TIỂU LUẬN:
Nâng cao năng lực cạnh tranh
của dược phẩm Việt Nam
PHẦN MỘT: LỜI NÓI ĐẦU
Dược phẩm là một loại hàng hóa có tính chất đặc biệt, ảnh hưởng đến sức khỏe
và tính mạng của con người, là hàng hóa thiết yếu đối với bất kỳ quốc gia nào.
Phạm vi và nhu cầu sử dụng thuốc là vô cùng lớn.
Việt Nam là nước có dân số khá đông 86 triệu người, khí hậu nóng ẩm, dễ dẫn
đến nhiều dịch bệnh - một thị trường rộng lớn và nhiều tiềm năng nhưng ngành
Một trong các đối tượng nghiên cứu của báo cáo này là dược phẩm, vì thế cần
làm rõ khái niệm về dược phẩm. Dược phẩm có thể hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất là
công dụng chữa bệnh và thứ hai là sản phẩm của quá trình sản xuất, được lưu thông,
phân phối và buôn bán trên thị trường.
* Thứ nhất, đứng từ góc độ công dụng mà nhìn nhận, dược phẩm là một khái
niệm khá phức tạp. Theo Bộ y tế, dược phẩm là thuốc và các hoạt động liên quan
đến thuốc.
* Thứ hai, “dược phẩm” là một loại hàng hóa
Dược phẩm cũng như tất cả các loại hàng hóa khác được sản xuất và kinh
doanh trên thị trường, chịu tác động của các quy luật thị trường như quy luật giá trị,
quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh…. Song dược phẩm là một loại hàng hóa đặc
biệt có những đặc điểm riêng khác với các loại hàng hóa thông thường khác.
→ Đứng từ góc độ thị trường mà xem xét thì dược phẩm:
- Độc quyền trong sản xuất và kinh doanh dược phẩm.
- Bí mật công nghiệp trong chế biến và sản xuất.
- Năng lực cạnh tranh của dược phẩm không chỉ phụ thuộc vào chất lượng,
giá cả, mà còn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của đội ngũ thày thuốc
của từng quốc gia.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, cần giảm độc quyền, công khai về công
nghệ, đồng thời nâng cao năng lực và nhận thức của đội ngũ thày thuốc.
2. Quan niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái thể hiện rõ nhất năng lực cạnh tranh
của các chủ thể nói chung.
Theo tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 317, tháng 10 năm 2004 của TS Nguyễn
Văn Thanh: “Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản phẩm có
được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh”
cao và ngược lại.
3.3. Chất lượng sản phẩm so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh
Khi đời sống của người dân ngày càng nâng cao hay đối với những nước có
thu nhập cao thì giá cả không phải mối quan tâm hàng đầu của họ nữa. Người tiêu
dùng quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm là sự kết hợp
hài hòa của năng suất lao động, trình độ công nghệ, mức độa an toàn của sản phẩm,
các biện pháp bảo vệ thực vật… Mặt khác, khi hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra, để
nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thì yếu tố chất lượng sản phẩm đóng góp
quan trọng cho sự tồn tại của sản phẩm trên thị trường. Sản phẩm đó không chỉ đạt
tiêu chuẩn quốc gia mà phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Khi đó, chất lượng sản phẩm
nói lên năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
3.4. Giá cả sản phẩm
Đây là chỉ tiêu định lượng mà ta dễ dàng nhận thấy nhất.
Nếu các nhân tố khác không đổi thì sản phẩm nào có được giá bán thấp hơn sẽ
có được năng lực cạnh tranh tốt hơn. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành của sản
phẩm là chi phí sản xuất, nhu cầu về sản phẩm…Trong đó chi phí sản xuất là yếu tố
nảh hưởng lớn nhất đến giá bán sản phẩm. Chi phí sản xuất thấp hơn sẽ làm giá bán
sản phẩm thấp hơn, nó sẽ có sức cạnh tranh tốt hơn về giá. Vì vậy, giá là một công
cụ cạnh tranh hữu hiệu trên thị trường.
3.5. Mức hấp dẫn của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh
Được đánh giá thông qua kiểu dáng, màu sắc, bao bì sản phẩm. Trong cuộc
sống hiện đại thì tiêu chí này ngày càng có vai trò quan trọng. Một sản phẩm có
mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng đẹp sẽ có sức hấp dẫn lớn đối với khách hàng. Mặc dù
đây chỉ là chi tiêu định tính nhưng là yếu tố không thể thiếu tạo nên sức cạnh tranh
của sản phẩm.
3.6. Thương hiệu của sản phẩm
Thương hiệu là một khái niệm khá trừu tượng, nó “ vô hình ” nhưng là cái đích
được xem là đang nằm trong giai đoạn tăng trưởng.
1.2. Tình hình tiêu dùng thuốc tân dược của Việt Nam
Trong những năm gần đây, khi đời sống ngày càng được nâng cao thì người
dân ngày càng gia tăng các khoản chi tiêu về dịch vụ y tế, đặc biệt là chi tiêu cho
dược phẩm.
Bảng 1: Tiêu dùng thuốc trong nước giai đoạn 2001 – 2008
Năm Tổng trị giá tiền thuốc sử dụng
(1.000USD)
Bình quân tiền thuốc đầu
người (USD)
2001 472.356 6,0
2002 525.807 6,7
2003 608.699 7,6
2004 707.535 8,6
2005 817.396 9,85
2006 956.353 11,23
2007 1.136.353 13,39
2008 1.425.657 16,45
Nguồn: Cục quản lý dược Việt Nam
Thông qua tiêu dùng thuốc trong nước như bảng trên ta có thể thấy rằng giai
đoạn từ 2001-2008, tiêu thụ thuốc tân dược của Việt Nam đạt mức tăng trưởng bình
quân hàng năm là 19,9%. Nếu như năm 2002 mới chỉ tăng 11,3% so với năm trước
đó, thì đến năm 2008 đã tăng 25,5% so với năm 2007. Tổng doanh thu toàn thị
trường năm 2008 đạt mức 1,4 tỷ USD, chiếm 1,6% GDP của cả nước. Nếu như năm
2001 việc chi tiêu cho tiền thuốc theo đầu người mới chỉ ở mức 6,0 đô la Mỹ, thì
năm 2008 con số này đã lên tới 16,45 đô la Mỹ, tăng gấp gần 3 lần năm 2001. Nếu
so sánh với phần thu nhập tăng thêm, thì có thể nhận thấy rằng người dân đang có
sản xuất.
1.4. Chủng loại và chất lượng sản phẩm
Thuốc sản xuất trong nước đang cố gắng thoát ra khỏi những danh mục hoạt
chất generic, hướng tới những nhóm thuốc đang tăng tỷ lệ sử dụng, thuốc chuyên
khoa (như : thuốc tim mạch, tiểu đường, thần kinh, nội tiết, ). Các dạng bào chế
cũng được phát triển hơn (như : thuốc tác dụng kéo dài, thuốc tiêm đông khô, thuốc
sủi bọt, ).
Chất lượng thuốc trong nước đã được cải thiện rõ rệt. Theo thống kê của Bộ y
tế, đến cuối năm 2009 số nhà máy sản xuất dược phẩm trong nước đạt tiêu chuẩn
GMP (Good Manufacturing Practice – Thực hành tốt sản xuất thuốc) là 92 nhà máy.
Thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ bắt đầu chú trọng đến các tiêu chuẩn
này trong vài ba năm gần đây, nhưng cũng đang nỗ lực để gia tăng sức cạnh tranh
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm dược nội địa. Ngoài thực hiện
theo tiêu chuẩn GMP, chất lượng dược phẩm còn được quản lý theo ISO 9001:2000
(hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về quản lý), ISO 14000:2004 (hệ thống tiêu chuẩn
quốc tế về môi trường),…
Mặc dù đang trong giai đoạn phát triển, nhưng dược phẩm Việt Nam vẫn phải
phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài. Do ngành công nghiệp hóa
dược của Việt Nam còn hạn chế, nên có đến 90% nguyên liệu cho sản xuất thuốc
tân dược phải nhập khẩu. Với việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập
khẩu, sản xuất dược nội địa có thể sẽ gặp nhiều rủi ro như rủi ro về giá cả nguyên
liệu, rủi ro về chất lượng nguyên liệu…
1.5. Hệ thống phân phối sản phẩm
Dược phẩm tiếp cận người tiêu dùng qua hệ thống điều trị và hệ thống phân
phối thương mại
Hệ thống điều trị bao gồm các bệnh viện, các cơ sở điều trị tại các cấp. Tổng
số cơ sở khám chữa bệnh tại Việt Nam năm 2007 là 13.438 đơn vị - Đây là kênh
Công ty sản xuất 174 178 180
Nhà cung ứng nước ngoài 270 320 370
Các điểm bán lẻ 29.541 39.319 39.016
Nguồn: Bộ Y tế
Với kênh phân phối thương mại, thương hiệu sản phẩm được người tiêu dùng
nhận diện tốt hơn nhất là trong điều kiện thị trường của Việt Nam khi mà sản phẩm
của các doanh nghiệp trong nước chủ yếu là thuốc phổ thông (generic). Hiện nay,
Việt Nam có rất ít các nhà thuốc, đại lý đạt tiêu chuẩn GPP ( Thực hành tốt phân
phối thuốc ).
1.6. R&D nội địa chưa phát triển
Công nghiệp hóa dược của Việt Nam còn khá yếu với công nghệ lạc hậu do
ngành công nghiệp hóa dược chưa thực sự được chú trọng đầu tư. Dược Việt Nam
mới chỉ tập trung vào công nghiệp bào chế, trùng lắp trong dòng sản phẩm, chưa
chú trọng phát triển nguồn dược liệu, ít chú ý vào các loại thuốc chuyên khoa đặc
trị. Hiện tại, dược phẩm Việt Nam mới chỉ đang ở giai đoạn bậc 2.5 trên thang đo
tối đa bậc 5 về tiến bộ công nghệ. Ở giai đoạn này, hầu như thuốc sản xuất là loại
generic (các thuốc đã hết bản quyền công nghệ gốc). Với việc sản xuất hàng
generic, có thể cho rằng dược nước ta nghiên cứu và sản xuất sản phẩm mới chỉ
dừng lại ở mức ‘R&C’ (nghiên cứu và sao chép).
1.7. Kết quả hoạt động xuất – nhập khẩu dược phẩm Việt Nam
Cùng với tốc độ phát triển kinh tế của cả nước, dược phẩm Việt nam đã không
ngừng phát triển, đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao
năng lực cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và xây dựng thương hiệu trên thị trường.
Lượng thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng được 50.2% nhu cầu tiêu dùng (năm
2009) và dành cho xuất khẩu sang các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực và trên
thế giới.
*Về xuất khẩu:
35
2004 2005 2006 2007 2008
Năm
Triệu USD
Lượng thuốc xuất khẩu
Nguồn: Cục quản lý dược Việt Nam
Theo biểu đồ trên có thể thấy rằng trong những năm gần đây kim ngạch dược
phẩm được xuất khẩu ra nước ngoài đang có xu hướng tăng lên. Giai đoạn từ năm
2004 đến năm 2006, kim ngach xuất khẩu có tăng nhưng mức tăng không cao: năm
2005 tăng 1.227 triệu USD so với năm 2004 ( 7.47% ), và năm 2006 tăng 1.671
triệu USD so với năm 2005 ( 9.46% ). Nhưng đến năm 2007, kim ngạch xuất khẩu
tăng mạnh 22.1 triệu USD và tăng vọt vào năm 2008 ( tăng 12.22 triệu USD so với
năm 2007 ( 57.92% ) . Nguyên nhân dẫn đến kết quả này có thể là do việc Việt Nam
gia nhập WTO đã tạo điều kiện cho dược phẩm Việt Nam được tiếp cận với các thị
trường lớn, nhiều tiềm năng, với điều kiện cạnh tranh công bằng hơn. Việc xuất
khẩu các mặt hàng dược phẩm ra thị trường thế giới cho thấy chất lượng sản phẩm
dược Việt Nam ngày càng được nâng cao và bước đầu được thị trường thế giới chấp
nhận.
* Về nhập khẩu:
Theo Cục quản lý dược Việt Nam, năm 2008 Việt Nam đã nhập khẩu 923,288
triệu USD trong đó nguyên liệu là 163,536 triệu USD, thành phẩm là 759,752 triệu
USD tăng 13,8% so với năm 2007. Do ngành dược Việt Nam chủ yếu sản xuất
thuốc generic nên vẫn còn nhiều loại thuốc chuyên khoa đặc trị, thuốc mới vẫn phải
nhập khẩu, đặc biệt là thuốc hiếm nhập khẩu cho nhu cầu điều trị tại bệnh viện.
Thị trường dược Việt Nam với dân số đông và năng lực sản xuất nội địa đang
còn nhiều hạn chế nên đang là một thị trường rất hấp dẫn đối với các công ty dược
France
Quốc gia
Triệu USD
Nguồn: Tạp chí thương mại
Các tập đoàn nước ngoài gia tăng thị phần tại Việt Nam nhờ vào lợi thế về tài
chính và sản phẩm: Nguồn lực tài chính mạnh đã cho phép các tập đoàn này chi hoa
hồng ở mức cao cho các bệnh viện và nhà phân phối, cũng như tăng cường tài trợ
cho các trường y – dược, các cuộc hội thảo khoa học; Các sản phẩm nước ngoài hầu
hết có giá trị cao, hiện diện ở tất cả các phân khúc từ phổ thông đến đặc trị.
2. Phân tích năng lực cạnh tranh của dược phẩm Việt Nam
2.1 . Mức doanh thu của dược phẩm Việt Nam qua các năm
Trong những năm gần đây, công nghiệp dược nội địa phát triển vượt bậc cả về
chất và lượng. Các sản phẩm trong nước đã được người tiêu dùng quan tâm và sử
dụng với số lượng khá lớn.
Hình 3: Tăng trưởng tiêu dùng và sản xuất thuốc.
1425.657
1136.353
956.353
817.396
707.535
608.699
đẩy mạnh việc đa dạng hóa các dòng sản phẩm. Trong 3 năm trở lại đây, mỗi năm
có khoảng 2.000 loại thuốc mới đăng ký và được cấp phép đăng ký lưu hành, trong
khi vào thời điểm năm 2003 mỗi năm chỉ có khoảng 700 sản phẩm mới được đăng
ký mỗi năm.
2.2. Thị phần dược phẩm Việt Nam
Thị trường dược Việt Nam với dân số đông và năng lực sản xuất nội địa đang
còn nhiều hạn chế nên đang là một thị trường rất hấp dẫn với dược phẩm nước
ngoài.
Hình 4: doanh thu của một số công ty dược ở Việt Nam
9302
16243
17214
18930
21176
35333
40384
Domesco
DHG Pharma
Novartis Group
Pfizer Group
Servier Group
GSK Group
Sanor-Aventiscor
Nguồn: Tạp chí thương mại.
Theo thống kê trên, doanh thu lớn chủ yếu thuộc về các tập đoàn nước ngoài.
20
10
0 100 200 300 400 500 600
Chống nhiễm khuẩ- ký sinh trùng, vius
Vitamin và thuốc bổ
Thuốc tác dụng trên dạ dày, ruột
Thuốc tim mạch
Hạ nhiệt - giảm đau - chống viêm phi steroid
Thuốc tâm thần, an thần
Hormon và cấu trúc hormon
Thuốc đường hô hấp
Thuốc gan - mật
Chống dị ứng
Thuốc tác dụng đến máu
Thuốc về mắt
Chống động kinh
Dung dịch điều chỉnh nước và điện giải
Thuốc nước ngoài
Thuốc trong nước
Nguồn: Cục quản lý dược Việt Nam
Theo thống kê của Cục quản lý dược Việt Nam, năm 2008 số lượng các nhóm
thuốc đăng ký là khá lớn. Trong đó, thuốc tân dược trong nước vẫn chủ yếu tập
trung vào các loại thuốc thông thường chống viêm nhiễm, giảm đau, hạ sốt, thuốc
bổ chiếm đến hơn 50% số lượng đăng ký thuốc nội địa năm 2008. Đối với nước
ngoài thì số lượng đăng ký cũng tập trung nhiều vào các loại chống viêm nhiễm
nhưng đồng thời các loại thuốc đặc trị cũng được tiến hành đăng ký nhiều gấp hơn
là dùng cho các bệnh đặc trị. Trong khi dược phẩm trong nước chủ yếu là các loại
thuốc thông thường với giá trị thấp. Điều này gây hạn chế lớn đối với dược nội địa.
Để có thể cung cấp được các loại dược phẩm cho bệnh viện, các doanh nghiệp phải
cạnh tranh tương đối khó khăn do hầu hết thị phần này do các doanh nghiệp nước
ngoài chiếm giữ, với các loại thuốc đặc trị. Trong những năm gần đây khi các bệnh
viện tiến hành đấu thầu thuốc nên đã làm tăng sức ép cạnh tranh đối với các doanh
nghiệp. Nhưng nó đồng thời cũng là cơ hội mới đối với những doanh nghiệp có khả
năng cung cấp các loại dược phẩm với chất lượng cao và giá thuốc hợp lý. Tuy
nhiên để có thể đáp ứng được các yêu cầu về sản phẩm cung cấp cho khối bệnh
viện, dược nội địa phải có các chiến lược cạnh tranh cụ thể hơn.
Hệ thống thương mại bao gồm các doanh nghiệp phân phối, đại lý và các cơ sở
bán lẻ. Nếu xét về thị phần các loại thuốc trong nước và nước ngoài tại hệ thống
phân phối thương mại hiện nay có thể thấy rằng số lượng dược nội địa chiếm tỷ lệ
khá lớn trong khi giá trị lại không cao so với dược nước ngoài.
Hình 7: Cơ cấu phân phối thuốc trong hệ thống thương mại 2008
32.80%
71.10%
67.20%
38.90%
0%
20%
40%
60%
80%
100%
120%
Giá trị Số lượng
GLP 0 6 16 26 32 43 60 74 89 92
GSP 0 3 8 11 30 42 64 79 106 110
Nguồn: Cục quản lý dược Việt Nam.
Việc thực hiện GP’s đã thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, cùng với việc
áp dụng hệ thống quản lý chất lượng đã tạo điều kiện để chất lượng thuốc tương
đồng với các nước về kỹ thuật và chỉ tiêu chất lượng. Các phòng kiểm tra chất
lượng của các nhà máy GMP được đầu tư trang thiết bị đạt GLP đáp ứng yêu cầu
kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào cũng như kiểm tra chất lượng sản phẩm
trước khi đưa ra thị trường, đây là một yếu tố quan trọng để giúp quản lý và đảm
bảo chất lượng thuốc. Đến hết năm 2008, 89 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP đã chiếm
khoảng 90% tổng trị giá thuốc sản xuất trong nước.
Hệ thống kiểm nghiệm thuốc ngày càng được tăng cường và hiện đại. Nhiều
trung tâm kiểm nghiệm cấp tỉnh có khả năng kiểm nghiệm các thuốc thiết yếu. Các
trung tâm kiểm nghiệm cũng đã triển khai công tác kiểm tra chất lượng theo qui
chế, kiểm nghiệm sàng lọc để ngăn ngừa thuốc giả, thuốc kém chất lượng, thuốc
quá hạn sử dụng, thuốc bất hợp pháp lưu hành trên thị trường.
Bảng 5: Số liệu về tỷ lệ mẫu thuốc không đạt chất lượng qua các năm
Năm Tổng số mẫu lấy để
kiểm tra chất lượng
Số mẫu không
đạt TCCL
Tỷ lệ thuốc không đạt
TCCL (%)
2001 35.751 1.167 3,26
2002 32.573 1.054 3,23
2003 31.966 986 3,08
trường tin dùng là do thuốc nội có giá thành không cao trong khi chất lượng vẫn bảo
đảm, phù hợp với mức sống cũng như khả năng chi trả của người dân Việt Nam.
Trong khi giá nguyên liệu sản xuất kháng sinh ngày một tăng thì một số nhà sản
xuất có thể coi đây là cơ hội để chiếm lĩnh thị trường. Nguyên liệu Amoxicillin,
Ampicillin do Việt Nam sản xuất có giá thấp, chính vì vậy các doanh nghiệp trong
nước đã tiếp tục thực hiện cạnh tranh để có thể chiếm được thị phần nhỏ về các loại
thuốc thông dụng. Tuy nhiên khi chỉ sản xuất ban đầu là các dạng thuốc cơ bản
cũng đồng nghĩa với việc dư cung do các mặt hàng này được nhiều doanh nghiệp
trong nước cùng tham gia sản xuất và cung cấp.
Đồng thời do công nghiệp hóa dược của Việt nam hiện nay còn hạn chế, nên
có đến 90% nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược phải nhập khẩu. Việc phụ thuộc
nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu dẫn đến các rủi ro gây ảnh hưởng đến giá thuốc
trên thị trường như: rủi ro về tỷ giá, rủi ro về biến động giá nguyên vật liệu… Vì
vậy, các doanh nghiệp sản xuất luôn ở trong thế bị động; chỉ một sự thay đổi nhỏ
trong giá nhập dược liệu sẽ làm biến động giá thuốc trên thị trường
Hình 8: Thay đổi giá nguyên liệu năm 2008 so với 2007.
80%
34%
2%
0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90%
Hạ nhiệt-giảm đau-
chống co thắt
Vitamin
Kháng sinh
Nguồn: Tạp chí thương mại.
phát triển của mỗi doanh nghiệp. Thương hiệu chính là một điều kiện quan trọng
nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời thể hiện uy tín của sản phẩm
được người tiêu dùng tin tưởng. Để có thể tạo được thương hiệu cho sản phẩm thì
ngoài việc phải đảm bảo chất lượng sản phẩm thì khâu phân phối và quảng cáo
đóng vai trò vô cùng quan trọng giúp quảng bá sản phẩm đến người tiêu dùng một
cách nhanh chóng và hiệu quả.
Để có thể mở rộng mạng lưới phân phối thuốc, các doanh nghiệp đã áp dụng
chính sách tỷ lệ chiết khấu đối với khách hàng mua với số lượng lớn và điều tra thị
trường để có thể tiến gần đến thị trường hơn. Tuy nhiên nếu so với các doanh
nghiệp nước ngoài thì việc tiếp cận này còn khá chậm và chưa thực sự đáp ứng
được yêu cầu thực tế. Việc điều tra nhu cầu thị trường chủ yếu hiện nay là do các
công ty thương mại thực hiện, tuy nhiên sự gắn kết giữa nhà sản xuất và người phân
phối lại chưa chặt chẽ. Điều này đã tạo ra một sự lệch lạc về thông tin thị trường
tương đối lớn cho các doanh nghiệp trong ngành. Mặc dù các nhà sản xuất dược
phẩm hiện nay luôn có bộ phận nghiên cứu thị trường, tuy nhiên họ lại phụ thuộc
quá nhiều vào các đơn đặt hàng của các công ty thương mại và một phần thông tin
từ các nhà thuốc. Chính vì thế mà đôi khi có sự lệch lạc về nhu cầu dược phẩm dẫn
đến khả năng tiếp cận thị trường để đáp ứng đúng và kịp thời nhu cầu của người
tiêu dùng của dược nội địa còn kém. Như vậy vấn đề chính ở đây đó là điều kiện
tiên quyết để người tiêu dùng biết và sử dụng là việc tiếp cận nhu cầu thực sự của
thị trường phải được tập trung và chú ý một cách thỏa đáng.
Quảng cáo là một công cụ hữu hiệu để tạo nên hình ảnh cho sản phẩm. Mặc dù
trong thời gian vừa qua các doanh nghiệp đã tiến hành nhiều hoạt động quảng bá như
hội chợ, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, tài trợ cho các hoạt động
xã hội…nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả. Do người dân không thể tự kê đơn thuốc
cho mình mà phải thông qua các bác sĩ hoặc dược sĩ. Chính vì vậy mà việc thông tin
quảng cáo thuốc thường hướng vào các bác sĩ. Đồng thời do thiếu hiểu biêt về các
Tổng số
2005 4 12 16
2006 16 13 29
2007 24 8 32