Chơng I: Cơ sở lý thuyết của thơng mại quốc tế và vai trò của xúc
tiến thơng mại đối với xuất khẩu hàng hoá trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế
I. Cơ sở lý thuyết của xuất khẩu hàng hoá trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế
1. Các lý thuyết chính về trao đổi thơng mại quốc tế
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Smith
Theo A.Smith: Lợi thế tuyệt đối đề cập tới số lợng của một loại sản phẩm
có thể đợc sản xuất ra, sử dụng cùng một nguồn lực ở hai nớc khác nhau. Một n-
ớc đợc coi là có lợi thế tuyệt đối so với nớc kia trong việc sản xuất hàng hoá A
khi cùng một nguồn lực có thể sản xuất đợc nhiều hơn sản phẩm A ở nớc thứ
nhất hơn nớc thứ hai.
A.Smith cũng cho rằng, nếu quốc gia chuyên môn hoá vào những ngành
sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối thì cho phép họ sản xuất sản phẩm với chi
phí hiệu quả hơn nớc khác.
Có thể xem xét ví dụ sau để thấy rõ điều này:
Lợng lúa gạo và vải vóc có thể đợc sản xuất với một đơn vị nguồn lực
ở Việt Nam và Hàn Quốc nh sau:
Bảng 1: Ví dụ về lợi thế tuyệt đối
Nớc Lúa gạo (tạ) Vải (mét)
Việt Nam 10 6
Hàn Quốc 5 10
Căn cứ số liệu ở trên đây thì Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về lúa gạo vì
cùng một đơn vị nguồn lực Việt Nam có thể sản xuất đợc 10 tạ lúa gạo trong khi
Hàn Quốc chỉ sản xuất đợc 5 tạ lúa gạo, vì thế Việt nam sẽ chuyên môn hoá sản
1
xuất lúa gạo để trao đổi thơng mại quốc tế. Giải thích tơng tự, Hàn Quốc có lợi
thế tuyệt đối về vải và nớc này nên chuyên môn hoá sản xuất vải để tham gia th-
ơng mại quốc tế.
Nhờ sự chuyên môn hoá, các nớc có thể gia tăng hiệu quả do: (1) ngời lao
động sẽ lành nghề hơn do họ lặp lại cùng một thao tác nhiều lần; (2) ngời lao
Nh vậy, một nớc A gọi là có lợi thế so sánh so với một nớc khác về một
mặt hàng nào đó khi việc sản xuất ra mặt hàng đó ở nớc A có chi phí cơ hội thấp
hơn.
Giả sử lợng lúa gạo và ti vi có thể đợc sản xuất với một đơn vị nguồn lực
ở Việt Nam và Nhật Bản nh sau:
Bảng 2: Ví dụ về lợi thế so sánh
Nớc Lúa gạo (tạ) Ti vi (cái)
Việt Nam 35 7
Nhật Bản 20 5
Chi phí cơ hội để sản xuất ra một ti vi ở Nhật là số đơn vị nguồn lực phải
hy sinh khi sản xuất 1 cái ti vi thay vì sản xuất 1 tạ gạo, nói cách khác chi phí cơ
hội của Nhật để sản xuất 1 cái ti vi trong trờng hợp này sẽ là 20/4=4 tạ gạo. Suy
luận tơng tự, chi phí cơ hội sản xuất một ti vi ở Việt Nam sẽ là 35/7=5 tạ gạo.
Nhật Bản có chi phí cơ hội để sản xuất ti vi nhỏ hơn Việt Nam, nên Nhật có lợi
thế so sánh về sản xuất ti vi. Ngợc lại, để sản xuất 1 tạ lúa gạo ở Việt Nam chỉ
cần hy sinh 7/35 = 0,2 cái ti vi, trong khi ở Nhật lại cần phải hy sinh 5/20 = 0,25
cái ti vi. Nh vậy Việt Nam có chi phí cơ hội để sản xuất 1 tấn lúa gạo thấp hơn
Nhật, do đó Việt Nam có lợi thế so sánh về sản xuất lúa gạo. Việt Nam sẽ
chuyên môn hóa sản xuất lúa gạo để xuất khẩu sang Nhật và nhập khẩu ti vi từ
Nhật. Khi đó cả 2 nớc đều có lợi trong thơng mại quốc tế.
3
1.3Lý thuyết của Hecksher Ohlin ( Lý thuyết H/O hay Mô hình H/O) về
mối quan hệ giữa các yếu tố sẵn có và chuyên môn hoá quốc tế
Lý thuyết về lợi thế so sánh của Ricardo vẫn cha giải thích đợc nguyên
nhân xuất hiện lợi thế so sánh, và vì sao các nớc khác nhau lại có chi phí cơ hội
khác nhau.
Để khắc phục hạn chế này, hai nhà kinh tế học Thuỵ Điển là Eli Hecksher
và B. Ohlin trong tác phẩm Thơng mại liên khu vực và quốc tế xuất bản năm
1993 đã phát triển lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo bằng việc xác định
nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự u đãi về các yếu tố sản xuất mà kinh tế
động. Nói cách khác , cơ sở của mậu dịch nảy sinh không phải vì có sự khác biệt
vốn có về công nghệ trong năng suất lao động đối với các sản phẩm khác nhau
giữa các nớc khác nhau, mà bởi vì các nớc sẵn có các yếu tố khác nhau.
Lý thuyết này đã giải thích hiện tợng thơng mại quốc tế là do trong một
nền kinh tế mở cửa, mỗi nớc đều hớng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất
cho phép sử dụng nhiều nhất các nhân tố sản xuất mà đối với nớc đó là thuận lợi
nhất (ví dụ nh tài nguyên thiên nhiên, lao động hay vốn...). Nói cách khác, theo
lý thuyết H/O, một số nớc có lợi thế so sánh hơn trong việc xuất khẩu một số
sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những mặt hàng đã đợc sử
dụng nhiều yếu tố sản xuất mà nớc đó có lợi thế hơn một số nớc khác. Chính sự
u đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này (gồm vốn, lao động, tài
nguyên, đất đai, khí hậu...) đã khiến một số nớc có chi phí cơ hội thấp hơn ( so
với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) khi sản xuất các sản phẩm hàng
hoá đó.
Lý thuyết H/O còn đa ra quy luật về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất mà
về sau đợc các nhà kinh tế học mở rộng và phát triển. Nội dung của quy luật này
là một nớc sẽ xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng yếu tố
5
rẻ và tơng đối sẵn có của nớc đó và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất
nó cần nhiều yếu tố đắt và tơng đối khan hiếm hơn ở nớc đó.
Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trớc thực tiễn phát triển phức tạp
của thơng mại quốc tế ngày nay, song quy luật này vẫn đang là quy luật chi
phối động thái phát triển của thơng mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn
quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là đối với các nớc cha
phát triển bởi vì những nớc này đa số là những nớc đông dân, thừa lao động nh-
ng nghèo vốn, do đó trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá đất nớc cần tập trung
xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng
hoá sử dụng nhiều vốn. Sự lựa chọn những hàng hoá xuất khẩu phù hợp với các
lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có nh vậy sẽ là điều kiện cần thiết
để các nớc cha phát triển, đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự
ngành công nghiệp trong nớc, trớc hết là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,
sau đó là các ngành công nghiệp khác nhằm sản xuất sản phẩm nội địa thay thế
các sản phẩm nhập khẩu. Ban đầu nên sản xuất các loại hàng tiêu dùng cơ bản
mà trớc đây phải nhập khẩu. Việc sản xuất này đợc coi là thay thế nhập khẩu lần
thứ nhất. Sau đó, khi vốn tích luỹ đợc gia tăng và công nghệ trong nớc đã đợc
nâng cao sẽ tiến hành sản xuất các sản phẩm có trình độ công nghệ cao. Nội
dung này đợc coi là thay thế nhập khẩu lần thứ hai.
Để thực thi chiến lợc này, điều kiện quan trọng nhất là phải có vai trò bảo
hộ của Chính phủ; và đòi hỏi thị trờng trong nớc phải đủ lớn để đảm bảo cho sự
phát triển của ngành hạn chế nhập khẩu. Trong thời gian đầu khi công nghiệp
trong nớc còn non trẻ, giá thành sản xuất thờng cao hơn so với thị trờng thế giới,
Chính phủ cần xây dựng hàng rào bảo vệ bằng hình thức thuế quan hoặc hạn
ngạch nhập khẩu. Cùng với các biện pháp này, các ngành công nghiệp non trẻ
7
phải vơn lên cạnh tranh đợc với hàng nhập khẩu trên thị trờng trong nớc và theo
đó sẽ giảm dần mức độ bảo hộ.
Chiến lợc này vì thế có tác dụng làm giảm mức độ trầm trọng trong thâm
hụt cán cân thanh toán và thơng mại quốc tế do giảm đợc lợng hàng hoá nhập
khẩu và xuất khẩu thuần đợc cải thiện. Nhờ có sự bảo hộ của Chính phủ, các
ngành công nghiệp non trẻ đợc nuôi dỡng (đó là các ngành có bộc lộ lợi thế
nhng cha đủ sức để cạnh tranh).
Mặc dù chiến lợc này có vẻ hấp dẫn về mặt lý thuyết, song lại cha mấy
thành công trong thực tế. Việc thay thế nhập khẩu thành công đòi hỏi phải quản
lý đợc hai sự chuyển đổi rất khó khăn. Thứ nhất là, tạo ra một cơ cấu kinh tế
năng động và hiệu quả một cách hợp lý đằng sau các hàng rào bảo hộ. Thứ hai
là, chuyển từ bảo hộ sang một môi trờng buôn bán cởi mở hơn. Kinh nghiệm
quốc tế cho thấy rằng việc đối phó với cả hai thách thức này đều rất khó. Những
sai lệch do sự bảo hộ gây ra thờng nghiêm trọng đến nỗi không thể đạt đợc sự
tăng trởng cao, bền vững ngay cả khi nền công nghiệp trong nớc đợc bảo vệ trớc
sự cạnh tranh quốc tế, và quá trình chuyển từ bảo hộ sang mậu dịch tự do thờng
chuyển sang chiến lợc hớng ngoại.
2.3 Chiến lợc hớng về xuất khẩu (EP- Export Promotion)
Chiến lợc hớng về xuất khẩu là chiến lợc hớng vào thị trờng quốc tế để
xuất khẩu sản phẩm, bao gồm cả xuất khẩu sản phẩm thô và sản phẩm công
nghệ. Sản xuất xuất khẩu là những sản phẩm đợc sản xuất dựa vào lợi thế so
sánh của đất nớc.
T tởng cốt lõi của chiến lợc hớng về xuất khẩu là lấy nhu cầu thị trờng thế
giới làm mục tiêu cho nền sản xuất trong nớc, là cải tạo và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế quốc gia sao cho thích ứng với những đòi hỏi của thị trờng quốc tế, là đặt
nền kinh tế quốc gia trong quan hệ cạnh tranh trên thị trờng quốc tế nhằm phát
9
huy lợi thế so sánh của quốc gia.Việc thực thi chiến lợc hớng về xuất khẩu đã
giúp cho các nớc đang phát triển đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá đất nớc.
Trớc hết, chiến lợc EP tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng
động. Sự phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tác động đến
các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào cho các ngành xuất khẩu tạo ra mối
liên hệ ngợc thúc đẩy sự phát triển của các ngành này.Bên cạnh đó, khi tích luỹ
của nền kinh tế đợc nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo ta mối liên hệ xuôi là
cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến và mối liên
hệ xuôi này tiếp tục đợc phát triển. Sự phát triển của tất cả các ngành này sẽ làm
tăng thu nhập của ngời lao động, tạo ra mối liên hệ gián tiếp cho sự phát triển
công nghiệp hàng tiêu dùng và dịch vụ.
Thứ hai, chiến lợc EP tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc ngày
càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Bởi vì chiến lợc
này làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào thị trờng thế giới nhiều hơn thị tr-
ờng trong nớc, do vậy các doanh nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh phải
dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Thời kỳ đầu có thể có sự trợ giúp của Nhà nớc,
song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định vị trí của mình. Mặt khác, thị
trờng quốc tế rộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu đợc hiệu quả
nhờ quy mô sản xuất lớn.
đổi thông tin giữa bên bán và bên mua, hoặc qua khâu trung gian nhằm tác động
tới thái độ và hành vi mua bán và qua đó thúc đẩy việc mua bán và trao đổi hàng
hoá, dịch vụ. Nh vậy theo định nghĩa này, XTTM là nhằm mở rộng và phát triển
thị trờng là chủ yếu.
Theo Luật Thơng mại Việt Nam do Quốc hội khoá IX nớc CHXHCN Việt
Nam thông qua ngày 10/5/1997 thì: XTTM là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc
đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thơng mại (điều 5, khoản 5);
11
Bộ Thơng mại là cơ quan quản lý Nhà nớc về tổ chức, hớng dẫn các hoạt động
xúc tiến thơng mại (điều 245).
1.1.2 Hoạt động XTTM
Các hoạt động cụ thể trong lĩnh vực XTTM bao gồm:
- Các hoạt động thông tin thơng mại và nghiên cứu thị trờng;
- Các hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, triển lãm và khuyến mại
hàng hoá và dịch vụ;
- Tổ chức và tham gia các đoàn khảo sát thị trờng nớc ngoài;
- Đón tiếp và tổ chức cho các đoàn thơng mại và thơng nhân nớc
ngoài vào khảo sát thị trờng nội địa;
- Đại diện thơng mại ở nớc ngoài.
Các hoạt động này có thể do doanh nghiệp tự tiến hành hoặc do các tổ
chức XTTM của Chính phủ, các tổ chức xã hội nghề nghiệp và các công ty kinh
doanh dịch vụ XTTM tiến hành để hỗ trợ doanh nghiệp, hội viên hoặc theo yêu
cầu của khách hàng. Các dịch vụ XTTM do các tổ chức hỗ trợ thơng mại cung
cấp có thể miễn phí hoặc phải trả tiền.
1.1.3 Xúc tiến xuất khẩu
Nhìn từ góc độ nghiệp vụ kinh doanh quốc tế, XTTM có thể là xúc tiến
xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu và phát triển thơng mại nội địa. Nh vậy, xúc tiến
xuất khẩu có phạm vi hẹp hơn và là các hoạt động nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp
thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra thị trờng nớc ngoài. Do đó trên thực
tế, các hoạt động XTTM (nhất là các hoạt động do Chính phủ và các tổ chức hỗ
13
- Các hoạt động thu hút đầu t nớc ngoài hớng về xuất khẩu, đặc biệt là
nhằm phát triển những mặt hàng xuất khẩu mới, có giá trị gia tăng cao;
- Các hoạt động xúc tiến nhập khẩu phục vụ xuất khẩu (ví dụ nh hỗ trợ
nhập công nghệ phù hợp và nguyên phụ liệu với giá cả cạnh tranh);
- Đào tạo và phát triển nguồn lực phục vụ phát triển thơng mại.
2. Vai trò của xúc tiến thơng mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế
2.1 XTTM là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế thị trờng
Trên thực tế không một doanh nghiệp nào không tiến hành các hoạt động
phát triển thơng mại nói chung và XTTM nói riêng dới hình thức này hay hình
thức khác và ở mức độ này hay mức độ khác. Để có thể tồn tại và phát triển
trong cơ chế cạnh tranh, doanh nghiệp luôn phải nghiên cứu phát triển sản phẩm
đáp ứng nhu cầu thay đổi ngày càng nhanh chóng của thị trờng cũng nh tiến
hành các hoạt động quảng cáo và khuyến mại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.
Trong bối cảnh tự do hoá thơng mại toàn cầu hiện nay, khi mà hàng hoá dịch vụ
đợc chào bán trên thị trờng rất dồi dào và phong phú và ngời mua là thợng đế
thì hàng hoá, dịch vụ dù có tốt, rẻ đến mấy mà ngời tiêu dùng không biết đến thì
cũng không thể bán đợc. Xuất phát từ những nhu cầu của doanh nghiệp, ở bất kỳ
nền kinh tế thị trờng nào cũng có các hiệp hội sản xuất và kinh doanh, các
phòng thơng mại và công nghiệp, các tổ chức và công ty dịch vụ thông tin,
nghiên cứu thị trờng, t vấn kinh doanh, t vấn pháp luật, quảng cáo, hội chợ triễn
lãm...để hỗ trợ và cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp trong các hoạt động
XTTM nói trên.
2.2 XTTM với việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá
- Thông qua các dịch vụ cung cấp thông tin thơng mại, cung cấp thông
tin về chính sách pháp luật, danh mục các mặt hàng cũng nh thuế xuất nhập
khẩu đối với các mặt hàng xuất nhập khẩu, các hành vi ứng xử thơng mại đối với
14
các sản phẩm mà nhà xuất khẩu xuất sang một thị trờng, các thông số về tiêu
xuất khẩu nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hoá xuất khẩu của mình trên thị tr-
ờng quốc tế là rất quan trọng vì sản phẩm của họ cha có tên tuổi, chỗ đứng trên
thị trờng thế giới. Đẩy mạnh hoạt động XTTM sẽ góp phần xây dựng đợc hình
ảnh về sản phẩm của nớc đó trên thị trờng thế giới, tăng cờng địa vị kinh tế của
quốc gia trên trờng quốc tế.
XTTM có mối quan hệ chặt chẽ với xúc tiến du lịch và xúc tiến đầu t.
Thông qua các hoạt động XTTM, các hợp đồng mua bán trao đổi sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ và công nghệ...sẽ đợc ký kết, làm gia tăng số lợng và chủng loại
hàng hoá xuất nhập khẩu, khuyến khích đầu t, tăng cờng giao lu hợp tác giữa
các quốc gia. Vì thế làm tốt công tác XTTM sẽ đẩy mạnh phát triển du lịch và
góp phần thu hút đầu t vào tăng trởng và phát triển kinh tế.
III. Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trên con đờng hội nhập
khu vực mậu dịch tự do ASEAN AFTA
1.Tổng quan về AFTA
Năm 1992, tại Hội nghị Thợng đỉnh lần thứ IV các nớc thành viên
ASEAN họp ở Singapore (27-28/1/1992), các nớc ASEAN đã ký kết Hiệp định
về Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), nhằm đẩy nhanh tiến trình hợp tác
kinh tế giữa các nớc ASEAN.
Việc hình thành AFTA là u tiên hàng đầu trong chơng trình hợp tác của
ASEAN trong thập kỷ 90. AFTA nhằm mục đích thiết lập một thị trờng khu vực
trong đó các loại thuế quan đối với 15 nhóm sản phẩm vốn cao từ khoảng 40%
đợc giảm đồng loạt ở tất cả các nớc xuống mức độ chỉ còn 0-5% vào năm 2003
(2006 cho Việt Nam, 2008 cho Lào, Myanma và 2010 cho Campuchia) và các
mối quan hệ mậu dịch sẽ không bị cản trở bởi các loại hàng rào phi quan thuế
16
(non-tariff barriers) nh các biện pháp cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu hoặc thủ
tục hải quan...
Trớc những thay đổi nhanh chóng và các xu thế phát triển mới của mậu
dịch tự do khác trên thế giới- WTO, sự hình thành các khu vực mậu dịch tự do
khác trên thế giới...sau nhiều lần nghiên cứu và thay đổi, các nớc ASEAN đã
- Danh mục sản phẩm cắt giảm thuế ngay (IL-Inclusion List):Gồm các
sản phẩm sẵn sàng cắt giảm thuế quan với lịch trình thống nhất và đợc phân bố
theo hai lộ trình: lộ trình cắt giảm bình thờng (normal track) và lộ trình cắt giảm
nhanh (fast track).
+ Lộ trình cắt giảm bình thờng đợc thực hiện nh sau: Đối với các
sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ đợc giảm xuống 20% vào thời
điểm1/1/1998 và tiếp tục giảm xuống 0-5% vào thời điểm 1/1/2000.
Đối với các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ đợc giảm
xuống mức 0-5% vào thời điểm 1/1/2000.
+Lộ trình cắt giảm nhanh thực hiện nh sau: Đối với các sản phẩm
có thuế suất trên 20% sẽ đợc giảm xuống 0-5% vào thời điểm 1/1/2000.
Đối với các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ đợc giảm
xuống mức 0-5% vào thời điểm 1/1/1998.
- Danh mục loại trừ tạm thời (TEL- Temporary Exclusion List): Các sản
phẩm trong danh mục loại trừ tạm thời cha giảm thuế và sẽ không đợc hởng nh-
ợng bộ từ các nớc thành viên. Tuy nhiên danh mục này chỉ có tính chất tạm thời
và sau một thời gian nhất định các quốc gia phải đa toàn bộ các sản phẩm này
vào danh mục giảm thuế.
Lịch trình chuyển các sản phẩm trong danh mục này danh mục cắt giảm
cần đợc thực hiện trong vòng 5 năm, từ 1/1/1996 đến 1/1/2000, mỗi năm chuyển
18
20% số sản phẩm trong danh mục TEL và giảm thuế xuống mức 0-5% vào năm
2003.
- Danh mục sản phẩm nông sản cha chế biến hay nhạy cảm (Sensitive):
Các quy định cụ thể về lịch trình giảm thuế quan cho các sản phẩm nhạy cảm
cho đến nay vẫn đang trong quá trình thoả thuận. Tuy nhiên đối với các sản
phẩm trong danh mục nhạy cảm, thời điểm bắt đầu thực hiện cắt giảm đã đợc
xác định là 1/1/2001 và kết thúc vào năm 2010 với mức thuế suất phải đạt là
0-5%. Đối với các sản phẩm trong danh mục nhạy cảm cao, thời hạn kết thúc đã
đựơc xác định là năm 2010, tuy nhiên sẽ có một số linh hoạt nhất định sẽ đợc áp
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào nhập khẩu từ
các nớc không phải là thành viên ASEAN là giá CIF tại thời điểm nhập khẩu.
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào không xác định đợc
xuất xứ là giá xác định ban đầu trớc khi đa vào chế biến trên lãnh thổ của nớc
xuất khẩu là thành viên của ASEAN.
Để xây dựng thành công khu mậu dịch tự do, Chơng trình CEPT còn đề
cập đến việc loại bỏ hạn chế về số lợng nhập khẩu và các hàng rào phi thuế
quan khác. Về vấn đề này, Hiệp định CEPT đã quy định:
- Các nớc thành viên sẽ xoá bỏ tất cả các hạn chế về số lợng đối với các
sản phẩm trong CEPT ngay khi sản phẩm đó đợc hởng thuế suất u đãi ở
mức 0-5%;
- Các hàng rào phi thuế quan khác sẽ đợc xoá bỏ dần dần trong vòng 5
năm sau khi sản phẩm đợc hởng u đãi;
- Trong trờng hợp khẩn cấp (số lợng hàng nhập khẩu gia tăng đột ngột
hay phơng hại đến sản xuất trong nớc hoặc đe doạ cán cân thanh toán),
các nớc có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa để hạn chế hoặc dừng
việc nhập khẩu.
4.Hợp tác trong lĩnh vực hải quan
Việc phối hợp các hoạt trong lĩnh vực hải quan là khâu khá quan trọng
trong tiến trình thực hiện CEPT/AFTA. Nội dung của hợp tác này bao gồm:
20
(1) Thực hiện thống nhất phơng pháp định giá tính thuế hải quan
giữa các nớc ASEAN;
(2) Thực hiện thống nhất các thủ tục hải quan,
(3) Xây dựng hệ thống hành lang xanh,
(4) Thực hiện áp dụng thống nhất danh mục biểu thuế quan.
5. Tiến trình thực hiện CEPT/AFTA của Việt Nam
Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nớc ASEAN từ ngày 28/7/1995 và bắt
đầu thực hiện chơng trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) từ
các mặt hàng có thuế suất trên 20% và một số mặt hàng có thuế suất thấp hơn
20% song cần đợc bảo hộ nh các loại xe máy, ôtô (trừ loại 16 chỗ ngồi đã nằm
trong doanh nghiệpah mục loại trừ hoàn toàn), các loại sắt thép, sản phẩm cơ khí
thông dụng, các loại mỹ phẩm và đồ dùng không thiết yếu...
Theo quy định của Hội đồng AFTA thì những mặt hàng nào đa vào chơng
trình cắt giảm thuế và đợc hởng thuế suất u đãi từ các thành viên khác thì đồng
thời phải loại bỏ hàng rào phi thuế quan trong vòng 5 năm sau đó. Do vậy mặt
hàng nào đợc đa vào danh mục tạm thời thì sẽ có thêm thời gian để bảo hộ thông
qua việc kéo dài thời gian thực hiện các biện pháp phi thuế quan.
Cũng theo quy định của CEPT thì các mặt hàng thuộc danh mục TEL này
cần phải đợc chuyển sang danh mục cắt giảm thuế (IL) trong vòng 5 năm, sao
cho đến thời hạn năm 2006 chúng cũng phải đạt mức thuế quan u đãi chung từ
0-5%
(c) Danh mục cắt giảm thuế: Danh mục này chủ yếu bao gồm các mặt
hàng hiện đang có thuế suất dới 20%, tức là các mặt hàng thuộc diện
có thể áp dụng u đãi ngay theo Hiệp định CEPT. Ngoài ra tròn danh
22
mục này còn bao gồm một số mặt hàng hiện có thuế suất cao nhng
Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu, do vậy việc đa các mặt hàng
này vào danh mục giảm thuế sẽ không gây ảnh hởng nhiều đến nguồn
thu ngân sách, ngợc lại nó sẽ kích thích đẩy mạnh xuất khẩu thông
qua việc đợc hởng thuế u đãi theo CEPT, khi hàng Việt Nam xuất qua
các nớc thành viên.
(d)Danh mục nông sản cha chế biến nhạy cảm: bao gồm các mặt hàng
nông sản cha chế biến có yêu cầu bảo hộ cao nh: các loại thịt, trứng, gia cầm,
động vật sống, thóc gạo lức, đờng, mía...các mặt hàng này hiện đang áp dụng
các biện pháp phi thuế quan nh quản lý theo hạn ngạch, quản lý Bộ chuyên
ngành...
(2) Thực hiện giảm thuế
Dựa theo sự phân loại danh mục hàng hoá nh trên, tiến trình cắt giảm thuế
khẩu u đãi CEPT thấp của các nớc ASEAN, giúp các doanh nghiệp Việt Nam
giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng cờng khả năng cạnh tranh về giá hàng
hoá, dịch vụ, tạo điều kiện thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá và phát triển sản xuất
nói chung.
- Tham gia AFTA/ASEAN Việt Nam sẽ thu hút thêm nhiều nhà đầu t nớc
ngoài không chỉ từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Đặc biệt, với sự phối hợp
các chơng trình hợp tác khác trong ASEAN nh hợp tác công nghiệp ASEAN-
AICO, hợp tác dịch vụ ASEAN...,các doanh nghiệp trong nớc của Việt Nam có
cơ hội tiếp cận với nguồn vốn và công nghệ sản xuất mới tiên tiến, góp phần
tăng cờng năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trờng trong nớc
và thế giới.
24
- Việt Nam tham gia AFTA là bớc tập dợt để chuẩn bị cho việc hội nhập
sâu, rộng hơn vào thị trờng quốc tế, đó là gia nhập tổ chức thơng mại thế giới
WTO.
- Trong khi hầu hết các thành viên ban đầu trừ Indonesia, đã mất lợi thế
so sánh trong các ngành công nghiệp tập trung lao động thì VIệt Nam lại đang
có lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ và thị trờng nội
địa khá lớn. Đơng nhiên khi khuynh hớng phát triển kinh tế của nhân loại, kể cả
các nớc thành viên ban đầu của ASEAN là hớng tới xây dựng phát triển nền
kinh tế triển nền kinh tế tri thức. Việc phát triển một nền công nghiệp dựa trên
tài nguyên và sức lao động không phải là mục tiêu mà Việt Nam cần hớng tới,
nhng sẽ là sai lầm khi bỏ qua những lợi thế so sánh của nớc mình để chỉ nghĩ tới
việc xây dựng kinh tế tri thức khi cha có đủ điều kiện cần thiết.
(2) Thách thức đặt ra
- Khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nớc còn yếu (về giá
cả, chất lợng, mẫu mã) do quy mô sản xuất còn nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, năng
suất lao động thấp, công tác quản lý kém hiệu quả.
- Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nông sản cha qua chế
biến, mà đây là những mặt hàng giảm thuế chậm, trong khi đó hàng công