LUẬN VĂN:
Tín dụng trung, dài hạn ở Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Thanh Hoá -
Thực trạng và giải pháp
Lời nói đầu
Sự đổi mới hoạt động đầu tư và nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thời
kỳ đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa là yêu cầu thực tế khách quan, vừa mang tính cấp bách
đảm bảo cho nền kinh tế nước ta phát triển. Trong chiến lược phát triển kinh tế, Đảng
ta đã chỉ rõ “Chính sách tài chính quốc gia hướng vào lĩnh vực tạo vốn, sử dụng vốn có
động. Song, cũng có công trình, dự án khi đi vào hoạt động kém hiệu quả, thậm chí
không phát huy được hiệu quả như dự kiến, dẫn tới nợ quá hạn kéo dài ảnh hưởng tới
hoạt động của Ngân hàng và nền kinh tế. Điều này sẽ dẫn đến làm chậm sự hoà nhập
nền kinh tế của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Vậy, làm như thế nào để hoạt động của tín dụng trung, dài hạn có hiệu quả góp
phần đáp ứng được nhu cầu đỏi hỏi của nền kinh tế và mang lại thu nhập cho Ngân
hàng. Qua tìm hiểu thực tế tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thanh Hoá, với sự hiểu
biết của mình bản luận văn này tôi xin trình bày “Tín dụng trung, dài hạn ở Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Thanh Hoá - Thực trạng và giải pháp” phạm vi đề tài này
nghiên cứu trong thời gian từ năm 1996 đến 2000 và được bố cục theo các nội dung
sau :
Chương I: Đầu tư và Tín dụng trung, dài hạn của Ngân hàng đối với nền kinh
tế.
Chương II : Thực trạng tín dụng trung , dài hạn của NHĐầu tư và Phát triển
Thanh Hoá.
Chương III: Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lương tín dụng trung,
dài hạn. chương I
đầu tư và tín dụng trung, dài hạn của Ngân hàng
đối với nền kinh tế
Theo giác độ kinh tế: Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn và tài nguyên trong
thì Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: Công cụ tài chính, chính
sách thuế, chính sách tiền tệ. Lãi suất và đặc biệt là thông qua cơ cấu đầu tư cho từng
ngành.
- Đầu tư cơ bản tạo điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Đối với mỗi
quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới có thế mạnh riêng về vốn, về tài nguyên, về lao
động, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Sự phân bố này là khồng đều. Để khai thác thế
mạnh mỗi bên thì hiện nay xu hướng trên thế giới các quốc gia liên kết với nhau trong
hoạt động đầu tư quốc tế, tạo nên những dự án khai thác thế mạnh của mỗi bên. Qua đó
các nước giàu có được tài nguyên để sử dụng, có nơi sử dụng vốn đầu tư với khả năng
sinh lợi cao hơn. Có thể bán hay chuyển giao công nghệ kỹ thuật, có thị trường tiêu thụ
sản phẩm rộng lớn. Đối với những nước nghèo, chậm phát triển thì khai thác được tài
nguyên của mình để phát triển kinh tế tạo ra được nhiều việc làm. học tập được các kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý theo cơ chế thị trường
Đối với nước ta là một trong số các nước chậm phát triển trên thế giới, sản xuất
nông nghiệp là chủ yếu, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ sản xuất, quản lý còn lạc hậu,
cơ cấu kinh tế chưa hợp lý để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vai
trò của đầu tư có vị trí rất quan trọng. Nó tạo nên sự phát triển của đất nước, tạo được
việc làm cho người lao động, tăng thu nhập quốc dân v.v Qua đầu tư giúp cho các
doanh nghiệp có trách nhiệm hơn trong sản xuất kinh doanh, từng bước nâng cao trình
độ quản lý, tiếp thu công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến và phải tìm mọi biện pháp
xây dựng phương án kinh doanh có hiệu quả. Phải tìm đối tác, khách hàng và có chiến
lược phát triển đúng hướng để giải quyết được 3 vấn đề căn bản của thị trường là: Sản
xuất cái gì, số lượng và chất lượng sản phẩm như thế nào, và bán ở đâu? Nói tóm lại
qua đầu tư các doanh nghiệp phải xác định và thực hiện các biện pháp, phương án kinh
doanh có hiệu quả.
2- Đặc trưng của đầu tư:
- Tính sinh lời là đặc trưng hàng đầu của mọi hoạt động đầu tư, nhất là đầu tư
kinh tế, cùng với quá trình đổi mới và mở cửa của nền kinh tế nước ta với thế giới bên
ngoài đã và đang đặt ra yêu cầu thích ứng của các Ngân hàng thương mại trong quá
trình hoạt động trong điều kiện hiện tại và định hướng phát triển trong tương lai, góp
phần tích cực vào việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Tuy
nhiên mỗi Ngân hàng đều có những định hướng chủ yếu trong hoạt động của mình.
2- Tín dụng và các vấn đề có liên quan đến hoạt động tín dụng của các Ngân hàng
thương mại :
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu nó
sang người sử dụng nó, sau một thời gian nhất định được quay về với người sở hữu nó
với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu (bao gồm cả gốc và lãi)
Trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu của nền kinh tế về việc xây dựng cơ sở
vật chất để phát triển nền kinh tế trong khi đó ngân sách Nhà nước không phải là vô
hạn, muốn đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất cho nền kinh tế phát triển nhanh,
nhất thiết phải có hoạt động tín dụng để nó tập trung vốn tiền tệ nhàn rỗi để trợ giúp
cho ngân sách Nhà nước. Thông qua hoạt động tín dụng góp phần kiểm tra kiểm soát
nền kinh tế. Trong đó thực hiện hình thức tín dụng Ngân hàng có vị trí hết sức quan
trọng, bởi vì hình thức tín dụng Ngân hàng có mối quan hệ rất rộng rãi ở trong nền
kinh tế, chủ thể của nó là Ngân hàng, khách thể của nó là tất cả các thành phần kinh tế
của nền kinh tế. Đồng thời đối tượng hoạt động của tín dụng Ngân hàng là tiền, vì vậy
tín dụng Ngân hàng có ưu điểm đặc biệt của nó. Hiện nay tín dụng Ngân hàng là hoạt
động chủ yếu của các Ngân hàng thương mại, nó tạo ra thu nhập cho Ngân hàng, cho
Nhà nước, cho xã hội.
Nội dung chủ yếu của hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng thương mại bao
gồm:
2.1. Qui mô tín dụng:
Qui mô tín dụng của một Ngân hàng thương mại (khả năng cung cấp tín dụng)
thể hiện qua tỷ trọng tín dụng trong tài sản có của Ngân hàng thương mại đó. Một tỷ
rủi ro và có thể đưa ra được những sản phẩm thích ứng cả về qui mô và chất lượng
phục vụ của Ngân hàng. Trên thực tế hiện nay các Ngân hàng thương mại thường tìm
cách đa dạng hoá các lĩnh vực tài trợ, nhưng cũng lựa chọn một lĩnh vực tài trợ nhất
định làm thế mạnh để cạnh tranh với các Ngân hàng khác, việc tài trợ có thể sử dụng
hình thức tài trợ khép kín cả ngắn, trung và dài hạn.
2.5. Chọn lựa kỳ hạn tín dụng:
Kỳ hạn tín dụng dài hay ngắn nó sẽ ảnh hưởng tới thanh khoản và sự rủi ro của
kinh doanh tín dụng. Kỳ hạn tín dụng càng dài, mức độ rủi ro càng cao và thanh khoản
càng khó khăn. Kỳ hạn tín dụng hoàn toàn phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất, khả năng trả
nợ của người vay, song chính Ngân hàng cũng phải định ra một kỳ hạn thế nào đó vừa
đảm bảo lợi ích của Ngân hàng (ít rủi ro) vừa hấp dẫn người vay. Tính chất của nguồn
vốn huy động được với thời gian dài hay ngắn, lãi suất cao hay thấp cũng quyết định
việc chọn lựa kỳ hạn tín dụng của Ngân hàng thương mại.
2.6. Rủi ro tín dụng:
Rủi ro trong tín dụng có thể do phía khách hàng đem lại, có thể do chính chủ
quan của Ngân hàng hoặc có thể do thay đổi về chính sách vĩ mô. Một chính sách tín
dụng đúng là một chính sách tín dụng an toàn, ít rủi ro. Sự rủi ro tín dụng có thể dẫn
đến tình trạng như: lạm phát, suy thoái kinh tế Vì vậy trong hoạt động tín dụng các
Ngân hàng cần phải xây dựng các biện pháp an toàn, phòng ngừa rủi ro và thực hiện
tốt qui trình công nghệ tín dụng.
2.7. Giá cả tín dụng (lãi suất):
Lãi suất là tỷ lệ % theo số tiền vay, mà người vay phải tính ra để trả cho Ngân
hàng cho vay. Lãi suất thường được tính theo tháng hoặc năm. Lãi suất tín dụng chịu
ảnh hưởng của các yếu tố như: lãi phải trả cho người gửi, chi phí quản lý của Ngân
hàng, rủi ro tín dụng, chi phí cơ hội để có thể đầu tư vào các khoản khác, sự cạnh tranh
của các Ngân hàng khác, quan hệ giữa Ngân hàng với người vay. Có các loại lãi suất
như lã suất cố định, lãi suất thay đổi.
- Bên vay: là pháp nhân và cá nhân hoạt động theo pháp luật Việt Nam bao
gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, HTX, doanh nghiệp
tư nhân, xí nghiệp liên doanh vốn với nước ngoài, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài tại
Việt Nam, cá thể và hộ sản xuất.
- Mục đích cho vay: Cho vay vốn tín dụng trung, dài hạn để đầu tư cho các dự
án xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, khôi phục đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học kĩ
thuật và công nghệ nhằm mục tiêu khai thác tiềm năng để phát triển kinh tế phù hợp
với mục tiêu chính sách phát triển kinh tế xã hội và pháp luật Nhà nước và lợi nhuận.
Các dự án được đầu tư phải được xác định có hiệu quả kinh tế, trực tiếp tăng sản lượng
hàng hoá, tăng nộp ngân sách, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp và thu nhập cho người
lao động, hoàn trả vốn vay gốc và lãi cho Ngân hàng đúng thời gian cam kết, phải có
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc người bảo lãnh thứ 3 theo qui chế của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
- Cho vay trung, dài hạn: thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn
thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn
cho vay của tổ chức tín dụng. Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 60 tháng;
Thời hạn cho vay dài hạn từ trên 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động
còn lại theo Quyết định thành lập hoặc Giấy phép thành lập đối với pháp nhân và
không quá 15 năm đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
4- Vai trò tín dụng trung, dài hạn của Ngân hàng:
Thông qua tín dụng đầu tư của Ngân hàng, trên cơ sở mục tiêu định hướng của
Nhà nước, của địa phương, Ngân hàng xem xét lựa chọn những phương án có hiệu quả
để đầu tư. Đầu tư tín dụng có hiệu quả nó sẽ thúc đẩy mở rộng sản xuất khai thác tiềm
năng thế mạnh của doanh nghiệp, từng vùng kinh tế và của địa phương. Nó sẽ trang bị
bổ sung nhiều thiết bị công nghệ mới hiện đại, kĩ thuật tiên tiến cho các doanh nghiệp
nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nó làm tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tăng thu
ngân sách, tăng thêm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập cho người
III.Chất lượng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng thương mại
1- Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng
thương mại:
Xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng thương mại cũng như vai trò
của tín dụng trung, dài hạn đã trình bày ở phần trên có thể tóm tắt là:
Hoạt động của ngân hàng thương mại gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông
tiền tệ và hệ thống thanh toán trong nước, đồng thời có mối liên hệ quốc tế rộng rãi.
Hoạt động của ngân hàng thương mại đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn,
trong khi các tổ chức tài chính khác thường hoạt động trên một vài lĩnh vực hẹp và
theo hướng chuyên sâu.
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền
kinh tế, Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: vốn được tạo ra từ quá trình
tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp trong nền kinh tế, vậy muốn có nhiều
vốn phải tăng thu nhập quốc dân và giảm nhịp độ tiêu dùng. Để tăng thu nhập quốc
dân tức là để mở rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng
hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành kinh tế cần thiết phải có vốn, ngược lại khi
nền kinh tế càng phát triển sẽ tạo ra nhiều vốn. Ngân hàng thương mại là chủ thể đáp
ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh; nhờ có hoạt đông của hệ thống ngân hàng
thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng trung, dài hạn khách hàng có điều kiện
hoạt động mở rộng sản xuất, cải tiến may móc công nghệ, tăng năng suất lao động,
nâng cao hiệu quả kinh tế.
Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, khách hàng không những
cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ
hạch toán kế toán mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền
công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách
thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư nhiều khi vượt
quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Giải quyết khó khăn này, khách hàng có thể
tìm đến ngân hàng để vay vốn thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Chính vì những lý
do trên mà phải cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn.
trên tổng dư nợ tín dụng trung, dài của Ngân hàng. Nhìn chung hiện nay chỉ tiêu này
của một Ngân hàng dưới dưới mức 2% là hợp lý.
2.1.4 Chỉ tiêu về vòng quay vốn:
Nếu chất lượng tín dụng tốt tức là khách hàng có khả năng trả nợ đúng hạn hoặc
có thể trước thời hạn, qua đó giúp Ngân hàng có thể tăng số vòng quay vốn, đảm bảo
hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng.
2.1.5 lợi nhuận:
Khoản lợi nhuận thu về từ nghiệp vụ tín dụng trung, dài hạn chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng thu nhập của Ngân hàng cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng
tín dụng trung, dài hạn. Bởi vì trong nền kinh tế thị trường, các NHTM đều hoạt động
vì mục tiêu lợi nhuận và các khoản lợi nhuận đạt được đều cho thấy trình độ tổ chức,
quản lý và chất lượng hiệu quả của nghiệp vụ tín dụng trung, dài hạn.
Ngoài các chỉ tiêu trên thì việc đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn còn
có thể sử dụng một số chỉ tiêu định tính như: Sự tôn trọng và chấp hành các quy chế tín
dụng do NHNN và Ngân hàng cấp trên đề ra trong suốt quá trình thực hiện mối quan
hệ tín dụng giữa NHTM với khách hàng của mình.
2.2. Xét trên giác độ nền kinh tế mà cụ thể là từ các khách hàng:
Muốn đánh giá chất lượng của tín dụng trung, dài hạn từ phía người sử dụng
vốn, thì ngoài việc phân tích tình hình tài chính khách hàng trước khi cho vay thì sau
khi dự án đã được đưa vào sản xuất, sử dụng điều trước tiên cần làm là: Thực hiện
phân tích tình hình kinh tế, tài chính của khách hàng. Quá trình phân tích đó ta sẽ có
được các chỉ tiêu về kết quả SXKD của khách hàng như: Sự gia tăng về số lượng sản
phẩm sản xuất ra, mức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, mức lợi nhuận thu
được từ sản phẩm đó, đây là tiền đề là cơ sở cho việc thu hồi vốn đầu tư nói chung và
nợ vay trung, dài hạn.
Các chỉ tiêu khác có liên quan để đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn đó
là vốn tự có của khách hàng (như mức độ và tốc độ gia tăng vốn tự có, vòng quay của
Nhân tố luật pháp có vị trí hết sức quan trọng đối với chất lượng hoạt động
Ngân hàng, mà đặc biệt là hoạt động tín dụng trung, dài hạn. Luật pháp nó tạo môi
trường hành lang pháp lý cho mọi hoạt động của Ngân hàng. Nhân tố luật pháp ở đây
bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ và thống nhất của các văn
bản dưới luật đồng thời gắn liền với nó là quá trình chấp hành luật pháp và trình độ dân
trí trong xã hội.
3.3. Năng lực chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách hàng:
Các yếu tố của khách hàng có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung, dài hạn
là:
- Năng lực về vốn, về tài sản của khách hàng có đủ mức vốn tự có của mình để
tham gia vào dự án hay không, tiếp đó là nguồn vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình
SXKD của đơn vị có đủ hay không và nếu có thì ở mức độ nào.
- Chất lượng hoạt động SXKD của khách hàng tốt hay xấu.
- Tương lai phát triển của khách hàng ở mức độ nào; dự án, phương án SXKD
của khách hàng có đủ khả năng để tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh quyết liệt
của cơ chế thị trường được hay không.
- Mức độ chuyển biến về nhận thức, quan điểm, tâm lý của lãnh đạo doanh
nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường ở mức độ nào? Họ đã có đầy đủ ý thức vay trả
chưa hay vẫn mang nặng tư tưởng bao cấp, trông chờ nguồn vốn được cấp, được vay
ưu đãi.
- Trình độ quản trị điều hành, uy tín của người đứng đầu của doanh nghiệp ở
mức độ nào, đã đáp ứng được mực độ nào trong nền kinh tế thị trường.
3.4. Nhân tố thuộc chủ quan NHTM:
3.4.1. Chính sách tín dụng;
Chính sách tín dụng của Ngân hàng phải phù hợp với đường lối phát triển kinh
tế của Đảng và Nhà nuức đồng thời đảm bảo kết hợp hài hoà giữa quyền lợi của khách
ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng càng lớn. Đáng chú ý là việc
thu thập thông tin, phân tích các báo cáo về tình hình tài chính của doanh nghiệp và tổ
chức kinh tế sẽ đầy đủ và chính xác thì khả năng rủi ro càng giảm.
3.4.5. Kiểm tra kiểm soát nội bộ:
Kiểm tra kiểm soat nội bộ sẽ phát hiện nhanh chóng những thiếu sót trong việc
thực hiện các quy trình tín dụng của cán bộ ngân hàng, qua đó có biện pháp xử lý kịp
thời ngăn chặn những rủi ro xảy ra đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng, nâng cao
chất lượng tín dụng.
Ngoài các nội dung trên thì trong quá trình cho vay bắt đầu từ khi chuẩn bị cho
vay, phát tiền vay, kiểm tra việc sử dụng vốn vay cho đến khi thu hồi được nợ. Quá
trình cho vay, chuẩn bị cho vay rất quan trọng, làm tốt khâu này sẽ tạo điều kiện cho
vốn tín dụng luân chuyển nhanh, đảm bảo chất lượng tín dụng.
iV/ Cơ chế chính sách có liên quan đến việc nâng cao chất lương tín dụng trung,
dài hạn.
1- Những qui định chung về cho vay trung, dài hạn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển:
1.1. Nguyên tắc:
- Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
- Việc đảm bảo tiền vay phải thực hiệ quy định của Chính phủ và của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước.
1.2. Điều kiện vay vốn:
Bên vay vốn phải có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân
sự theo quy định của pháp luật.
hàng Nhà nước qui định (Chủ yếu dùng cho vay trung hạn thời gian ngắn).
- Vốn nhận uỷ thác và vốn tài trợ của các tổ chức kinh tế tài chính, tín dụng, xã
hội ở trong nước và nước ngoài.
- Nguồn vốn từ các Hiệp định khung tài trợ với ngân hàng nước ngoài do ngân
hàng đầu tư và Phát triển Việt nam ký hàng năm.
1.5. Mức cho vay và thời hạn vay:
Tổ chức tín dụng căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, quy định của
chính phủ tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về mức cho vay so với giá trị tài sản làm
bảo đảm khả năng hoàn trả nợ của khách hàng vay và khả năng nguồn vốn của mình để
quyết định mức cho vay. Mức cho vay đối với một dự án đầu tư của bên vay bằng
tổng mức vốn đầu tư của dự án trừ đi vốn tự có tham gia, vốn ngân sách cấp, liên
doanh và các nguồn vốn khác đầu tư cho dự án.
Theo qui định mới nhất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại quyết định số
284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/8/2000 thì: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp
với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất
của nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng.
- Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 60 tháng
- Thời hạn cho vay dài hạn từ trên 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn
hoạt động còn lại theo Quyết định thành lập hoặc Giấy phép thành lập đối với pháp
nhân và không quá 15 năm đối với cho vay các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
1.6. Lãi suất cho vay:
- Mức lãi suất cho vay do Ngân hàng và khách hàng thoả thuận phù hợp với qui
định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín
dụng. ở nước ta hiện nay theo qui định mới nhất thì: mức lãi suất cho vay do tổ chức
tín dụng và khách hàng thoả thuận nhưng phải phù hợp với qui định của Ngân hàng
Nhà nước về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng.
Mức lãi suất cơ bản làm cơ sở cho tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối
* Bước 2: Ký kết hợp đồng tín dụng. Gồm
- Kiểm tra hồ sơ, thẩm định dự án
- Quyết định cho vay.
- Ký kết hợp đồng tín dụng, khế ước vay vốn
* Bước 3: Giải ngân
- Kiểm tra khối lượng XDCB hoàn thành để chuẩn bị giải ngân
- Phát vốn vay
- Kiểm tra sử dụng vốn vay
* Bước 4: Thu nợ, thu lãi tiền vay. Gồm
- Lập sổ theo dõi
- Gửi phiếu báo doanh nghiệp
- Điều chỉnh kỳ hạn nợ nếu đủ điều kiện
* Bước 5: Kết thúc hợp đồng tín dụng
- Tất toán khế ước
- Thanh lý hợp đồng tín dụng
- Rút kinh nghiệm, đánh giá hiệu quả dự án, doanh nghiệp
- Hoàn chỉnh hồ sơ để lưu trữ.
Theo qui trình trên, cán bộ tín dụng là người trực tiếp cho vay thu nợ, thu lãi, có
quyền hạn và trách nhiệm theo phạm vi trách nhiệm được giao, thường xuyên kiểm tra
việc sử dụng vốn vay và yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng theo hợp đồng tín dụng
đã ký kết. Đối với các đơn vị thành viên phải tuân thủ đúng các qui định của Nhà nước
về quản lý đầu tư XDCB, qui định của Chính phủ, Bộ kế hoạch đầu tư, Ngân hàng Nhà
nước về cơ chế tín dụng đầu tư theo kế hoạch hàng năm; các qui định, qui trình nghiệp
vụ của Ngân hàng đầu tư và phát triển trung ương liên quan tới hoạt động tín dụng đầu
tư. Không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng đầu tư phát triển là nhiệm vụ chung của
tất cả cán bộ các bộ phận trong mối quan hệ chặt chẽ tín dụng - thẩm định - kế toán -
phòng ngừa rủi ro và xuyên xuốt trong quá trình xét duyệt - giải ngân - thu nợ.
sôi động.