TIỂU LUẬN:
Vận dụng nguyên lý triết học để phân
tích, làm rõ thực trạng của nền kinh tế
Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá Lời mở đầu Kinh tế là ngành không thể thiếu được của mọi quốc gia trên thế giới. Chính vì
thế, nó chiếm một vai trò quan trọng trong hệ thống nhà nước của mỗi quốc gia.
Không chỉ có vậy, lĩnh vực kinh tế còn ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội
như: chính trị, văn hoá, môi trường Do có vai trò quan trọng như vậy nên mỗi một
thay đổi dù lớn hay nhỏ của ngành kinh tế đều ảnh hưởng đến sự phát triển chung
của một quốc gia.
Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá đang là một đề tài thu hút nhiều sự chú ý và gần
thay đổi căn bản về chất của sự vật .”
Những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi chất của sự
vật được gọi là điểm nút.
Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời chất mới. Sự thống
nhất giữa lượng và chất mới tạo thành một độ mới với điểm nút mới. Vì vậy, có thể
hình dung sự phát triển dưới dạng một đường nút của những quan hệ về độ. Sự thay đổi về chất do những thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là bước nhảy.
Nói cách khác, bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển
hoá về chất của sự vật do những thay đổi về chất trước đó gây ra.
Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút. Sau
khi ra đời, chất mới có thể tác động trở lại sự thay đổi của lượng. Chất mới có thể
làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và
phát triển của sự vật đó.
Bởi vì chất và lượng là hai mạt đối lập vốn có trong lòng sự vật hiện tượng. Chất
thì tương đối ổn định còn lượng thì thường xuyên biến đổi. Sự thay đổi của lượng
đến một lúc nào đó thì đối lập với chất cũ, bị chất cũ kìm hãm, nó đòi hỏi phải phá
bỏ độ cũ mở ra một độ mới để mở đường cho lượng thay đổi. Khi chất cũ bị phá bỏ,
chất mới được thiết lập lại tạo ra sự thống nhất giữa chất và lượng.
Quy luật lượng chất được phát biểu như sau: “Bất kì sự vật nào cũng là sự thống
nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ
dẫn tới thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời sẽ
tác động trở lại sự thay đổi của lượng.
Xuất phát từ những điều trên, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
đòi hỏi phải quan tâm đến quá trình tích luỹ về lượng bởi vì không có quá trình này
thì không có sự thay đổi căn bản về chất. Sự vật cũng không thể mất đi, cái mới tiến
bộ hơn không thể ra đời thay thế.
Khi chất mới ra đời thì phải biết xác định quy mô tốc độ phát triển mới về lượng
cho phù hợp, không được thoả mãn dừng lại.
tạo ra sức mạnh tổng hợp và hạn chế những nguyên nhân ngược chiều.
Nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng sau khi kết quả xuất hiện thì nó lại tác động
trở lại nguyên nhân sinh ra nó. Vì vậy, phải biết khai thác tận dụng các kết quả đã
đạt được để nâng cao nhận thức để thúc đẩy sự vật phát triển.
II- Vận dụng nguyên lý triết học để phân tích, làm rõ thực trạng của nền
kinh tế Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá.
Trên thế giới có rất nhiều tài liệu viết về khái niệm hội nhập kinh tế Quốc tế. Giáo
sư về kinh tế học quốc tế thuộc đại học Tổng hợp Giôn Hốp- kin, Oa- sinh- tơn D.C,
Giêm Ri- đen đã định nghĩa: “Hội nhập là tự do thương mại, không phải chỉ đơn giản là bản thân thương mại”. Về mặt lý luận, các vấn đề kinh tế không chỉ mang
các đặc trưng của kinh tế đơn thuần, mà luôn gắn với một hệ thống của chính trị là
nền tảng của tư tưởng của nó. Về mặt thực tiễn, rõ ràng ở quốc gia nào cũng vậy ,
người ta chỉ chấp nhận hội nhập kinh tế quốc tế một khi lợi ích của quốc gia đó
được bảo đảm- Các lợi ích này không chỉ đơn thuần là lợi ích kinh tế. Nó luôn được
xác định gồm cả lợi ích chính trị của mỗi quốc gia. Cho nên, bất cứ hiệp định song
phương giữa hai quốc gia nào cũng luôn có điều khoản loại trừ các yếu tố gây hại
đến an ninh quốc gia mỗi nước. Với cách tiếp cận trên, có thể hiểu hội nhập kinh tế
quốc tế, của nước ta hiện nay không chỉ là quá trình gia nhập các tổ chức kinh tế
quốc tế mà còn được thể hiện trong bản thân hệ thống chính các thương mại, chính
sách phát triển kinh tế đã và đang được Đảng, Nhà nước định hướng.
Những phát kiến về địa lý, những cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, sự phát
triển đại công nghiệp, sự phát triển sản xuất nhờ áp dụng các thành tựu khoa học và
công nghệ, sự mở rộng thị trường quốc tế, mở rộng giao lưu quốc tế đã phá vỡ tính
biệt lập, khép kín trong phạm vi quốc gia, mở rộng không gian hoạt động của các
quốc gia. Đây chính là tiền đề cho quá trình tích luỹ về lượng để chuẩn bị cho sự
thay đổi về chất tới một giới hạn nào đó(độ) thì dẫn đến một bước nhảy về kinh tế là
xu thế toàn cầu hoá ra đời.
Có nhiều nguyên nhân tác động dẫn tới sự hình thành và phát triển xu thế toàn cầu
do hoá thương mại và đầu tư một cách công khai, rõ ràng theo 4 nguyên tắc cơ bản
sau:
- Công bằng
- Tự do hoá thương mại
- Làm ăn hay thương lượng với nhau phải trên có sở có đi có lại.
- Công khai mọi chính sách Thương Mại và đầu tư.
Với các nguyên tắc trên, nước “đi sau” như nước ta sẽ có nhiều thuận lợi, nhất là
trong việc học hỏi các kinh ngiệm của các nước “đi trước”, nhưng cũng sẽ phải
chịu rất nhiều khó khăn thách thức mà quan trọng hàng đầu là việc bảo hộ nền
sản xuất trong nước và các doanh nghiệp Việt Nam nhất là các doanh nghiệp
quốc doanh mới “chân ướt, chân ráo” bước vào nền kinh tế thị trường.
Với tầm nhìn chiến lược xác định rõ tình hình và xu thế phát triển của thế giới,
trên cơ sở yêu cấu bức xúc của phát triển kinh tế đất nước, Đại hội đã khẳng định “Xây dựng một nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế và Thế
giới”, nghị quyết 4 của Ban chấp hành TW khoá III cũng đã nêu rõ:”tích cực, chủ
động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế”, “gia nhập APEC và WTO, có kế
hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA”. Rõ
ràng, hội nhập kinh tế quốc tế là quan điểm, là định hướng phải được nhất quán
tuân thủ.
Qua nghiên cứu thực tiễn các hoạt động hội nhập kinh tế của các nước, nhất là
các nước đang phát triển, có thể thấy rằng hội nhập kinh tế quốc tế luôn không
phải chỉ toàn được mà không có thua thiệt. Vấn đề toàn cầu hoá như một:”con
dao hai lưỡi”. Một mặt nó tạo cơ hội phát triển kinh tế- kĩ thuật, tạo khả năng
giao lưu văn hoá, trí tuệ, chuyển giao công nghệ hiện đại, phát triển văn minh vật
chất. Mặt khác, nó làm trầm trọng thêm bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách
giàu nghèo, làm xói mòn bản sắc văn hoá dân tộc, tấn công vào chủ quyền quốc
gia. Về phương diện nguyên tắc, phải xác định một chiến lược hợp lý, sao cho có
thể kiếm được lợi một cách tối đa và hạn chế đến mức thấp nhất có thể được
nước xã hội chủ nghĩa) hoặc thay đổi chính phủ theo hướng thân phương Tây( đối
với các nước đang phát triển) gây sức ép về kinh tế và chính trị đối với các nước.
Tuy vậy, chủ nghĩa đế quốc vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của các nước đang
phát triển, các nước xã hội chủ nghĩa nhằm chống lại âm mưu áp đặt về chính trị.
Vừa qua, Hiệp định thương mại Việt- Mĩ đã được kí kết, một hiệp định rất có lợi
đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam, nhưng trước đó Mĩ định dùng áp lực này
nhằm thông qua “đạo luật nhân quyền”, một sự can thiệp thô bạo vào nền chính trị
của nước ta.
Cũng như lĩnh vực chính trị, lĩnh vực văn hoá cũng chịu tác động bởi quá trình
toàn cầu hoá kinh tế. Toàn cầu hoá tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu quốc tế,
tăng thêm mối liên hệ và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, sự xích lại gần nhau
giữa các quốc gia. Do đó, nó cũng tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu về văn
hoá, khoa học giữa các quốc gia, dân tộc tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của
văn hoá nhân loại, bổ sung cho nhau tạo điều kiện hiện đại hoá văn hoá. Tuy nhiên,
mặt khác, toàn cầu hoá kinh tế trong điều kiện do thế lực tư bản chi phối lại tạo
nguy cơ làm sói mòn bản sắc dân tộc, mâu thuẫn với việc giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc. Trên thế giới, chủ nghiã đế quốc nhất là đế quốc Mỹ dựa trên sức mạnh
kinh tế của mình đang muốn toàn cầu hoá văn hoá, thậm chí là Mỹ hoá. Người ta
tuyên truyền về lối sống Mỹ, văn hoá Mỹ, còn các kênh truyền thông Mỹ thì phủ khắp hành tinh, phim ảnh Hô-li-út của Mỹ được chiếu khắp các nước, thậm chí đồ
ăn thức uống Mỹ( Mac Donald, Coca Cola ) lan tràn khắp nơi. Đến nỗi Pháp cũng
lo bị Mỹ hoá. Mỹ muốn áp đặt giá trị, lợi ích văn hoá, lối sống của mình cho toàn
cầu. Chính vì thế, nước ta phải hết sức chú trọng đến vấn đề bảo tồn văn hoá trong
xu thế toàn cầu hoá, tránh bị “hoà tan” trong khi “hoà nhập”.
Không chỉ có vậy, toàn cầu hoá còn ảnh hưởng đến vấn đề môi trường. Từ năm
1973 đến nay, tuy số liệu điều tra chưa đầy đủ nhưng chắc chắn diện tích rừng bị
giảm không phải là con số ít. Chẳng hạn như ở Lâm Đồng, mỗi măn tính trung bình
có 10.000 ha rừng bị tàn phá. Trong vòng 20 năm trở lại đây có 25% diện tích rừng
tiếp tham gia vào quá trình hình thành và phát triển các luật lệ, quy định quốc
tế, nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích của đất nước và công dân ta trong quan hệ
quốc tê. Pháp huy vai trò tích cực trong các uỷ ban hỗn hợp và các quy chế
song phương về hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các nước; kịp thời phát
hiện, kiến nghị và phối hợp giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ kinh
tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế; bảo vệ chủ quyền kinh tế
và lợi ích kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế, đặc biệt là về kinh tế
đối ngoại. Nhiệm vụ này là của ngành ngoại giao. Cụ thể là làm thật tốt công
tác tiếp thị, tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư, mở rộng thị trường, tìm kiếm đối
tác. Với lợi thế, đặc điểm của ngành cần nắm vững chính sách, luật lệ của các
nước sở tại, cung cấp nhanh và chính xác những thông tin quan trọng về thị
trường, đối tác; nắm bắt kịp thời những nhân tố thuận lợi hoặc không thuận
lợi; tăng cường giới thiệu về tiềm năng kinh tế, chính sách, luật lệ và nhu cầu
của ta cho các đối tác nước ngoài. Ngành ngoại giao thực hiện công việc này
trong sự hợp tác và phối phợp chặt chẽ với các bộ, ngành, các địa phương,
cũng như các doanh nghiệp.
- Nghiên cứu kinh tế các nước, kinh tế thế giới, khu vực, các tổ chức kinh tế
quốc tế và quan hệ kinh tế quốc tế; nghiên cứu kinh tế Việt Nam để góp phần
hoạch định các chủ trương, chính sách kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh
tế đối ngoại và hội nhập kinh tế thế giới và khu vực. Trong bối cảnh hiện nay,
công tác này cần được tăng cường với chất lượng cao hơn để có những đề
xuất tham mưu có gia trị cao với đảng và chính phủ. - Tìm hiểu nhu cầu, khả năng về các mặt của các đối tượng, các nước và các tổ
chức quốc tế , khả năng và nhu cầu của các bộ ngành trong nước để đề xuất
kiến nghị với chính phủ có chủ trương, chính sách làm ăn với từng nước.
Hiện nay và trong thời gian tới cần tập trung vào các lĩnh vực như: xúc tiến
thương mại đặc biệt là tìm kiếm thị trường mới, mở rộng thị trường để tăng
Phần kết luận Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy cao độ các nguồn
nội lực, đồng thời thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài; kết
hợp nội lực với ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp là nội dung quan trọng của
đường lối kinh tế do Đại hội IX của Đảng đề ra. Chủ động hội nhập kinh tế là để
tạo ra điều kiện xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ. Mặt khác, có
độc tự chủ về kinh tế mới có thể chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả,
đảm bảo giữ vững chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc. Tất cả vì một nước
Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững
bước đi lên CNXH
Việc Việt Nam tham gia toàn cầu hoá kinh tế đã khơi dậy tiềm năng của sản
xuất, khơi dậy năng lực sáng tạo, chủ động của các chủ thể lao động trong sản
xuất kinh doanh thúc đẩy sản xuất phát triển. Do đó nền kinh tế nước ta thực sự
được đổi mới, bước đầu đạt được những thành tựu to lớn: từ một nước đói kém,
cơ sở vật chất nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu đến nay trở thành một nước không chỉ
đủ ăn mà còn dư thừa, xuất khẩu ra nước ngoài( đặc biệt là lúa, gạo). Tuy nhiên,
ta không được tự bằng lòng với những gì đã đạt được bởi vì đạt được đã khó, giữ
được còn khó hơn. Vì thế đòi hỏi ta phải cố gắng nỗ lực không ngừng để củng cố
những thành quả và tạo cho mình một chỗ đứng chắc chắn trên trường quốc tế.
Mục lục
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
I- Cơ sở lý luận triết học dùng làm tiền đề lý luận cho đề tài.
1. Nguyên tắc phương pháp luận của qui luật lượng- chất.
2. Nguyên tắc phương pháp luận của mối quan hệ nguyên nhân- kết quả.
II- Vận dụng nguyên lý triết học để phân tích, làm rõ thực trạng của nền kinh
tế Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá.
III- Những giải pháp và kiến nghị.
- Phần kết luận