LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của nhà nước. Cơ chế quản lý kinh tế có sự đổi mới sâu sắc đã tác động rất
lớn tới các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được nhà nước giao quyền tự
chủ trong sản xuất kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập nghĩa là lấy thu bù
chi để tăng tích lũy tái sản xuất mở rộng. Để đạt được hiệu quả sản xuất kinh
doanh cao là một vấn đề phức tạp đòi hỏi các doanh nghiệp phải có biện
pháp quản lý phù hợp với sự thay đổi của thị trường cũng như sự thay đổi
của doanh nghiệp mình. Việc đảm bảo lợi ích của người lao động là một
trong những động lực cơ bản trực tiếp khuyến khích mọi người đem hết khả
năng của mình nỗ lực phấn đấu sáng tạo trong sản xuất. Một trong những
công cụ hiệu quả nhất nhằm đảm bảo các điều kiện trên đó là hình thức trả
lương cho người lao động.
Tiền lương là một trong những khoản chi phí sản xuất cấu thành nên giá
thành sản phẩm, cho nên công tác tiền lương, BHXH là vấn đề cần được quan
tâm. Công tác kế toán tiền lương và BHXH, cung cấp những thông tin kinh tế
cần thiết cho công tác hạch toán kinh tế.
Không những thế tiền lương còn là một vấn đề thiết thân đối với đời
sống công nhân viên chức. Tổ chức tốt công tác phân phối tiền lương (tiền
công) là yếu tố kích thích khuyến kích người lao động ra sức sản xuất, làm
việc nâng cao trình độ tay nghề, tăng năng suất, từ đó giảm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm. Tiền lương còn là một trong những công cụ kinh tế để phân
phối sắp xếp lại lao động một cách có kế hoạch giữa các doanh nghiệp và các
ngành sản xuất xã hội thích hợp với yêu cầu phát triển nhịp nhàng của nền
kinh tế quốc dân.
Do nhận thức tầm quan trọng và ý nghĩa của việc tăng thu nhập cho
người lao động theo nguyên tắc phân phối trong XHCN: làm theo năng lực
hưởng theo lao động. Nên ý nghĩa trên, em đã chọn đề tài: "Công tác kế
toán tiền lương và các khoản trích theo lương của Công ty bánh kẹo Hải
Chuyên đề thực tập
Châu" để làm chuyên đề tốt nghiệp. Với sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của
phát triển.
Thời kỳ đầu thành lập 1965 - 1975: Đây là thời kỳ đất nước chống chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Nhiệm vụ chủ yếu của nhà máy là sản xuất
phục vụ dân sinh và quốc phòng.
Năm 1972 Nhà máy Bánh kẹo Hải Châu tách phân xưởng sản xuất kẹo
sang Nhà máy Miến Tương Mai và sau này thành lập Nhà máy Bánh kẹo Hải
Hà (nay là Công ty bánh kẹo Hải Hà).
Mặc dù trang thiết bị ban đầu còn lạc hậu, lao động thủ công là chủ yếu
song đây là cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu tạo điều kiện cho sự đi lên của
nhà máy sau này.
Số công nhân viên bình quân: 850 người/ năm.
Thời kỳ 1975-1986, thời kỳ khôi phục năng lực sản xuất sau chiến tranh
và đi vào hoạt động sản xuất bình thường.
Số công nhân viên bình quân: 1250 người/ năm.
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
3
Chuyên đề thực tập
Thời kỳ 1986 - 1990: Thời kỳ thích ứng với cơ chế kinh tế mới. Cùng
với cả nước nhà máy bắt đầu chuyển sang kinh doanh tự bù đắp chi phí,
không có sự bao cấp của Nhà nước. Sản phẩm của nhà máy ngày càng chịu sự
cạnh tranh của thị trường trong khi công nghệ chưa kịp cải tiến. Đây là thời
kỳ khó khăn nhất của nhà máy.
Số công nhân viên bình quân: 950 người/ năm.
Thời kỳ 1991-1995: Thời kỳ đầu tư chiều sâu, mở rộng thị trường. Nhà
máy thực hiện lại việc sắp xếp theo chủ trương mới, hướng vào mục tiêu đẩy
mạnh sản xuất các mặt hàng truyền thống. Đầu tư mua sắp thêm một số máy
móc thiết bị hiện đại của Đài Loan, CHLB Đức.
Đây là những dây chuyền hiện đại nhất cho ra các sản phẩm cao cấp nhất
rong ngành bánh kẹo Việt Nam.
Số công nhân viên bình quân 705 người/ năm.
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Tổng số vốn SXKD 44369 100 44684 100 + 315 +0,71
+ VCĐ 23098 52,06 23235 52 +137 +0,59
+ VLĐ 21271 47,94 21449 48 +178 +0,83
Theo nguồn hình
thành
- Vốn chủ sở hữu 22500 50,71 24000 53,71 +1500 +6,7
+ Ngân sách cấp 8000 18,03 8000 17,9 0 0
+ Tự bổ sung 14500 32,68 16000 35,81 +1500 +10,3
- Nợ phải trả 21869 49,29 20684 46,29 -1185 -5,41
+ Nợ ngắn hạn 13309 30 16469 36,86 +3160 +23,7
+ Nợ dài hạn 8560 19,29 4215 9,43 -4345 -50,7
Nguồn: Phòng kế toán của công ty.
Tương ứng với mỗi quy mô sản xuất kinh doanh nhất định đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn này thể hiện nhu cầu vốn
thường xuyên của doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo cho hoạt động sản
xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên liên tục. Tương ứng với lượng
vốn đó tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp lại có nguồn hình thành
khách nhau, với quy mô thích hợp để tổ chức sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.
Căn cứ vào số liệu của biểu 01 chúng ta có thể đánh giá khái quát tình
hình tổ chức vốn sản xuất kinh doanh và nguồn hình thành vốn của công ty.
Năm 2001 tổng số vốn sản xuất kinh doanh của cylà 44,684 tỷ đồng so với
năm 2000 là 44,369 tỷ đồng. Như vậy tổng số vốn sản xuất kinh doanh tăng
chứng tỏ việc sản xuất kinh doanh của công ty rất có hiệu quả. Bên cạnh đó,
năm 2001 tổng số nợ phải trả của công ty là 20,684 tỷ đồng chiếm 46,29%
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
6
Chuyên đề thực tập
tổng nguồn vốn, giảm so với năm 2000 là 1185 triệu đồng với tỷ lệ giảm
5,41% (khoản nợ phải trả này là những khoản ngắn hạn, phải trả người bán,
người mua trả tiền trước, các khoản phải trả công nhân viên, nộp ngân sách,
các khoản phải trả khác). Trong đó nợ ngắn hạn trong năm 2001 tăng so với
năm 2000 là 3160 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 23,7%. Đâylà những
khoản mà công ty chiếm dụng được trong quá trình kinh doanh cho nên công
ty cần thận trọng khi sử dụng nguồn vốn này. Bởi trong thời gian cho phép
thì nguồn vốn trở nên hữu dụng công ty chỉ có thể sử dụng vào mục đích
tạm thời, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả theo phát luật. Nợ dài hạn năm 2001
là 8560 giảm đáng kể trong năm 2001 mức giảm là 4345 triệu đồng tương
ứng với tỷ lệ giảm là 50,7%.
Do đặc điểm của sản xuất nên công ty luôn cần một số lượng làm vốn
lưu động, thường chiếm hơn 70% tổng vốn kinh doanh của công ty. Nhìn trên
bảng ta thấy lượng vốn lưu động có xu hướng tăng lên. Điều này thể hiện
công ty đang có sự mở rộng về quy mô sản xuất.
Mặc dù chi hàng năm công ty được Nhà nước cấp bổ sung vốn lưu động
song với số lượng ít nên chưa đáp ứng được tính hình sản xuất kinh doanh của
công ty. Do vậy, công ty phải đi vay thêm ngân hàng để tăng thêm nguồn vốn
của mình.
Biểu 2: Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn.
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2000 2001
Hiệu quả sử dụng VCĐ Tr. đồng 0,12 0,9
Hiệu quả sử dụng TSCĐ Tr. đồng 0,32 0,25
Tốc đô luân chuyển VCĐ Vòng 8,3 10,6
Số ngày 1 vòng luân chuyển Ngày 43,3 33,9
8
Nhập muối tinh Bột Iot Trộn phụ gia
Bột gói đóng
hộp
Giang
muối
Xay nghiền Sàng lọc
Trộn phụ
gia
Bao gói +
đóng gói
Chuyên đề thực tập
Sơ đồ 2: quy trình công nghệ của phân xưởng bánh.
• Phân xưởng kẹo là phân xưởng thay đổi hoàn toàn về máy móc thiết
bị sản xuất, trước đây sản xuất chủ yếu bằng thủ công. Cuối năm
1996 công ty nhập 2 dây chuyền sản xuất kẹo cứng và kẹo mềm của
Cộng hòa Liên Bang Đức. Đây là 2 dòng truyền hiện đại có công suất
cao.
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
9
Trộn bột mỳ
Trộn bột nước
bánh
Phiết kem
Làm lạnh
Chọn cốt
Bao gói
Bánh vụn
Trộn NL phụ
Bao phủ
Nấu kẹo
Nhân + hương
liệu
Nhào bột
Vuốt thô dây kẹo
Dập viên kẹo
Cắt vỡ gói kẹo
Bao gói
Làm nguội
Bao gói
Chuyên đề thực tập
Năm 2001 tổng lao động của công ty là 905 người, trong đó:
+ Lao động trực tiếp 796 người.
+ Lao động gián tiếp 109 người.
(Trong đó nhân viên quản lý: 40 người).
Tỷ lệ lao động gián tiếp chiếm 12-13% so với lực lượng lao động toàn
công ty. Trong số đó, số lượng nhân viên quản lý thường chiếm từ 4-5% so
với tổng số lao động của toàn công ty, tỷ lệ này có xu hướng giảm xuống. Lao
động gián tiếp của công ty bao gồm ban giám đốc, phòng - ban chức năng, đội
ngũ nhân viên phục vụ. Lực lượng lao động này của công ty có trình độ
chuyên môn cao, mọi người đều có trình độ từ cao đẳng trở lên.
Lao động gián tiếp bao gồm lao động công nhân và lực lượng lao động
công nhân kỹ thuật. Tỷ lệ lao động nữ trực tiếp chiếm từ 70-73%. Tỷ lệ này
tương đối cao nhưng phù hợp với sản xuất bánh kẹo ở các khâu bao gói thủ
công, công nhân thường chịu khó, khéo tay và cần cù. Tuy nhiên công nhân
nữ cũng có những mặt hạn chế, thai sản, nuôi con ốm... làm ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Nói chung Công ty bánh kẹo Hải
Châu có lực lượng lao động.
Biểu 3: Cơ cấu lao động của công ty qua một số năm từ 1999-2001
Đơn vị: Người
quân
Từ 1-3 Từ 4-5 Bậc 6 Bậc 7
Cơ khí 78 4,7 17 49 10 2
Điện 6 5,2 1 2 2 1
Công nghệ thực
phẩm
386 4,7 46 247 73
Tổng cộng 470 4,71
Nguồn: Số liệu phòng kỹ thuật của công ty.
Khá mạnh, cả lực lượng lao động gián tiếp và trực tiếp. Nếu lực lượng
tốt sẽ nâng cao được hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng
sản xuất sản phẩm đưa ra sản phẩm mới ra thị trường.
b. Đặc điểm về cơ cấutổ chức bộ máy của công ty.
Hiện nay Công ty bánh kẹo Hải Châu tổ chức mô hình quản lý theo
phương pháp kết hợp giữa trực tuyến và chức năng. Do công ty sử dụng cả 2
hình thức quản lý kết hợp nên thể hiện được cả tỉnh tập trung hóa và phi tập
trung hóa, tận dụng được ưu điểm cũng như hạn chế được nhược điểm của 2
phương pháp quản lý này. Bộ máy quản lý của công ty gồm có: 1 giám đốc, 2
phó giám đóc, một kế toán trưởng, 5 phòng và 2 ban. Chức năng và nhiệm vụ
được xác định như sau:
* Ban giám đốc, phụ trách chung và phụ trách các mặt công tác cụ thể
sau:
+ Công tác tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương...
+ Công tác kế hoạch vật tư và tiêu thụ.
+ Công tác tài chính thống kê kế toán.
+ Tiến bộ kỹ thuật và đầu tư xây dựng cơ bản.
- Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất: giúp việc cho giám đốc các công tác
về kỹ thuật, công tác nâng cao bồi dưỡng trình độ công nhân, công tác BHLĐ,
điều hành kế hoạch tác nghiệp của các phân xưởng.
- Phó giám đốc kinh doanh, giúp việc cho giám đốc các công tác về kinh
Phòng
tài vụ
Phòng
kỹ
thuật
Ban
bảo vệ
Ban
KTCB
Phòng
tổ chức
Phòng
tổ chức
Phân
xưởng
bánh I
Phân
xưởng
bánh II
Phân
xưởng
bánh
III
Phân
xưởng
kẹo
Phân
xưởng
bột
canh
như sau: "Tiền lương là số tiền rả cho người công nhân viên chức theo số
lượng và chất lượng lao động của họ đã đóng góp" hay nói cách khác: "Tiền
lương là giá cả của sức lao động. Giá trị của sức lao động thể hiện ở khả năng
lao động của con người về thể chất và trí tuệ".
Khái niệm tiền công hay tiền lương chỉ mang tính quy ước, do đó nó là
giá cả sức lao động mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo
thỏa thuận để hoàn thành một công việc theo chức năng, nhiệm vụ quy định
thông qua hoạt động lao động. Như vậy tiền lương là nguồn sống chủ yếu của
người lao động và gia đình họ.
Việc xác định chính xác tiền lương là một công việc phức tạp đòi hỏi
những số liệu chi tiết và chính xác thông qua quá trình quan sát đo lường tính
toán và ghi chép các hoạt động nhằm thực hiện chức năng giám sát, phản ánh
các hoạt động kinh tế.
b. Bản chất của tiền lương.
Về bản chất tiền lương chính là giá cả của hàng hóa đặc biệt đó là hàng
hóa sức lao động. Nghĩa là người lao động bỏ sức của mình ra để hoàn thành
một sản phẩm hàng hóa nào đó và được trả một số tiền nhất định.
Trong cơ chế thị trường bản chất của tiền lương chính là giá cả sức lao
động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thỏa thuận
giữa người có sức lao động và người sử dụng lao động đồng thời chịu sự chi
phối của các quy luật kinh tế đặc biệt là quy luật cung cầu.
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
15
Chuyên đề thực tập
Tiền lương là một vấn đề thiết thân đối với đời sống cán bộ công nhân
viên chức. Tiền lương được quy định một cách đúng đắn là một yếu tố kích
thích sản xuất mạnh mẽ đẩy mạnh công cuộc xây dựng XHCN. Nó khuyến
khích mỗi người ra sức sản xuất làm việc nâng cao trình độ tay nghề, cải tiến
kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất tăng nhanh năng suất lao động.
c. Chức năng của tiền lương.
d. Nguyên tắc trả lương.
Như đã nói ở trên tiền lương lao động biểu hiện rõ ràng nhất lợi ích kinh
tế của người lao động và trở thành đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ nhất để khích
thích người lao động. Tuy nhiên để có thể phát huy được những chức năng cơ
bản của tiền công thì việc trả công phải dựa trên nguyên tắc cơ bản sau:
Tiền lương phải đảm bảo tài sản xuất sắc lao động: tiền lương là nguồn
thu nhập chủ yếu của người lao động. Bởi vậy độ lớn của tiền lương không
những phải đảm bảo tái sản xuất mở rộng về số lượng và chất lượng lao động
mà còn phải đảm bảo nuôi sống gia đình họ.
Tiền lương phải chịu trên cơ sở thỏa thuạn giữa người có sức lao động
và người sử dụng sức lao động: Nguyên tắc này bắt nguồn từ pháp lệnh hợp
đồng lao động nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Song mức độ
tiền lương phải luôn luôn lớn hơn hoặc bằng mức lương tối thiểu (tức là số
tiền trả cho loại lao động giản đơn nhất trong xã hội).
Tiền lương trả cho người lao động phải phụ thuộc vào hiệu quả lao động
của người lao động và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Nguyên tắc
này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa tái sản xuất và tiền dùng trong đó sản xuất
đóng vai trò quan trọng.
e. Các chính sách tiền lương của nhà nước ta hiện nay.
Tiền lương giữ vai trò quan trọng to lớn trong vấn đề kích thích sản
xuất. Chính vì vậy trong nhiều năm Đảng và Nhà nước ta đã nghiên cứu, xây
dựng và nhiều lần sửa đổi chế độ tiền lương, thu nhập các bộ công nhân viên
sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội cơ chế quản lý của từng thời
kỳ: Từ sau Đại hội VI của Đảng do Nhà nước chuyển nền kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
17
Chuyên đề thực tập
hướng XHCN thì chế độ tiền lương cũng thay đổi. Tháng 05 năm 1993
Đảng, Quốc hội và Nhà nước đã ban hành các Quyết định số 69/QĐ-TW và
bản mà trong khi xác định tiền lương cơ bản có những yếu tố người ta chưa
tính đến hoặc đã tính đến nhưng chưa đầy đủ. Chế độ phụ cấp nhằm đãi ngộ
điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt không ổn định thường xuyên của
người lao động. Tổng các khoản phụ cấp chỉ được tính bằng 18% lương cơ
bản.
Tiền phụ cấp = lương cơ bản x mức % phụ cấp.
Hiện nay ở nước ta đang áp dụng một số hình thức phụ cấp sau:
Phụ cấp khu vực: Là phụ cấp nhằm đãi ngộ hợp lý và khuyến khích cán
bộ công nhân viên công tác ở các vùng được hưởng chế độ phụ cấp khu vực
như: Hải Đảo, vùng sâu, vùng xa... Đồng thời góp phần điều chỉnh lao động
giữa các vùng trong xã hội lẫn nhau. Chế độ phụ cấp khu vực có 5 cấp độ:
5%, 10%, 15%, 20%, 25%.
Phụ cấp độc hại: Là số tiền trả thêm cho những người làm việc trong môi
trường độc hại vượt quá mức cho phép.
Tiền phụ cấp = x mức % phụ cấp x thời gian.
Phụ cấp làm thêm, làm đêm: Đây là số tiền để bồi dưỡng động viên cán
bộ công nhân viên khi cần thiết phải làm thêm giờ, làm đêm.
Tiền phụ cấp =
Chế độ tiền thưởng.
Tiền thưởng là một khoản tiền lương bổ sung nhằm quán triệt đầy đủ
hơn nguyên tắc phân phối theo lao động đồng thời nó cũng là đòn bẩy kinh
tế thúc đẩy sản xuất phát triển. Mỗi hình thức, mỗi chế độ tiền thưởng đến
phản ánh một nội dung kinh tế nhất định. Căn cứ vào trình độ tổ chức sản
xuất tổ chức lao động và trình độ kỹ thuật cụ thể để vận dụng thích hợp các
hình thức và chế độ tiền thưởng. Khi xét các chỉ tiêu xét thưởng cũng như
các chỉ tiêu đánh giá thành tích nhất thiết phải coi trọng chỉ tiêu chất lượng
và chỉ tiêu số lượng không được coi nhẹ bất kỳ chỉ tiêu nào. Khi xét mức
thưởng của mỗi cán bộ công nhân viên được hưởng cao hay thấp là phụ
thuộc vào mức độ thành tích hiệu quả làm việc của công nhân. Tuy nhiên
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
hay thấp và thời gian làm việc thực tế nhiều hay ít quyết định. Chế độ trả
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
20
Chuyên đề thực tập
lương này chỉ áp dụng ở những nơi khó định mức lao động chính xác, khó
đánh giá công việc thật chính xác.
L
CN =
L
MIN
x K
CN
x T
Trong đó:
L
MIN
: Lương tối thiểu.
K
CN
: Hệ số lương cấp bậc công nhân.
T: Thời gian làm việc thực tế.
Có ba loại tiền lương theo thời gian.
Lương giờ: Tính theo lương cấp bậc và số giờ làm việc.
Lương ngày: Tính theo lương cấp bậc ngày và số ngày làm việc thực tế
trong tháng.
Lương tháng: Tính theo lương cấp bậc tháng.
Nhược diểm của chế độ trả lương này là mang tính chất bình quân khong
khuyến khích sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên liệu, tập
trung công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động. Chế độ trả
- Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: được áp dụng đối
với đối tượng làm việc độc lập, công việc có thể định mức kiểm tra và nghiệm
thu sản phẩm trực tiếp.
Đơn giá (ĐG) = L/Q
o
Hoặc ĐG = L x T
o
Trong đo:
L: Lương cấp bậc công việc (tính theo ngày giờ).
Q
o
: Định mức sản lượng (bao nhiêu sản phẩm trong một đơn vị thời
gian)
T
0
: Định mức thời gian.
Tính lương cho công nhân theo công thức.
L
CN
= ĐG x Q
Trong đó:
L
LC
: Lương thực tế công nhân nhận được trong ngày hoặc tháng.
ĐG: Đơn giá sản phẩm.
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
22
Chuyên đề thực tập
Q: Số lượng sản phẩm công nhân làm được thực tế.
Chế độ trả lương trực tiếp này có ưu điểm là người công nhân nhận biết
: Đơn giá sản phẩm tập thể.
∑
=
n
1i
L
: Tổng số tiền lương tính theo cấp bậc công việc (1 đến n)
Q
0
: Định mức sản lượng.
T
0
: Định mức thời gian.
Tính lương công nhân 2 bước:
- Tính tổng tiền lương của tập thể.
- Tính lương cho từng công nhân tham gia vào công việc.
L
TT
= ĐG
TT
x Q
Q: Số lượng sản phẩm tập thể làm được trong ngày.
Tính lương cho từng công nhân: khi tham gia công việc các cá nhân
công nhân có thể có bậc thợ khác nhau và thời gian tham gia vào công việc
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
23
Chuyên đề thực tập
của mỗi người có thể khác nhau. Do đó khi tính toán chia lương cho từng
người thì phải xem xét đến yếu tố này.
Chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể cơ ưu điểm là khuyến khích công
= ĐG
GT
x Σ Q
Trong đó:
Σ Q: Tổng sản phẩm của công nhân chính đạt được.
Chế độ trả lương này có ưu điểm là khuyến khích công nhân phục vụ tốt
hơn cho công nhân chính, tại điều kiện nâng cao năng suất lao động.
- Chế độ trả lương khoán: áp dụng cho những công việc yêu cầu phải
hoàn thành trong một thời gian nhất định, chủ yếu trong xây dựng cơ bản và
một số công việc trong nông nghiệp có thể thực hiện khoán cho tập thể hoặc
Sinh viên: Đỗ Tuấn Mạnh - Lớp Kế toán B
24
Chuyên đề thực tập
cá nhân.
Đơn giá khoán có thể tính theo đơn vị công việc. Tính đơn giá khoán vẫn
thực hiện theo nguyên tắc chia tổng tiền lương theo cấp bậc công việc và cho
tổng các mức sản lượng.
- Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng: chế độ này nhằm mục đích
khuyến khích công nhân sản xuất vượt mức kế hoạch. Những sản phẩm vượt
mức được trả lương cao hơn những sản phẩm bình thường. Tiền lương chế độ
này tính theo công thức:
L
TH
: Lương có thưởng.
L: Lương bình thường theo sản phẩm với đơn giá cố định.
m: % tiền thưởng cho 1% hoàn thành vượt mức kế hoạch.
h: % vượt mức kế hoạch.
- Chế độ trả lương theo sản phẩm lũy tiến: thực chất của chế độ trả lương
này là trả lương theo sản phẩm có thưởng nhưng những sản phẩm vượt mức
về sau được tính đơn giá cao hơn những sản phẩm vượt mức trước, tức là m