TIỂU LUẬN: Khảo sát thực tế và đánh giá công tác quản trị mua hàng tại công ty cổ phần hoá chất và vật tư khoa học kỹ thuật - Pdf 12



TIỂU LUẬN:

Khảo sát thực tế và đánh giá công tác
quản trị mua hàng tại công ty cổ phần
hoá chất và vật tư khoa học kỹ thuật
Lời mở đầu

Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn chuyển từ kế hoạch hoá tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước vì vậy nhu cầu
mở rộng hoạt động kinh doanh với tất cả các nước trong khu vực cũng như trên thế
giới là công việc hết sức cần thiết.
Trong điều kiện của kinh tế thị trường hầu hết các doanh nghiệp đều đang gặp
phải nhiều thách thức lớn, phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của thị trường về chất
lượng, giá cả và mẫu mã sản phẩm. Do đó, vấn đề đặt ra là một doanh nghiệp muốn

thương mại.
Chương II: Khảo sát thực tế và đánh giá công tác quản trị mua hàng tại công ty
cổ phần hoá chất và vật tư khoa học kỹ thuật.
Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản trị mua
hàng trong công ty. Chương I.
Lý luận chung về công tác quản trị mua hàng

2. /Vai trò của Quản trị mua hàng.
Vai trò quan trọng của Quản trị mua hàng xuất phát từ tầm quan trọng của Quản
trị mua hàng thể hiện ở chỗ phải tổ chức, chỉ đạo, kiểm soát hoạt động mua hàng sao
cho:
- Hoạt động mua hàng được thường xuyên, đều đặn, liên tục, đủ về số lượng, chất
lượng, cơ cấu sẽ đảm bảo cho việc bán ra của doanh nghiệp đồng thời phù hợp với nhu
cầu của khách hàng sẽ tạo ra thuận lợi cho khách hàng khi lựa chọn mua hàng.
- Hoạt động mua hàng phải đảm bảo được giá cả hợp lý, đảm bảo tối thiếu hoá
chi phí mua hàng từ đó có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định giá cả. Giá cả
hàng hoá thấp làm cho doanh nghiệp có cơ hội cạnh tranh với các đối thủ của doanh
nghiệp trên thị trường thông qua giá thành. Ngoài ra giá thành hạ giúp cho Doanh
nghiệp có thể trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp khác, từ đó mở rộng được
quy mô kinh doanh, nâng cao uy tín của Doanh nghiệp trên thị trường.
- Hoạt động mua hàng phải đảm bảo được nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, ảnh
hưởng đến quá trình mua hàng như sự biến đổi nhu cầu sẽ tác động làm tốc độ bán
hàng biến đổi dẫn đến sự biến đổi mua hàng, doanh số mua hàng của doanh nghiệp.
3./ Mục tiêu của Quản trị mua hàng trong doanh nghiệp thương mại.
Quá trình kinh doanh thương mại là quá trình “ mua hàng- dự trữ - bán hàng”.
Trong đó mua hàng là khâu đầu tiên, cơ bản của hoạt động kinh doanh. Nó là điều kiện
để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Để công tác mua hàng
ổn đinh, hợp lý thì công tác mua hàng phải đảm bảo được các mục tiêu mua hàng sau:
An toàn cho việc bán ra, chất lượng hàng mua phải đảm bảo và chi phí mua hàng thấp
nhất.
- Đảm bảo an toàn cho việc bán ra thể hiện trước hết là hàng mua phải đủ về số
lượng và cơ cấu về hàng hoá, hạn chế tình trạng thừa thiếu, ứ đọng hàng hoá làm ảnh
hưởng đến lưu thông hàng hoá. Mặt khác hàng mua phải phù hợp với nhu cầu của
khách hàng vì khách hàng là người bỏ phiếu cuối cùng cho sự tồn tại và phát triên của
doanh nghiệp. Cuối cùng là đảm bảo cho việc giao hàng, vận chuyển hàng hoá ít gặp
rủi ro (giao hàng chậm, ách tắc trong khâu vận chuyển )


các phân tích đánh giá trên phục vụ cho quá trình mua hàng. Để triển khai có hiệu quả
hoạt động mua hàng, khai thác tốt nhất các nguồn hàng phục vụ cho kinh doanh, các
Nhà Quản Trị mua hàng cần thực hiện tốt các bước triển khai mua hàng

Sơ đồ 1: Quá trình triển khai mua hàng trong doanh nghiệp thương mại.
1./ Xác định nhu cầu mua hàng.
Xác định nhu cầu mua hàng, dựa trên các căn cứ để mua hàng:
- Căn cứ dựa trên các quyết định Marketing, đặc biệt là mặt hàng và giá cả.
- Căn cứ vào kết quả phân tích và tình hình bán ra về chi phí bán hàng, về phân tích
nguồn hàng.
- Căn cứ vào nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Từ các căn cứ trên, Doanh nghiệp phải xây dựng được một kế hoạch mua hàng. Mục
đích của việc mua hàng là để bán ra nên Doanh nghiệp cần phải lựa chon danh mục
hàng hoá là để bán ra nên Doanh nghiệp cần phải lựa chọn danh mục hàng hoá có thể
thoả mãn nhu cầu tối thiểu đó. Trên cơ sở dự báo mức sản phẩm, căn cứ vào lượng

từ kỳ trước và dự báo mức tiêu thụ trong tương lai. Dựa vào thống kê thu nhập của dân
cư ) để làm cơ sở cho việc xác định nhu cầu. Việc xác định nhu cầu giúp cho Doanh
nghiệp có được lượng hàng tối ưu mà doanh nghiệp sẽ mua, từ đó mới có thể tìm và
lựa chọn nhà cung cấp cho phù hợp.
2./ Tìm kiếm và lựa chon nhà cung ứng.
Có nhiều nguồn thông tin để tìm kiếm những nguồn cung ứng, chằng hạn qua
các trang vàng, danh mục điện thoại, các trang điện tử, qua các cuộc hội chợ triển lãm
mà các nhà cung cấp cần vận dụng một cách sáng tạo nguyên tắc “không nên chỉ có
một nhà cung cấp”. Muốn vậy phải nghiên cứu kỹ và toàn diện các nhà cung cấp tiềm
năng trước khi đưa ra quyết định chon lựa. Lựa chọn người cung ứng thông qua các
tiêu chuẩn như chất lượng, giá cả, khả năng kỹ thuật, sự nổi tiếng, thời hạn giao hàng,
vị trí địa lý mà doanh nghiệp lựa chọn người cung ứng. Việc đánh giá đơn vị cung ứng
có thể thực hiện theo phương pháp cho điểm với mỗ tiêu chuẩn của doanh nghiệp.
Việc đánh giá được thực hiện theo định kỳ và không hạn chế ở những đơn hàng đầu
tiên. Người cung ứng phải được đánh giá lại nhằm đảm bảo sự ổn định về chất lượng
dịch vụ.
- Đối với những mặt hàng mà doanh nghiệp đang sẵn có các nhà cung cấp( tức là
những mặt hàng doanh nghiệp đang kinh doanh) thì việc đó cần phải tìm kiếm các nhà
cung cấp mới hay không cần phải dựa trên nguyên tắc “ nếu các nhà cung cấp con làm
cho chúng ta hài lòng thì còn tiếp tục mua hàng của họ”.
- Đối với những hàng hoá mới được đưa vào danh mục mặt hàng kinh doanh của
doanh nghiệp hoặc trong trường hợp phải tìm kiếm nhà cung cấp mới thì cần phải tiến
hành nghiên cứu kỹ các nhà cung cấp trên các mặt sau:
+ Nhãn hiệu hàng hoá: có nổi tiếng hay không, đã được khẳng định trên thị
trường hay chưa
+ Khả năng tài chính của nhà cung cấp: họ đang ở giai đoạn ổn định và phát triển
với tình hình tài chính lành mạnh hay đang ở thời kỳ thua lỗ và có khó khăn về tài
chính.
- Tên, địa chỉ của các bên mua bán hoặc người đại diện của các bên.
- Tên và số lượng, quy cách, phẩm chất của hàng hoá.
- Đơn giá và phương pháp định giá.
- Phương thức và điều kiện giao nhận.
- Điều kiện vận chuyển.
- Phương thức và điều kiện thanh toán.
Đặt hàng là một hành động pháp lý của người mua với người cung ứng. Tài liệu
này được soạn thảo thành nhiều bản, hai bản người cung ứng, một bản cho bộ phận
dịch vụ kế toán, một bản cho cửa hàng kiểm tra việc nhận hàng và một bản cùng lưu ở
bộ phận dịch vụ mua hàng. Đơn đặt hàng là tài liệu giao dịch mang tính hợp đồng.
4./ Tổ chức thực hiện việc giao nhận và kiểm tra theo dõi.
Sau khi tiến hành ký kết hợp đồng đặt hàng, doanh nghiệp tiến hành tổ chức thực
hiện nhận hàng. Việc giao nhận hàng được thực hiện trên cơ sở hợp đồng, tuy nhiên
cần đôn đốc, thúc giục các nhà cung cấp nhanh chóng chuyển hàng để tránh tình trạng
hàng đến chậm làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cần giám
sát theo dõi toàn bộ quá trình giao hàng xem bên cung cấp có thực hiện đúng các điều
kiện đã ghi trong hợp đồng không. Cần phải nghiệm thu hàng một cách cẩn thận để
tránh các rủi ro( thiếu về số lượng, không đúng về quy cách, chất lượng). Nếu những
dấu hiệu vi phạm hợp đồng hay thoả thuận cần phải lập biên bản về những trục trặc
phát sinh, thông báo cho nhà cung cấp biết và cùng nhau tìm biện pháp xử lý. Nếu
những vi phạm tương đối lớn, doanh nghiệp có thể từ chối việc nhận hàng nói chung
và việc giao nhận hàng nói riêng thì trước hết trong nội bộ doanh nghiệp, giữa doanh
nghiệp với các nhà cung cấp và với mạng lưới đại lý thu mua cần được tổ chức tốt và
thường xuyên theo dõi hoạt động, diễn biến xảy ra đối với doanh nghiệp.
5./ Đánh giá kết quả mua hàng.
Mua hàng là hoạt động thường xuyên xẩy ra trong mỗi quá trình kinh doanh sản
xuất. Hoạt động này phải được đánh giá một cách liên tuc, chính xác phải được đánh

kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy cần phải làm tốt công tác mua hàng.
Nâng cao chất lượng công tác quản trị mua hàng góp phần nâng hiệu quả hoạt động
kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Việc lập kế hoạch mua hàng chính xác giúp cho doanh nghiệp có thể tăng nhanh vòng
chu chuyển vốn, đem lại hiệu quả sử dụng vốn. Sở dĩ như vậy vì việc lập kế hoạch
mua hàng được căn cứ trên mức tiêu thụ sản phẩm, do đó sản phẩm mua hàng sẽ được
cung ứng hết không còn tình trạng ứ đọng hàng hoá, đồng vốn lưu động được lưu
chuyển nhanh. Mặt khác khi Doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với nhà cung ứng,
Doanh nghiệp có thể mua hàng với giá rẻ hơn. Như vậy giá thành sẽ thấp hơn và
Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh qua giá thành. Hơn
nữa Quản trị tốt mua hàng còn giúp cho Doanh nghiệp giảm thiểu chi phí phát sinh do
hàng hoá kém phẩm chất, chi phí bảo quản, chi phí kho bãi, chi phí hao hụt ngoài định
mức. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn thể hiện ở uy tín của doanh nghiệp
trong việc kịp thời cung ứng ra thị trường khi có nhu cầu. Mà muốn làm được điều đó
thì bắt buộc các Doanh nghiệp phải quản lý hoạt động mua hàng.
Nâng cao công tác quản trị mua hàng còn giúp cho doanh nghiệp đảm bảo tính
thường xuyên, đều đặn của hoạt động kinh doanh. Ngay từ khâu đầu tiên của hoạt
động mua hàng, nếu Doanh nghiệp không quản lý tốt, hoạt động mua hàng sẽ bị chậm
trễ. Chẳng hạn khi mua hàng doanh nghiệp không thúc giục bên bán chuẩn bị giao
hàng đúng hen, nên có thể hàng hoá sẽ giao muộn hơn so với dự kiến của doanh
nghiệp. Hoặc doanh nghiệp không tổ chức kiểm tra kỹ số lượng và chất lượng hàng
hoá trước khi giao nhận, sau khi nhận hàng về kho doanh nghiệp mới phát hiện ra là
thiếu hàng, hàng kém phẩm chất, lúc đó doanh nghiệp mới trả lại bên bán cho nên lỡ
hàng để bán cho khách, vì thế mà doanh nghiệp mất đi lợi nhuận và uy tín của mình.
Ngoài ra doanh nghiệp có thể mất công đi tìm kiếm nhà cung ứng mới.
Nâng cao chất lượng công tác quản trị mua hàng con giúp cho hoạt động tài chính của
doanh nghiệp thu hồi được vốn nhanh, có tiền bù đắp chi phí kinh doanh, có lợi nhuận

mua, số lượng người mua, sự quan tâm của người bán với sự quan tâm của người mua
đối với loại hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh Bên cạnh đó còn có một loạt các
tác nhân gây ảnh hưởng đối với mua hàng như cường độ cạnh tranh của các doanh
nghiệp hiện tại, sức ép do các nhà cạnh tranh mới và ngay trong nội tại của hoạt động
mua hàng.
2.1/ Những nhân tố bên trong ảnh hưởng đến công tác quản trị mua hàng trong doanh
nghiệp thương mại.
2.1.1./ Kế hoạch và tình hình tiêu thụ hàng hoá.
- Chiến lược kinh doanh: chiến luợc kinh doanh có vai trò quan trọng đối với sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đặc biệt coi trọng quản lý hoạt
động kinh doanh của mình theo chiến lược. Bởi vì chiến lược kinh doanh giúp doanh
nghiệp thấy rõ mục đích, hướng đi của mình. Chiến lược kinh doanh giúp doanh
nghiệp nắm bắt được cơ hội trên thị trường và tạo được lợi thế cạnh tranh trên thương
trường bằng các nguồn lực có hạn cho doanh nghiệp với kết quả cao nhằm đạt được
mục tiêu đề ra. Do đó chiến lược kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình mua
hàng do đó quản trị mua hàng cũng phải phụ thuộc vào chiến lược, tuỳ thuộc chiến
lược trong từng giai đoạn mà các nhà quản trị mua hàng đưa ra kế hoạch mua hàng
hợp lý.
- Kết quả tiêu thụ: Là cơ sở để nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng nên một kế
hoạch mua hàng hợp lý . Với mỗi một mặt hàng, doanh nghiệp có thể dựa trên kết quả
tiêu thụ để xác định xem mặt hàng đó khả năng tiêu thụ như thế nào, và nếu có được
kết quả đó thì nguyên nhân do đâu để từ đó xây dựng được một kế hoạch hợp lý hơn.
- Các nguồn lực của doanh nghiệp.
+ Vốn: Là cơ sở vật chất cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đặc
biệt là trong mua hàng. Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác mua hàng
của doanh nghiệp. Khi có vốn đầy đủ thì hoạt động mua hàng được tiến hành nhanh
chóng, thuận lợi, tránh tình trạng dây dưa trong mua hàng, giảm được chi phí trong

nhà cung ứng ưu tiên hơn trong việc chào hàng, các nhà cung ứng cũng chủ động đến
chào hàng và dành nhiều điều khoản ưu đãi cho doanh nghiệp hơn, việc mua hàng
nhiều khi tránh được thủ tục rườm rà Do đó với uy tín, vị thế doanh nghiệp trên thị
trường có ảnh hưởng lớn đến công tác quản trị mua hàng.
2.1.2./ Các chính sách ảnh hưởng đến mua hàng
- Chính sách sản phẩm: muốn đạt được kết quả trong kinh doanh, đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một chính sách hợp lý nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hạn chế
rủi ro ở mức thấp nhất. Khi có chính sách sản phẩm, doanh nghiệp sẽ hoàn thành được
phương hướng kinh doanh, đầu tư nghiên cứu đúng hướng. Để có một chính sách đúng
đắn thì doanh nghiệp phải nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm vì chu kỳ sống của
sản phẩm luôn luôn gắn liền với một loại thị trường nhất định. Do đó một chính sách
sản phẩm đúng đắn sẽ đảm bảo sự tiêu thụ hàng hoá chắc chắn, cho nên nó sẽ ảnh
hưởng đến hoạt động mua hàng của doanh nghiệp.
- Chính sách phân phối: Đây là một chính sách liên quan đến việc quyết định
mua hàng bao nhiêu. Đó là những quyết định đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi
tiêu dùng, yêu cầu nhanh và đạt lợi nhuận tối đa. Một chính sách phân phối hợp lý sẽ
giúp cho hoạt động kinh doanh được an toàn hơn, tăng cường khả năng liên kết trong
kinh doanh làm cho lưu thông có hiệu quả hơn.
- Chính sách mua hàng: Sau khi đã xác định nhu cầu, trong công tác hoạch định
mua hàng các doanh nghiệp phải đưa ra chính sách mua hàng. Doanh nghiệp muốn
đảm bảo việc bán ra đều đăn, thường xuyên thì phải có một khối lượng hàng hoá dự
trữ nhất định phù hợp với việc bán ra trong thị trường. Đó chính là cơ sở xác định kế
hoạch mua hàng. Trong nền kinh tế như hiện nay thì mỗi doanh nghiệp thương mại
thường kinh doanh nhiều mặt hàng, có mặt hàng là chủ yếu hay lòng cốt của công ty
nhưng cũng có mặt hàng chỉ là phụ trợ của công ty. Những mặt hàng chủ yếu là những
mặt hàng có doanh thu và lợi nhuận lớn nếu thiếu mặt hàng này thì sẽ ảnh hưởng rất
lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cần có

+ không hoàn toàn lệ thuộc vào một nhà cung cấp để tạo ra sự lựa chọn tối ưu và
để tránh bị ép giá. Muốn vậy phải theo dõi thường xuyên và toàn diện các nhà cung
cấp tiềm năng trước khi đưa ra quyết định chọn lựa.
+ Cần theo dõi thường xuyên về tình hình tài chính, khả năng sản xuất và khả
năng cung ứng của người cung ứng hàng hoá để tránh tình trạng rủi ro làm cho doanh
nghiệp thiếu hàng.
+ Cần xem xét uy tín của nhà cung cấp, đây là điều rất quan trọng và ảnh hưởng
rất lớn đối với doanh nghiệp. Nó thể hiện qua việc giao nhận hàng có đúng thời gian
và chất lượng hay không.
Doanh nghiệp luôn phải đứng trước sự lựa chọn giữa các nhà cung cấp. Các nhà cung
cấp luôn đưa ra các món ăn trưng bầy hấp dẫn, để có một nhà cung cấp trung thành thì
đòi hỏi doanh nghiệp phải hết sức thận trọng. Vì nếu chọn lựa không đúng nhà cung
cấp sẽ không đảm bảo khả năng mua hàng của doanh nghiệp, không đảm bảo được số
lượng hàng hoá bán ra do đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2.2/ Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.
Nền kinh tế của ta là nền kinh tế thị trường. Do vậy phương châm hiện nay là “khách
hàng là thượng đế”, Doanh nghiệp bây giờ không còn kiểu bán cái mà mình có mà là
bán cái mà thị trường cần. Khách hàng ảnh hưởng đến thành bại của doanh nghiệp. Vì
vậy đối với nhà quản trị doanh nghiệp nói chung và công tác quản trị mua hàng nói
riêng cần phải xem xét kỹ lưỡng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng để quyết định mua
hàng gì? Số lượng là bao nhiêu, để tránh tình trạng thừa thiếu hàng làm hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp không tốt. Doanh nghiệp cần phải xem xét để đưa ra quyết
định phù hợp số lượng hàng và giá cả phù hợp.
2.2.3/ Đối thủ cạnh tranh:
Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt các đối thủ cạnh tranh. Sự cạnh tranh
trên thị trường là sự cạnh tranh về giá nên để thấy được đối thủ cạnh tranh, doanh
nghiệp phải thường xuyên theo dõi chính xác giá của đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp

telex,DHL đã đơn giản hoá công việc của hoạt động mua hàng rất nhiều, giảm đi
hàng loạt các chi phí, nâng cao kịp thời nhanh gọn và việc hiện đại hoá các phương
tiện vận chuyển bốc dỡ bảo quản cũng góp phần làm nhanh chóng, an toàn quá trình
thực hiện mua hàng.
Hiện nay, hệ thống tài thống tài chính, ngân hàng đã phát triển lớn mạnh tạo nên
ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động mua hàng. Hoạt động mua hàng(nhập khẩu) sẽ
không được thực hiện một cách thuận lợi nhanh chóng nếu như không có sự phát triển
của hệ thống tài chính- ngân hàng. Dựa trên quan hệ uy tín, nghiệp vụ thanh toán liên
ngân hàng. Dựa trên quan hệ uy tín, nghiệp vụ thanh toán liên ngân hàng rất thuận lợi
mà các doanh nghiệp tham gia hoạt động mua hàng có thể được ngân hàng đứng ra
bảo lãnh hoặc cho vay với khối lượng lớn, kịp thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp
chớp được những cơ hội mua hàng, hứa hẹn đem lại một khoản lợi nhuận lớn.
Ngoài ra còn có các nhân tố thuộc về môi trường của doanh nghiệp kinh doanh,
sự biến đổi của môi trường chính trị-văn hoá-xã hội, công nghệ cũng gây ảnh hưởng
tới hoạt động mua hàng nhất là trong lĩnh vực nhập khẩu. Nhưng những nhân tố này là
khách quan mà bản thân doanh nghiệp chỉ có thể nhận thức và có phương pháp kinh
doanh phù hợp chứ không tự mình tác động làm biến đổi những nhân tố này được.
Chương II
của công ty là hai công ty hoạt động độc lập, trong đó văn phòng Tổng công ty
HCVLD_DCCK, trước năm 1993 là một đơn vị quản lý hành chính toàn ngành và đảm
nhận chức năng làm 3 trung tâm chính là các trung tâm: xuất nhập khẩu, tài chính và thông
tin. Năm 1993, khi các công ty trực thuộc tách ra kinh doanh độc lập, văn phòng tổng công
ty hoạt động như một Công ty, tiếp tục các hoạt động kinh doanh như cũ.
Các mặt hàng truyền thống của Công ty như: Xút, Sôđa, Cáp điên là những mặt hàng rất
quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Đối với Công ty VTKHKT , trứoc khi sát nhập là
một Doanh nghiệp nhà nước chuyên kinh doanh các mặt hàng vật tư khoa học kỹ thuật
phục vụ cho nghiên cứu khoa học. Công ty có doanh số hàng năm rất thấp ( khoảng 20 tỷ
đồng/năm) So với văn phòng Tổng công ty (200 tỷ đồng/năm). Phạm vi qui mô hoạt động
kinh doanh của công ty rất nhỏ.
Do tình hình kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây cụ thể là năm 2002, 2003,
2004 hoạt động tôt, có hiệu quả, có thị trường ổn định lâu dài, tình hình tài chính rõ ràng.
Sau khi được tuyên truyền hướng dẫn, nghiên cứu kỹ các chủ trương chính sách của Đảng,
nhà nước về cổ phần hoá Doanh nghiệp, toàn thể cán bộ công nhân viên công ty theo QĐ
152/ 2002/ QĐ.TTg ngay 07/11/2002 ,phấn đấu đạt yêu cầu đề ra. Và theo Quyết định số
0670/2004/QĐ- BTM ngay 28/6/2004 của
Bộ Trưởng Bộ Thương Mại về việc thành lập Công Ty Cổ Phần Hoá Chất va Vật Tư Khoa
Học Kỹ Thuật. Sau khi cổ phần hoá doanh thu của Công ty tăng cụ the là năm 2004 doanh
thu của Công Ty là 251400 Tr đồng , trong đó vốn điều lệ của công ty là 12730 Tr đồng.
Thu nhập bình quân 1300 Tr đồng/ người/tháng.
Trước tầm quan trong của ngành hàng, cũng như uy tín và lợi thế của công ty trên
thương trường. Công ty Cổ Phần Hoá Chất va VTKHKT được thành lập, là một công ty cổ
phần hoá dưới sự trợ giúp của nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường. Việc chuyển đổi
sang hình thức Công Ty cổ Phần sẽ tạo điều kiện cho kinh doanh có hiệu quả, giảm được
sự cồng kềnh phức tạp của bộ máy quản lý và tăng được sự nhiệt tình làm việc của toàn bộ
cán bộ công nhân viên của công ty.
3./ Cơ cấu tổ chức của Công Ty Cổ Phần Hoá Chất và VTKHKT.

Ngoài ra công ty còn có các cửa hàng sau:
 Cửa hàng hoá chất vật liệu điện số 1 ở 265 Cầu Giấy
 Cửa hàng hoá chất vật liệu điện số 2 ở 69 Láng Hạ.
 Cửa hàng hoá chất vật liệu điện số 4 ở 120 Nguyễn Văn Cừ.
 Cửa hàng hoá chất vật liệu điện số 8 ở Vũ Ngọc Phan.
 Trung tâm kinh doanh tổng hợp 25 Hàng Gà.
Văn phòng chinh cua công ty 70 hàng Mã.
Duới đây là mô hinh hoạt động của công ty trước khi công ty chuyển sang Công ty Cổ
Phần Hoá Chất Vật liệu điện và Vật Tư Khoa Học Kỹ Thuật.

24


Khối quản

kiêm kinh
Phòng
XNK2
Phòn
g
XNK3

Phòng
tổng
hợp
Phòng
Tổ chức
hành
Cửa
hàng
2
69 láng
h


Cửa
hàng
4
120 N.V
c


XN Gỗ

Quy
Nhơn
XN
Sài
Gòn
XN
Cần
Thơ 25


vụ kỹ
thuật

nghiệp
sản xuất
gỗ xuất
khẩu
đại hội cổ
đông
Hộiđồng quản trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status