THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH
THEO LƯƠNG CỦA CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU
2.1. Bản chất của tiền lương và các hình thức trong doanh nghiệp nói
chung.
2.1.1. Bản chất của tiền lương.
a. Khái niệm.
Theo từ điển thống kê của nước ta năm 1977 tiền lương được định nghĩa
như sau: "Tiền lương là số tiền rả cho người công nhân viên chức theo số
lượng và chất lượng lao động của họ đã đóng góp" hay nói cách khác: "Tiền
lương là giá cả của sức lao động. Giá trị của sức lao động thể hiện ở khả năng
lao động của con người về thể chất và trí tuệ".
Khái niệm tiền công hay tiền lương chỉ mang tính quy ước, do đó nó là
giá cả sức lao động mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo
thỏa thuận để hoàn thành một công việc theo chức năng, nhiệm vụ quy định
thông qua hoạt động lao động. Như vậy tiền lương là nguồn sống chủ yếu của
người lao động và gia đình họ.
Việc xác định chính xác tiền lương là một công việc phức tạp đòi hỏi
những số liệu chi tiết và chính xác thông qua quá trình quan sát đo lường tính
toán và ghi chép các hoạt động nhằm thực hiện chức năng giám sát, phản ánh
các hoạt động kinh tế.
b. Bản chất của tiền lương.
Về bản chất tiền lương chính là giá cả của hàng hóa đặc biệt đó là hàng
hóa sức lao động. Nghĩa là người lao động bỏ sức của mình ra để hoàn thành
một sản phẩm hàng hóa nào đó và được trả một số tiền nhất định.
Trong cơ chế thị trường bản chất của tiền lương chính là giá cả sức lao
động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thỏa thuận
giữa người có sức lao động và người sử dụng lao động đồng thời chịu sự chi
phối của các quy luật kinh tế đặc biệt là quy luật cung cầu.
Tiền lương là một vấn đề thiết thân đối với đời sống cán bộ công nhân
Chuyên đề thực tập
viên chức. Tiền lương được quy định một cách đúng đắn là một yếu tố kích
Chuyên đề thực tập
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Việc chi trả lương phải nhằm mục đích
thúc đẩy mà khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và
hiệu quả lao động.
d. Nguyên tắc trả lương.
Như đã nói ở trên tiền lương lao động biểu hiện rõ ràng nhất lợi ích kinh
tế của người lao động và trở thành đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ nhất để khích
thích người lao động. Tuy nhiên để có thể phát huy được những chức năng cơ
bản của tiền công thì việc trả công phải dựa trên nguyên tắc cơ bản sau:
Tiền lương phải đảm bảo tài sản xuất sắc lao động: tiền lương là nguồn
thu nhập chủ yếu của người lao động. Bởi vậy độ lớn của tiền lương không
những phải đảm bảo tái sản xuất mở rộng về số lượng và chất lượng lao động
mà còn phải đảm bảo nuôi sống gia đình họ.
Tiền lương phải chịu trên cơ sở thỏa thuạn giữa người có sức lao động và
người sử dụng sức lao động: Nguyên tắc này bắt nguồn từ pháp lệnh hợp
đồng lao động nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Song mức độ
tiền lương phải luôn luôn lớn hơn hoặc bằng mức lương tối thiểu (tức là số
tiền trả cho loại lao động giản đơn nhất trong xã hội).
Tiền lương trả cho người lao động phải phụ thuộc vào hiệu quả lao động
của người lao động và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Nguyên tắc
này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa tái sản xuất và tiền dùng trong đó sản xuất
đóng vai trò quan trọng.
e. Các chính sách tiền lương của nhà nước ta hiện nay.
Tiền lương giữ vai trò quan trọng to lớn trong vấn đề kích thích sản
xuất. Chính vì vậy trong nhiều năm Đảng và Nhà nước ta đã nghiên cứu, xây
dựng và nhiều lần sửa đổi chế độ tiền lương, thu nhập các bộ công nhân viên
sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội cơ chế quản lý của từng thời
kỳ: Từ sau Đại hội VI của Đảng do Nhà nước chuyển nền kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng XHCN thì chế độ tiền lương cũng thay đổi. Tháng 05 năm 1993
Các chế độ phụ cấp thực chất là phần tiền lương bổ sung cho lương cơ bản
mà trong khi xác định tiền lương cơ bản có những yếu tố người ta chưa tính
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
44
Chuyên đề thực tập
đến hoặc đã tính đến nhưng chưa đầy đủ. Chế độ phụ cấp nhằm đãi ngộ điều
kiện lao động và điều kiện sinh hoạt không ổn định thường xuyên của người
lao động. Tổng các khoản phụ cấp chỉ được tính bằng 18% lương cơ bản.
Tiền phụ cấp = lương cơ bản x mức % phụ cấp.
Hiện nay ở nước ta đang áp dụng một số hình thức phụ cấp sau:
Phụ cấp khu vực: Là phụ cấp nhằm đãi ngộ hợp lý và khuyến khích cán
bộ công nhân viên công tác ở các vùng được hưởng chế độ phụ cấp khu vực
như: Hải Đảo, vùng sâu, vùng xa... Đồng thời góp phần điều chỉnh lao động
giữa các vùng trong xã hội lẫn nhau. Chế độ phụ cấp khu vực có 5 cấp độ:
5%, 10%, 15%, 20%, 25%.
Phụ cấp độc hại: Là số tiền trả thêm cho những người làm việc trong môi
trường độc hại vượt quá mức cho phép.
Tiền phụ cấp = x mức % phụ cấp x thời gian.
Phụ cấp làm thêm, làm đêm: Đây là số tiền để bồi dưỡng động viên cán
bộ công nhân viên khi cần thiết phải làm thêm giờ, làm đêm.
Tiền phụ cấp =
Chế độ tiền thưởng.
Tiền thưởng là một khoản tiền lương bổ sung nhằm quán triệt đầy đủ
hơn nguyên tắc phân phối theo lao động đồng thời nó cũng là đòn bẩy kinh
tế thúc đẩy sản xuất phát triển. Mỗi hình thức, mỗi chế độ tiền thưởng đến
phản ánh một nội dung kinh tế nhất định. Căn cứ vào trình độ tổ chức sản
xuất tổ chức lao động và trình độ kỹ thuật cụ thể để vận dụng thích hợp các
hình thức và chế độ tiền thưởng. Khi xét các chỉ tiêu xét thưởng cũng như
các chỉ tiêu đánh giá thành tích nhất thiết phải coi trọng chỉ tiêu chất lượng
và chỉ tiêu số lượng không được coi nhẹ bất kỳ chỉ tiêu nào. Khi xét mức
thời gian gần 2 chế độ.
Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn, chế độ này là chế độ trả lương
mà tiền lương nhận được của mỗi người lao động do mức lương cấp bậc cao
hay thấp và thời gian làm việc thực tế nhiều hay ít quyết định. Chế độ trả
lương này chỉ áp dụng ở những nơi khó định mức lao động chính xác, khó
đánh giá công việc thật chính xác.
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
66
Chuyên đề thực tập
L
CN =
L
MIN
x K
CN
x T
Trong đó:
L
MIN
: Lương tối thiểu.
K
CN
: Hệ số lương cấp bậc công nhân.
T: Thời gian làm việc thực tế.
Có ba loại tiền lương theo thời gian.
Lương giờ: Tính theo lương cấp bậc và số giờ làm việc.
Lương ngày: Tính theo lương cấp bậc ngày và số ngày làm việc thực tế
trong tháng.
Lương tháng: Tính theo lương cấp bậc tháng.
nghề, cải tiến phương pháp lao động sử dụng tốt máy móc thiết bị để nâng cao
năng suất lao động.
Chế độ trả lương theo sản phẩm gồm các loại:
- Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: được áp dụng đối
với đối tượng làm việc độc lập, công việc có thể định mức kiểm tra và nghiệm
thu sản phẩm trực tiếp.
Đơn giá (ĐG) = L/Q
o
Hoặc ĐG = L x T
o
Trong đo:
L: Lương cấp bậc công việc (tính theo ngày giờ).
Q
o
: Định mức sản lượng (bao nhiêu sản phẩm trong một đơn vị thời
gian)
T
0
: Định mức thời gian.
Tính lương cho công nhân theo công thức.
L
CN
= ĐG x Q
Trong đó:
L
LC
: Lương thực tế công nhân nhận được trong ngày hoặc tháng.
ĐG: Đơn giá sản phẩm.
Q: Số lượng sản phẩm công nhân làm được thực tế.
Chế độ trả lương trực tiếp này có ưu điểm là người công nhân nhận biết
Trong đó:
ĐG
TT
: Đơn giá sản phẩm tập thể.
∑
=
n
1i
L
: Tổng số tiền lương tính theo cấp bậc công việc (1 đến n)
Q
0
: Định mức sản lượng.
T
0
: Định mức thời gian.
Tính lương công nhân 2 bước:
- Tính tổng tiền lương của tập thể.
- Tính lương cho từng công nhân tham gia vào công việc.
L
TT
= ĐG
TT
x Q
Q: Số lượng sản phẩm tập thể làm được trong ngày.
Tính lương cho từng công nhân: khi tham gia công việc các cá nhân
công nhân có thể có bậc thợ khác nhau và thời gian tham gia vào công việc
của mỗi người có thể khác nhau. Do đó khi tính toán chia lương cho từng
người thì phải xem xét đến yếu tố này.
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
Tính lương công nhân theo chế độ sản phẩm gián tiếp.
L
CN
= ĐG
GT
x
Σ
Q
Trong đó:
Σ
Q: Tổng sản phẩm của công nhân chính đạt được.
Chế độ trả lương này có ưu điểm là khuyến khích công nhân phục vụ tốt
hơn cho công nhân chính, tại điều kiện nâng cao năng suất lao động.
- Chế độ trả lương khoán: áp dụng cho những công việc yêu cầu phải
hoàn thành trong một thời gian nhất định, chủ yếu trong xây dựng cơ bản và
một số công việc trong nông nghiệp có thể thực hiện khoán cho tập thể hoặc
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
1010
Chuyên đề thực tập
cá nhân.
Đơn giá khoán có thể tính theo đơn vị công việc. Tính đơn giá khoán vẫn
thực hiện theo nguyên tắc chia tổng tiền lương theo cấp bậc công việc và cho
tổng các mức sản lượng.
- Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng: chế độ này nhằm mục đích
khuyến khích công nhân sản xuất vượt mức kế hoạch. Những sản phẩm vượt
mức được trả lương cao hơn những sản phẩm bình thường. Tiền lương chế độ
này tính theo công thức:
L
TH
: Lương có thưởng.
toán tiền lương của Công ty Bánh kẹo Hải Châu.
a. Đặc điểm chung về hạch toán tiền lương.
Cũng như các doanh nghiệp sản xuất khác và theo chế độ kế toán hiện
hành, công tác hạch toán lao động tiền lương ở Công ty Bánh kẹo Hải Châu
được tiến hành như sau:
Việc thu thập số liệu tình hình từ dưới lên theo hai kênh: thời gian lao
động (coi như là hao phí lao động vật chất) và tiền lương, các khoản phụ cấp
tiền lương (thể hiện hao phí lao động về giá trị). Hai khâu này có quan hệ mật
thiết với nhau, dựa vào thời gian lao động, kết quả lao động để tính trả lương
cho người lao động.
Trình tự tiến hành công việc hạch toán trên đây diễn ra theo quá trình từ
dưới lên (công nhân tự hạch toán, tổ sản xuất chấm công, hạch toán sản
phẩm), nhân viên phân xưởng tập hợp số liệu theo tổ, ca làm việc, quản đốc
xem xét duyệt chứng từ, tổng hợp tiền lương của phân xưởng. Hàng tháng
phòng tổ chức xem xét duyệt chứng từ của phân xưởng, đồng thời chuyển cho
phòng kế toán kiểm tra các khoản chi trả và giám đốc duyệt chi các khoản
lương, thưởng, BHXH... hàng tháng. Căn cứ vào tiền lương đã được duyệt kế
toán lương và thủ quỹ trả lương trực tiếp hàng tháng cho người lao động,
đồng thời kế toán lương tập hợp các khoản chi trả lương, BHXH... tiến hành
phân bổ vào giá thành sản phẩm. Bởi vậy, trình tự luân chuyển chứng từ để
hoạch toán tiền lương như sau:
Bảng thanh toán tiền lương ở mỗi phân xưởng
Bảng thanh toán tiền lương ở mỗi phân xưởng
Bảng thanh toán tiền lương ở mỗi phân xưởng
Bảng thanh toán tiền lương ở mỗi phân xưởng
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
1212
Chuyên đề thực tập
Bảng thanh toán tiền lương ở mỗi phân xưởng
Bảng thanh toán tiền lương ở mỗi phân xưởng
= x 24 = 910.523 đồng.
= x 2 = 39.456 đồng.
Nhân viên toàn công ty được nghỉ lễ ngày 1/1.
= x 1 = 19.728 đồng.
Mức phụ cấp thuộc quỹ lương (cơm ca) = 3000 x 24 = 72.00.
Tổng cộng thu nhập của nhân viên Trương Mạnh Hùng là:
910.523 + 39.456 + 72.000 = 1.021.979 đồng.
Nhân viên Nguyễn Hồng Hải có hệ số cấp bậc công việc là 3,54 đi làm
đủ 26 ngày công.
= x 26 = 1.274.400 đồng.
= x 1 = 25.488 đồng.
Phụ cấp thuộc quỹ lương (cơm ca) = 3000 x 26 = 78.000 đồng.
Phụ cấp trách nhiệm theo quy định mức phụ cấp trách nhiệm đối với
nhân viên quản lý bằng 10%, 20% lương cơ bản chưa tính đến cấp bậc lương
tùy từng công việc đảm nhiệm.
Nhân viên Nguyễn Hồng Hải có mức phụ cấp trách nhiệm 10%.
144.000 x 10% = 14.400 đồng.
Tổng cộng thu nhập của nhân viên Nguyễn Hồng Hải là:
1.274.400 + 25.488 + 78.000 + 14.400 = 1.391.888 đồng.
Tổng số lương của phòng kế hoạch vật tư:
1.391.888 + 1.021.979 + ... = 14.349.833
Ngoài ra ở bộ phận sản xuất trực tiếp đối với một số sản phẩm chưa
được định mức thì cũng áp dụng phương pháp tính lương theo thời gian như
trên. Ngừng việc, nghỉ việc do hỏng máy thì hưởng 70% lương thời gian cấp
bậc công việc của mỗi công nhân.
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
1414