Chơng I: Tổng quan về thị trờng trái
phiếu và hợp đồng mua lại trái phiếu
I.Thị trờng trái phiếu
1.Trái phiếu
1.1.Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu
Hiện nay các nhà nghiên cứu tài chính tiền tệ vẫn cha thống nhất với nhau
khái niệm trái phiếu. Theo từ điển kinh tế Oxford, trái phiếu là những chứng từ
hứa trả những khoản tiền vào những thời điểm nhất định. Theo giáo trình Thị
trờng chứng khoán thì trái phiếu là một loại chứng khoán nợ quy định nghĩa vụ
của ngời phát hành (ngời đi vay) phải trả cho ngời đứng tên sở hữu chứng
khoán (ngời cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong
những khoảng thời gian cụ thể. Tuy nhiên khái niệm về trái phiếu thờng đợc đề
cập nh là một cam kết của ngời phát hành sẽ thanh toán cho ngời sở hữu trái
phiếu những khoản tiền xác định bao gồm cả gốc và lãi vào những khoảng thời
gian xác định trong tơng lai tuỳ thuộc vào phơng thức trả đã đợc quy định khi
phát hành, trái phiếu thờng có mệnh giá, lãi suất và ngày đáo hạn. Khi một
nhà đầu t mua trái phiếu thì có nghĩa là nhà đầu t đó đã cho tổ chức phát hành
vay tiền.
Trái phiếu có thể đợc phát hành dới dạng chứng chỉ vật chất hay phi vật
chất( ghi sổ hay điện tử), tuy nhiên dù theo hình thức nào thì trái phiếu đều
bao gỗm những thông tin sau:
Mệnh giá: là giá trị ghi trên trái phiếu mà tổ chức phát hành cam kết trả cho
ngời sở hữu trái phiếu và ngày đáo hạn.
Ngày đáo hạn: là ngày mà tổ chức phát hành thanh toán số tiền theo mệnh giá
cho ngời sở hữu trái phiếu.
Lãi suất: tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh toán cho chủ sở hữu trái phiếu
một số tiền lãi vào một ngày xác định hoặc theo định kỳ. Trái phiếu phát hành
với một tỷ lệ lãi suất danh nghĩa đợc xác định bởi các điều kiện thị trờng tại
thời điểm chào bán trái phiếu. Lãi suất thờng đợc công bố theo tỷ lệ phần trăm
(%) so với mệnh giá của trái phiếu. Lãi suất có thể đợc quy định trả hàng năm
hoặc trả định kỳ. Số tiền lãi trái phiếu hay còn gọi là trái tức có thể đợc tính rất
chuyển nhợng, bất kỳ ngời nào có trái phiếu trong tay đều có quyền đợc hởng
lãi và quyền đợc thanh toán trái phiếu . Ngời sở hữu trái phiếu có thể nắm giữ
trái phiếu đến ngày đáo hạn hoặc có thể bán nó trên thị trờng thứ cấp trớc ngày
đáo hạn.
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu ghi rõ họ tên và địa chỉ ngời sở hữu trái
phiếu trên bề mặt trái phiếu và trong sổ của tổ chức phát hành. Đặc điểm của
trái phiếu ghi danh là khó chuyển nhợng, trờng hợp bị mất có thể xin cấp lại.
Đến ngày nhận tiền lãi đại lý công ty phát hành sẽ gửi séc trả lãi cho ngời sở
hữu trái phiếu.
Trái phiếu ghi danh đợc chia làm 2 loại: Trái phiếu đăng ký từng phần và trái
phiếu đăng ký toàn phần.
Trái phiếu đăng ký từng phần: tên và địa chỉ ngời chủ sở hữu đợc ghi lại
với mục đích tiếp nhận mọi văn bản thông báo và để thanh toán vốn gốc
vào kỳ đáo hạn, trái tức sẽ đợc nhận gửi kèm theo cuống phiếu trả lãi
(nh trái phiếu vô danh)
Trái phiếu đăng ký toàn phần: tên và địa chỉ của ngời chủ sở hữu đợc
ghi lại với mục đích tiếp nhận mọi văn bản thông báo và để thanh toán
tiền vốn khi đáo hạn và nhận trái tức. Trái tức đợc thanh toánkhi có
phiếu kiểm tra của tổ chức phát hành 6 tháng một lần. Một dạng phổ
biến của trái phiếu đăng ký toàn phần là đăng ký trong sổ, dang này
không có giấy chứng nhận sở hữu trái phiếu mà thay vào đó là quyền sở
hữu trái phiếu đợc thể hiện bằng cách ghi vào trong sổ tên và địa chỉ ng-
ời sở hữu.
1.2.2. Phân loại theo đối tuợng phát hành
Trái phiếu đợc phân thành hai loại là trái phiếu chính phủ và trái phiếu
công ty.
1.2.2.1. Trái phiếu chính phủ:
Trái phiếu do chính phủ hoặc chính quyền địa phơng phát hành nhằm mục
đích cân đối ngân sách, thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, trái
phiếu loại này đợc bảo đảm bằng ngân sách quốc gia hoặc ngân sách của
ời cho vay. Các công ty phát hành trái phiếu khi có nhu cầu huy động
vốn lớn để tài trợ cho việc mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh mà
không đủ điều kiên hoặc không muốn phát hành cổ phiếu, hoặc do
chiến lợc quản lý vốn của công ty. Trái phiếu công ty có thể là trái phiếu
ngắn hạn (kỳ phiếu), trung và dài hạn. Nhng thông thờng, khi có nhu
cầu vốn ngắn hạn các công ty thờng vay vốn qua các ngân hàng hơn là
phát hành kỳ phiếu.
Các loại trái phiếu công ty gồm:
Trái phiếu có thể mua lại trớc hạn: Một số công ty quy định trong
trái phiếu của họ có điều khoản cho phép công ty mua lại trái
phiếu trớc khi đến hạn. Thông thờng, công ty chấp nhận trả cho
ngời co trái phiếu theo giá gia tăng (tức là lớn hơn mệnh giá trái
phiếu) khi công ty muốn mua lại trái phiếu đó. Loại trái phiếu
này mang lại cho tổ chức phát hành một lợi thế là công ty có thể
chủ động trả lại nợ nếu thấy không còn nhu cầu vay vốn nữa hoặc
trong trờng hợp lãi suất thị trờng xuống thấp hơn so với lúc phát
hành, tức là giá trái phiếu tăng lên thì công ty có thể mua lại trái
phiếu mình đã phát hành theo giá thấp hơn nh đã định trớc và có
thể phát hành đợt mới theo lãi suất thấp hơn. Về phía ngời mua
trái phiếu thì đây là một bất lợi, do vậy loại trái phiếu này thờng
phải bán rẻ hơn so với trái phiếu không có đặc tính này.
Trái phiếu có thể chuyển đổi: Đây là loại trái phiếu có thể chuyển
đổi tơng tự nh loại cổ phiếu có thể chuyển đổi. Trái phiếu chuyển
đổi cho phép ngời sở hữu nó có thể chuyển đổi sang một loại
chứng khoán nhất định, chứng khoán này có thể là cổ phiếu u đãi
hay cổ phiếu thờng của công ty phát hành (thông thờng là cổ
phiếu thờng). Nhiều công ty phát hành trái phiếu có thể chuyển
đổi vì điều đó làm cho trái phiếu trở nên hấp dẫn và dễ bán hơn.
Đặc tính chuyển đổi đợc quy định ngay lúc phát hành trái phiếu
và chỉ đợc chỉnh sửa lại trong trờng hợp tách cổ phiếu hoặc trả cổ
trớc đợc giữ cho đến thời điểm đáo hạn thì vốn đầu t của nhà đầu
t đợc tăng lên bằng mệnh giá, vì vậy sẽ không có lãi trên vốn. Lãi
trên vốn chỉ có thể đợc nếu nh ngời nắm giữ bán trái phiếu đi trớc
thời điểm đáo hạn với giá cao hơn giá cơ bản của nó ở thời điểm
bán. Nếu bán thấp hơn, phần chênh lệch này đợc coi nh là phần
lỗ vốn. Lợi suất đáo hạn đối với trái phiếu không có phiếu trả lãi
thờng cao hơn so với trái phiếu trả lãi tơng ứng. Tuy nhiên trên
thực tế, trái phiếu không có phiếu trả lãi thờng đợc bán với mức
chiết khấu lớn và kỳ đáo hạn dài, do vậy sẽ chịu ảnh hởng lớn bởi
biến động lãi suất.
Trái phiếu seri: Là loại trái phiếu đợc phát hành một đợt nhng
mỗi seri có ngày đáo hạn khác nhau, theo định kỳ đều đặn cho
đến khi toàn bộ đợt phát hành đợc hoàn trả.
Trái phiếu đầu cơ (speculative bonds hay junk bonds): là loại trái
phiếu do các doanh nghiệp có mứ đọ uy tín thấp phát hành, vì vậy
loại trái phiếu này có rất nhiều rủi ro và phải bán với giá thấp.
Thông thờng trái phiếu đầu cơ sẽ đa ra lợi tức cao hơn các trái
phiếu thông thờng khác. Những nhà đầu t sẽ yêu cầu có thu nhập
cao hơn khi mua trái phiếu đầu cơ vì họ phải chịu nhiều rủi ro
hơn.
Trái phiếu Euro (euro bonds): Trái phiếu châu Âu là loại trái
phiếu đợc giao dịch bằng ngoại tệ. Những nhà đầu t nớc ngoài
khi mua loại trái phiếu này phải cân nhắc băng cách dự đoán sự
biến đổi tỷ giá vì tiền lãi và vốn đầu t phải đợc chuyển đổi sang
ngoại tệ.
2. Thị trờng trái phiếu
2.1. Khái niệm thị tr ờng trái phiếu
Là một bộ phận của thị trờng chứng khoán, thị trờng trái phiếu là thị trờng
phát hành và giao dịch các loại trái phiếu của chính phủ, các doanh nghiệp và
các tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Trái phiếu đợc phát hành trên thị
buộc cho các cuộc thơng lợng.
Buổi họp đầu tiên diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber,
thành phố Bruges, Vơng quốc Bỉ.Trớc lữ quán có một bảng hiệu vẽ hình 3
chiếc túi da và chữ Bourse. Ba túi da tợng trng cho ba nội dung của thị trờng là
Thị trờng hàng hoá, Thị trờng ngoại tệ và Thị trờng chứng khoán động sản;
chữ Bourse có nghĩa là mậu dịch thị trờng hay còn gọi là nơi buôn bán
chứng khoán
Đến năm 1547, thị trờng ở thành phố Bruges bị sụp đổ do cửa biển Evin nơi
dẫn các tàu thuyền vào buôn bán tại thành phố bị cát biển lấp mất. Tuy nhiên
vào năm 1531, thị trờng này đợc dời đến thành phố Anvers (Bỉ), từ đó thị trờng
này phát triển nhanh chóng. Một thị trờng nh vậy cũng đợc thành lập ở
London (Anh) vào thế kỷ 18 và sau đó là một loạt thị trờng tại Pháp, Đức, ý,
một số nớc Bắc Âu và Mỹ cũng đợc thành lập. Sau một thời gian hoạt động thị
trờng đã chứng tỏ khả năng không đáp ứng đợc yêu cầu của cả ba giao dịch
khác nhau, vì thế thị trờng hàng hoá đợc tách thành các khu thơng mại, thị tr-
ờng ngoại tệ đợc tách ra và phát triển thành thị trờng hối đoái, thị trờng chứng
khoán động sản trở thành thị trờng chứng khoán.
Là một bộ phận của thị trờng chứng khoán, thị trờng trái phiếu có những đặc
trng riêng biệt khác hẳn với các thị trờng khác vì hàng hoá giao dịch trên thị
trờng là các trái phiếu- một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về t bản.
Bản chất của thị trờng thể hiện mối quan hệ cung cầu của vốn đầu t, giá cả của
hàng hoá chứa đựng thông tin về chi phí vốn đầu t.
2.3. Phân loại thị tr ờng trái phiếu
2.3.1. Phân loại theo thị trờng
Thị trờng trái phiếu sơ cấp: Thị trờng trái phiếu sơ cấp là thị trờng mua
bán lần đầu các trái phiếu mới đợc phát hành của chủ thể phát hành. Thị
trờng sơ cấp còn đợc gọi là thị trờng phát hành hay thị trờng cấp một.
Khi có nhu cầu huy động vốn, Chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ
chức khác đợc phép phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật để
bán cho các tổ chức cá nhân đầu t trên thị trờng này. Việc phát hành trái
phiếu chính phủ cũng cần đáp ứng một số điều kiện nhất định nh chuẩn hoá
về mặt kỹ thuật phát hành để đảm bảo trái phiếu có thể niêm yết và giao
dịch trên Sở giao dịch chứng khoán một cách thuận lợi.
2.2.3. Phân loại theo thời hạn
Trái phiếu ngắn hạn: là loại trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trở xuống,
đợc gọ là tín phiếu
Trái phiếu trung hạn: là trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trở lên đến 10
năm
Trái phiếu dài hạn: là trái phiếu có kỳ hạn từ 10 năm trở lên
II. Hợp đồng mua lại trái phiếu
1.Khái niệm hợp đồng mua lại
Hợp đồng mua lại (Repurchase Agreements- REPOS) là một thoả thuận mua
bán chứng khoán giữa hai bên, bên bán chứng khoán gọi là ngời bán, bên mua
chứng khoán đợc gọi là ngời mua, ngời bán bán chứng khoán cho ngời mua và
sẽ mua lại số chứng khoán đó vào một ngày xác định trong tơng lai.
Các chứng khoán đợc sử dụng để giao dịch trong hợp đồng mua lại thờng là
các loại giấy tờ có giá có độ an toàn cao nh chứng chỉ Quỹ đầu t, chứng chỉ
tiền gửi, các trái phiếu chính phủ ...,đặc biệt là trái phiếu chính phủ, hầu hết
các giao dịch mua lại đợc tiến hành trên các trái phiếu chính phủ.
Mỗi hợp đồng mua lại đều bao gồm các thông tin cơ bản sau:
Tên các bên tham gia hợp đồng: các thông tin cần thiết về ngời mua và
ngời bán trái phiếu nh tên, địa chỉ, số tài khoản.... Ngời mua và ngời
bán trái phiếu có thể là các nhà đầu t tổ chức hoặc cá nhân, các trung
gian tài chính nh các ngân hàng, các công ty chứng khoán, các công ty
bảo hiểm....
Loại trái phiếu: trái phiếu đợc giao dịch trong hợp đồng mua lại đợc xác
định cụ thể ngay trong hợp đồng, đó thờng là các trái phiếu có độ tin
cậy cao nh trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc nhà nớc.
Giá mua: là giá trái phiếu đợc hai bên thoả thuận sao cho hợp lý nhất,
giá mua có thể thấp hơn hoặc cao hơn giá trị thực của trái phiếu tuỳ theo
các trái phiếu thờng có thời gian đáo hạn dài tức là phải sau một thời gian nhất
định nhà đầu t mới có thể thu hối đợc vốn về, mặt khác đi vay ở các ngân hàng
phải lúc nào cũng dễ dàng do các thủ tục vay vốn của ngân hàng rất phức tạp,
mất nhiều thời gian, khiến cho các nhà đầu t khó tận dụng đợc các cơ hội kinh
doanh tức thời. Họ nhanh chóng nhận thấy rằng trên thị trờng số lợng những
ngời tạm thời d thừa tiền là rất lớn, những ngời này có thể thoả thuận với nhau
để sử dụng nguồn t bản nhàn rỗi này mang lại cho các bên những lợi ích nhất
định, nhng để đảm bảo bên vay sẽ trả đầy đủ và đúng hạn cho mình, bên cho
vay yêu cầu bên đi vay thế chấp cho khoản vay bằng các trái phiếu, giá trị của
món vay đợc xác định dựa trên giá trị của trái phiếu thế chấp, tuy nhiên ngời
đi vay vẫn đợc hởng trái tức trong suốt thời gian vay, cũng giống nh việc vay
vốn thông thờng ngời đi vay phải trả lãi cho khoản vay, lãi suất đợc thoả thuận
giữa hai bên, và nh vậy hợp đồng mua lại trái phiếu đã ra đời. Nói cách khác,
hợp đồng mua lại trái phiếu ra đời dựa trên việc tận dụng sự chênh lệch về kỳ
hạn của vốn, trên thị trờng liên tục có những giao dịch diễn ra, giao dịch này
cha kết thúc đã có giao dịch kia, nhìn trong tổng thể thị trờng có những
khoảng thời gian trống hay thời gian chết của vốn nghĩa là vốn tạm thời nhàn
rỗi không đợc sử dụng và không sinh lời, các hợp đồng mua lại rất đa dạng về
kỳ hạn đã tận dụng đợc điều này đem lại cơ hội sinh lời cho các nhà đầu t.
Trên thế giới thị trờng mua lại trái phiếu lớn nh Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản đã
hình thành từ rất lâu. ở Mỹ, thị trờng này bắt đầu vào năm 1918, đến năm
1923 hợp đồng mua lại đợc sử dụng rộng rãi nh là một công cụ kiểm soát các
trái phiếu chính phủ, là phơng thức Cục dự trữ liên bang dùng để điều chỉnh
mức dự trữ ngân hàng. Thị trờng mua lại trái phiếu ở Châu Âu ra đời muộn
hơn, năm 1980, với hai thị trờng có quy mô lớn chỉ sau thị trờng Mỹ là Anh và
Pháp. Khoảng 10 năm sau thị trờng mua lại trái phiếu phát triển mạnh ở các
quốc gia bên bờ Thái Bình Dơng nh Nhật Bản, Singapore, Malaysia,úc ....Các
đồng tiền đợc sử dụng trên thị trờng mua lại trái phiếu bao gồm US $, EUR,
GBP, AUS, JPY, NZ $, S $ và Ringgit.
3. Các hình thức của hợp đồng mua lại trái phiếu
dịch thứ hai, ngời bán đồng ý sẽ mua lại trái phiếu của ngời mua vào một thời
điểm nào đó trong tơng lai. Giá giao dịch trong tơng lai (forward) của trái
phiếu này đợc định trớc. Mức giá đó chênh so với giá giao ngay vì đợc tính
gộp cả tiền lãi (lãi suất mua lại) sinh lời từ khoản tiền mang đi đầu t. Trong
tính toán giá giao dịch tơng lai có cả lãi suất của trái phiếu.
3.3. Hợp đồng cho vay chứng khoán
Một bên cho bên kia vay trái phiếu trong thời hạn mở hay trong thời hạn cố
định, đổi lại phía bên kia sẽ trao tài sản thế chấp (tiền mặt hay một loại chứng
khoán khác hoặc các hợp đồng th tín dụng) cho bên vay. Nếu tài sản thế chấp
là tiền mặt thì ngời cho vay trái phiếu sẽ phải trả tiền lãi cho ngời đi vay trái
phiếu, điều này tơng tự nh trờng hợp đảo ngợc vị trí đối tác trong hình thức
hợp đồng mua lại thứ nhất. Số tiền lãi này sẽ đợc ngời cho vay trái phiếu thanh
toán cho ngời đi vay sau khi trừ khoản phí cho vay trái phiếu mà ngời đi vay
phải trả cho ngời cho vay. Nhng nếu ngời đi vay trái phiếu sử dụng loại chứng
khoán khác hay hợp đồng th tín dụng làm tài sản thế chấp thì ngời đi vay phải
trả một khoản phí cho ngời cho vay. Khoản phí này đợc thoả thuận sau khi
xem xét tính toán cùng với nhiều yếu tố khác nh loại trái phiếu, mức cung và
cầu đối với loại trái phiếu này trên thị trờng, quy mô và thời hạn của khoản
vay cũng nh vị thế tín dụng của các bên...
3.4. Hợp đồng mua lại kèm các giao dịch hoán chuyển thu nhập
Một bên bán hàng bán thẳng trái phiếu cho ngời mua và thu tiền mặt về và
đồng thời hợp đồng hoán chuyển thu nhập đợc thực hiện giữa hai ngời bán và
ngời mua. Theo hợp đồng này, nếu giá trái phiếu đã bán tăng, ngời mua sẽ
thanh toán cho ngời bán, nếu giá trái phiếu giảm, ngời bán sẽ thanh toán cho
ngời mua, số tiền thanh toán đợc tính dựa trên chênh lệch giữa giá thoả thuận
trong hợp đồng và thị giá. Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng, ngời bán trái
phiếu vẫn tiếp tục đợc hởng toàn bộ thu nhập từ trái phiếu đã bán cho ngời
mua. Phần ngời mua, sẽ đợc hởng lãi suất tiền cho vay (lãi suất của số tiền
dùng để thanh toán hợp đồng hoán chuyển). Mức lãi suất này trong hợp đồng
hoán chuyển đợc tính theo lãi suất liên ngân hàng London (LIBOR) hoặc theo
Trái phiếu
Tiền mặt
Lãi suất
Tại thị trờng mua lại cùng lúc đó, nhà kinh doanh trái phiếu cũng đi vay trái
phiếu và cho nhà đầu t vay tiền. Những ngời kinh doanh đi vay trái phiếu
nhằm bảo hiểm cho nghiệp vụ bán khống của mình và có đợc số trái phiếu cần
thiết để giao cho khách hàng. Giao dịch này đợc gọi là hợp đồng mua lại đảo
chiều. Trong hợp đồng mua lại đảo chiều, Ngân hàng đầu t và phát triển mua
lại của nhà đầu t trái phiếu thế chấp và cho nhà đầu t vay tiền mặt với giá P2
trên mỗi trái phiếu
Trái phiếu mang ra thế chấp
Tiền mặt
Ngân hàng có thể thu lợi thông qua việc bán khống này là: P1- P2 +P1R, lợi
nhuận này có giá trị dơng khi giá trái phiếu giảm.
Khi hợp đồng mua lại đảo chiều này đáo hạn, Ngân hàng sẽ hoàn trả cho nhà
đầu t số trái phiếu đã thế chấp và nhà đầu t thì trả lại cho ngân hàng số tiền
mặt đã vay cùng với tiền lãi, mức lãi suất đợc ghi trong hợp đồng: R. Số tiền
nhà đầu t phải trả cho Ngân hàng là: P2(1+R)
Tiền mặt
Lãi suất
Nhà đầu t Ngân hàng đầu t và
phát triển
Nhà đầu t
Ngân hàng đầu t và
phát triển
Trái phiếu đã đem ra thế chấp
Cùng lúc đó, Ngân hàng lại tiếp tục thực hiện một hợp đồng mua lại trái phiếu
khác nhằm đảm bảo cho số trái phiếu đã đem ra thế chấp này.
Nh vậy bằng hợp các đồng mua lại trái phiếu, nhà kinh doanh trái phiếu có thể
thu lợi thông qua việc bán khống, còn các nhà đầu t có thể kiếm lời và tránh
hằng ngày nhằm đảm bảo sự an toàn tối đa cho các nhà đầu t .
Loại rủi ro thứ hai là rủi ro tài sản thế chấp. Do những biến động về giá trên
thị trờng của tài sản thế chấp liên quan đến số tiền mặt đem đầu t của ngời
kinh doanh, do đó một bên đối táctrong hợp đồng mua lại có thể gây cho bên
kia rủi ro về tín dụng. Ví dụ nếu giá thị trờng của tài sản đem thế đảm bảo
đang đợc nhà đầu t nắm giữ giảm giá so với số tiền mặt đã cho vay, mức độ rủi
ro nhà đầu t phải gánh chịu sẽ chính là số tiền chênh lệch giữa giá thị trờng
hiện tại của tài sản đem thế chấp mà nhà đầu t đang giữ và số tiền mặt đã đem
cho vay. Ngợc lại nếu giá thị trờng của tài sản thế chấp mà nhà đầu t đang nắm
giữ tăng so với số tiền mặt đem cho nhà kinh doanh vay thì nhà đầu t lại đợc
hởng sự đảm bảo bằng tài sản có giá trị vợt mức, phần hơn này là chênh lệch
giữa giá trị thị trờng hiện tại của tài sản đã đem thế chấp so với số tiền cho nhà
kinh doanh vay.
Để kiểm soát loại rủi ro này, những ngời tham gia hợp đồng mua lại thờng sử
dụng 2 cách là: Ký quỹ và giám sát giá trị thờng xuyên theo giá thị trờng.
Về cơ bản, ngời đi vay tiền (ngời kinh doanh) sẽ ký quỹ với nhà đầu t đã cho
vay tiền. Số ký quỹ này chính là tài sản đem thế chấp, thờng có giá trị lớn hơn
nhằm bảo vệ nhà đầu t trớc những biến động về giá trị của tài sản thế chấp trên
thị trờng. Mức ký quỹ phụ thuộc vào nhiều biến số nh mức độ tín nhiệm của
ngời đi vay tiền, tính thanh khoản của tài sản thế chấp, thời hạn và quy mô
giao dịch, phơng thức thanh toán.
Giá trị của tài sản thế chấp thờng đợc them định hàng ngày nhằm đảm bảo giá
trị của tài sản thế chấp bằng với giá trị của số tiền cho vay đều t (cộng thêm số
ký quỹ nếu có). Ví dụ nếu giá trị của trái phiếu đem thế chấp giảm thấp hơn
ngỡng đã thoả thuận, nhà đầu t thờng có quyền yêu cầu ngời kinh doanh bổ
sung thêm tài sản thế chấp để số tiền mặt đem cho vay đợc bảo đảm thích hợp.
Trái lại, nếu giá trị của trái phiếu quá ngỡng thoả thuận thì nhà kinh doanh trái
phiếu có quyền yêu cầu nhà đầu t hoàn lại một phần tài sản thế chấp. Làm nh
vậy số tiền đã vay cũng sẽ đợc đảm bảo hoàn toàn.
6. Lãi suất của hợp đồng mua lại trái phiếu
danh nghĩa là 105.430.000USD, lãi
suất coupon là 5.625%/năm, thời gian
đáo hạn là ngày 28/2/2003
Giá trị của tài sản thế chấp Đợc xác định bằng 96,75% giá trị của
tài sản này (tính cả lãi suất gộp)
Tổng giá trị tài sản thế chấp 102.003.525USD
Vào ngày đáo hạn 15/5/2000, hợp đồng đợc thanh lý nh sau:
Tiền lãi thu đợc khi đáo hạn hợp đồng mua lại là:
100 triệu USD
ì
5,42%
ì
30 ngày/ 360 ngày = 415.666,67 USD
Giá của hợp đồng mua lại là:
100 triệu USD + 415.666,67 USD = 100.415.666,67 USD
Vào lúc hợp đồng mua lại đáo hạn, nhà đầu t phải hoàn trả trái phiếu thế chấp
cho nhà kinh doanh. Đồng thời nhà kinh doanh trả lại nhà đầu t số tiền bằng trị
giá của hợp đồng mua lại ( tức là 100.415.666,67 USD)
III. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động mua
lại trái phiếu và sự phát triển của thị trờng
trái phiếu
Hợp đồng mua lại trái phiếu là sản phẩm của thị trờng chứng khoán trong điều
kiện kinh tế thị trờng, một thị trờng chứng khoán phát triển tất yếu dẫn đén sự
ra đời của hợp đồng mua lại. Thị trờng trái phiếu- một bộ phận của thị trờng
chứng khoán là một thị trờng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh
tế. Để đánh giá chính xác thì cần phải xem xét đến các nhân tố ảnh hởng đến
hợp đồng mua lại và sự phát triển của thị trờng trái phiếu.
Thứ nhất là sự ổn định môi trờng kinh tế vĩ mô. Các chỉ số kinh tế vĩ mô nh
tốc độ tăng trởng GDP, tỷ giá hối hoái, tỷ lệ lạm phát ...là những yếu tố mang
tính quyết định trong việc hoạch định những chiến lợc phát triển thị trờng tài