu cải cách hành chính Nhà nước 4
1. Mục tiêu chung 4
2. Những mục tiêu cụ thể 5
III. Quan điểm của Đảng về cải cách hành chính Nhà nước 6
CHƯƠNG II: ĐÁNHGIÁTHỰCTRẠNGCỦACẢICÁCHHÀNHCHÍNH NHÀNƯỚC
12
1. Thực trạng cải cách hành chính ở Việt Nam 12
2. Nguyên nhân hạn chế, yếu kém 16
CHƯƠNG III. GIẢIPHÁPCẢICÁCHHÀNHCHÍNHỞ VIỆT NAM
18
KẾTLUẬN
21
MỞĐẦU
Ngày nay, trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế và văn hoá, cải cách hành
chính trở thành một trào lưu, là một nhu cầu tự thân, nỗ lực của hầu hết các quốc
gia trên thế giới, nhằm xây dựng một nền hành chính nhà nước hiện đại, năng
động, hiệu quả, giảm phiền hà, một nền hành chính lấy đối tượng phục vụ làm
tôn chỉ, mục đích chủ yếu,để từđó xây dựng, phát triển vàhoàn thiện nền hành chính.
Ở Việt Nam hiện nay, công cuộc cải cách hành chính nhà nước đang là
tâm điểm trong các nỗ lực của Đảng và Nhà nước nhằm tiến tới phát triển, hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “Nhà nước của dân, do dân, vì
dân”, xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực
hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ và văn minh” và là điều
kiện căn bản để góp phần đạt được các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế

chẽ với tính chất của cải cách hành chính. Về tính chất, cải cách hành chính là
một sự biến đổi hay cách mạng trong lĩnh vực thượng tầng kiến trúc và quan hệ
sản xuất, có tính chất chính trị và giai cấp rõ rệt. Tuy nhiên, từ góc độ hành
chính thì cải cách hành chính phải phục tùng nhu cầu khách quan của sự phát
triển lực lượng sản xuất xã hội và thúc đẩy khoa học hoá sự quản lý công việc
của toàn bộ hệ thống hành chính nhà nước, nên nó có tính cộng đồng xã hội nhất
định. Tuy nhiên, tính chất của cải cách hành chính ở các nước có chếđộ xã hội,
kinh tế khác nhau, vẫn có sự khác biệt về bản chất. Tính chất khác biệt chủ yếu
về mặt chính trị, tính cộng đồng biểu hiện ở các khía cạnh sau đây:
- cải cách để thúc đẩy việc khoa học hoá, hiệu suất hoá công việc quản lý
hành chính;
- Cải cách làđể kích thích nhiệt tình công tác và tính tích cực của cán bộ,
công chức, phát huy đầy đủ năng lực sáng tạo của họ.
- Cải cách làđể xây dựng hệ thống quản lý Nhà nước có cơ cấu hợp lý,
công năng đầy đủ, chức năng rõ ràng, tinh giản mà hiệu quả cao, có pháp chê
hoàn bị và cơ chế tự kiểm soát để thích ứng với sự thay đổi phát triển của tình
hình kinh tế xã hội và
Từ những phân tích trên đây, cải cách hành chính có thểđược hiểu một
cách khái quát, chung nhất, đó là:
Cải cách hành chính là hoạt động của Chính phủ căn cứ vào yêu cầu
phát triển kinh tế, chính trị của xã hội mà hiện đại hoá, khoa học hoá, hiệu
suất hoá thể chế hành chính, cơ cấu tổ chức, chếđộ công tác, phương thức
quản lýđể nâng cao năng suất và hiệu lực hành chính của toàn bộ nền hành
chính nhà nước.
3 3
II. MỤCTIÊUCỦACẢICÁCHHÀNHCHÍNH
Cải cách hành chính ở Việt Nam là công việc hết sức mới mẻ, diễn ra
trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành chính Nhà nước
trong thời kỳđổi mới, mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, nên có nhiều vấn đề phải vừa làm,

Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà,
gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính
mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân.
2.3. Mục tiêu thứ ba.
Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch
vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ
chức xã hội, tổ chức phi chính phủđảm nhận.
2.4. Mục tiêu thứ tư.
Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ quản
lýđa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã
hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện.
Bộ máy của các Bộđược điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức
năng, phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách,
cung cấp dịch vụ công.
2.5. Mục tiêu thứ năm.
Đến năm 2005, về cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định
mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa trung ương vàđịa phương,
giữa các cấp chính quyền địa phương; định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền
và tổ chức bộ máy chính quyền ởđô thị và nông thôn.
Các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được
tổ chức lại gọn nhẹ, thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước theo nhiệm vụ
và thẩm quyền được xác định trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân vàủy ban
nhân dân (sửa đổi). Xác định rõ tính chất, cơ cấu tổ chức, chếđộ làm việc của
chính quyền cấp xã.
2.6. Mục tiêu thứ sáu.
5 5
Đến năm 2010, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý,
chuyên nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt
vàđủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước

các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững trật
tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao
đời sống của nhân dân. Cải cách hành chính là nhiệm vụ rộng lớn, phức tạp đòi
hỏi có tầm nhìn bao quát với những giải pháp đồng bộ, kết hợp chặt chẽ cải cách
hành chính với đổi mới hoạt động lập pháp, cải cách tư pháp. Cải cách hành
chính phải được tiến hành từng bước vững chắc, có trọng tâm, trọng điểm, lựa
chọn khâu đột phá trong từng giai đoạn cụ thể.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã mở ra một
kỷ nguyên mới trong xây dựng, đổi mới, mở cửa, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ ngghĩa, mở rộng hợp tác quốc tế. Trên cơ sởđánh
giá, xác định đúng những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế- xã
hội trầm trọng, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đã chỉ rõ nguyên nhân
của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc
cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Đại
hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn
nhẹ, bớt đầu mối. Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà
nước vẫn còn quá cồng kềnh, nặng nề, đòi hỏi tiếp tục được cải cách, đổi mới.
Tại Đại hội toàn quốc lần VII, đã thông qua nghị quyết chỉ rõ việc tiếp tục
phải cải cách bộ máy nhà nước và đề ra những nhiệm vụ cho Nhà nước về sửa
đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ
chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, của chính quyền địa phương.
Trên cơ sở những nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra, trong nhiệm kỳ này đã tiến
hành đợt sắp xếp lần thứ hai kể từ Đại hội VI hệ thống chính trị ở nước ta bao
gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chiến lược ổn định và phát
triển kinh tế-xã hội đến năm 2000, khẳng định bước tiến về lý luận, nhận thức về
7 7
nền hành chính nhà nước. Cương lĩnh nêu rõ, về Nhà nước “phải có đủ quyền
lực và có đủ khả năng định ra luật pháp về tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status