nghiên cứu - trao đổi
18 - Tạp chí luật học
Một số vấn đề cơ bản về thỏa thuận
trọng tài trong thơng mại quốc tế
Trần Hữu Huỳnh *
rọng tài trong thơng mại quốc tế là
phơng thức giải quyết tranh chấp có
lịch sử phát triển lâu đời. Ngày nay,
trong nền kinh tế thế giới với hai đặc
điểm chủ yếu là toàn cầu hóa và tự do
hóa, trọng tài càng đợc giới kinh doanh
quốc tế thờng xuyên sử dụng. Họ tăng
cờng khai thác các u thế truyền thống
của phơng thức giải quyết tranh chấp
này đồng thời kết hợp với việc sử dụng
các phơng tiện hiện đại của kĩ thuật
thông tin điện tử để nâng cao hiệu quả
của nó. Pháp luật trọng tài của nhiều
quốc gia cũng đ thờng xuyên đợc sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn
giải quyết tranh chấp hiện nay và xu thế
phát triển của trọng tài trong tơng lai.
Nhiều vấn đề ngày hôm qua đang còn là
vấn đề tranh luận của giới học thuật thì
hôm nay đ trở thành các quy định cụ thể
trong pháp luật trọng tài của nhiều nớc.
Một số vấn đề khác tởng nh không có
phạt nh trong chế tài phạt hợp đồng. Có
ý kiến cho rằng nếu một bên không thực
hiện nghĩa vụ TTTT (nh chỉ định trọng
tài viên) thì TTTT coi nh vô hiệu và tòa
án có thẩm quyền thụ lí vụ kiện, kể cả
trong trờng hợp bên kia vẫn muốn giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài. ý kiến
này không phân biệt đợc sự khác nhau
giữa việc kí kết TTTT (tơng tự nh kí
hợp đồng) với việc không thực hiện nghĩa
vụ trọng tài (tơng tự nh việc không
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng). Sự vi phạm
nghĩa vụ hợp đồng không làm cho hợp
đồng vô hiệu cũng nh việc không thực
hiện nghĩa vụ trọng tài không làm cho
T
* Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 19
TTTT vô hiệu. Thay cho chế tài buộc
thực hiện, phạt hoặc bồi thờng thiệt hại
trong hợp đồng thông thờng là các quy
định của pháp luật bảo đảm cho TTTT
đợc thực hiện mà không phụ thuộc vào ý
chí của bên vi phạm. Yếu tố thỏa thuận
TTTT không thể coi là yếu tố riêng biệt,
độc lập với luật quốc tế hoặc luật quốc
gia mà ngợc lại, thỏa thuận này phải
đợc pháp luật quốc tế hoặc quốc gia
điều chỉnh. Luật nào điều chỉnh TTTT cụ
thể, điều này phụ thuộc vào ý chí của các
bên. Còn vì sao đ có TTTT mà vẫn cần
có pháp luật điều chỉnh thì điều này phụ
thuộc vào mối quan hệ giữa quyền tự do
của các chủ thể với chính sách công cũng
nh về điều kiện và khả năng cụ thể của
mỗi quốc gia trong việc hỗ trợ và kiểm
soát hoạt động trọng tài. Bài viết này chủ
yếu bàn về TTTT trong mối quan hệ giữa
quyền tự do thỏa thuận của các bên với
các quy định chung của pháp luật nhằm
góp phần làm rõ thêm ý nghĩa của chế
định đang rất cần thiết cho kinh doanh và
pháp luật kinh doanh trong điều kiện hội
nhập và mở cửa hiện nay.
TTTT tồn tại dới hai dạng đó là điều
khoản trọng tài và TTTT riêng biệt. Điều
khoản trọng tài (ĐKTT) trong hợp đồng
là thỏa thuận giữa các bên hợp đồng chọn
trọng tài để giải quyết tranh chấp có thể
xảy ra trong tơng lai. Điều khoản này
thờng nằm ở phần cuối của hợp đồng,
không phải do nó không quan trọng bằng
các điều khoản khác mà có lẽ là do trình
tự đàm phán, sau khi các bên đ thỏa
có thể thấy trong cuốn Luật và thực tiễn
trọng tài thơng mại quốc tế
(1)
của các
tác giả Alan Redfern, Martin Hunter. Tuy
nhiên, đàm phán cho TTTT riêng biệt khi
giữa hai bên đ có tranh chấp xảy ra
thờng phức tạp hơn rất nhiều nếu so với
đàm phán về ĐKTT trong hợp đồng.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Việt
Nam cho thấy bên vi phạm nghĩa vụ
thờng lảng tránh vấn đề này hoặc cố
tình kéo dài thời gian đàm phán để chiếm
dụng vốn hoặc làm mất thời hiệu khởi
kiện và kết quả là nguyên đơn buộc phải
đa bị đơn ra tòa trong trờng hợp hai
bên không đạt đợc phơng thức giải
quyết bằng trọng tài mặc dù nguyên đơn
không muốn nh vậy. Pháp luật trọng tài
của một số quốc gia, nhất là một số nớc
Mỹ Latin hoặc vùng Trung Đông đ
không thừa nhận tính đơng nhiên của
TTTT áp dụng cho các tranh chấp tơng
lai mà quy định phải có một số điều kiện
bổ sung. Tuy nhiên, trong các công ớc
quốc tế về trọng tài hoặc có liên quan đến
trọng tài đ không có sự phân biệt giữa
TTTT cho các tranh chấp hiện tại và
TTTT cho các tranh chấp tơng lai. Ví
dụ: Công ớc của Liên hợp quốc về công
kia không từ chối. Sự dẫn chiếu trong một
hợp đồng đến một văn kiện chứa đựng
một điều khoản trọng tài hình thành thỏa
thuận trọng tài với điều kiện hợp đồng
này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là
một bộ phận của hợp đồng này". Điều 4
Công ớc New York 1958 quy định hồ sơ
yêu cầu công nhận và thi hành phán
quyết trọng tài nớc ngoài phải có bản
TTTT gốc hoặc bản sao thỏa thuận đó có
chứng nhận hợp lệ mà thiếu nó, tòa án sẽ
từ chối công nhận và thi hành phán quyết
trọng tài. Theo khoản 2 Điều 2 Công ớc
New York thì văn bản TTTT bao gồm
ĐKTT trong hợp đồng hoặc TTTT đợc
các bên kí kết hoặc đợc ghi trong các
th tín trao đổi.
Một trong những nội dung cơ bản của
TTTT là các bên phải thỏa thuận đa nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 21
tranh chấp ra trọng tài giải quyết. Nhng
không phải bất kì tranh chấp nào cũng
đợc phép giải quyết bằng trọng tài hay
nói cách khác, kể cả khi các bên thỏa
thuận chọn trọng tài trên cơ sở hoàn toàn
tự nguyện để giải quyết các tranh chấp
Luật trọng tài của Brazil ngày 23 tháng 9
năm 1996 quy định: "Những ngời có
khả năng kí kết hợp đồng có thể đa ra
trọng tài để giải quyết các tranh chấp
liên quan đến các quyền về tài sản mà họ
có quyền quyết định". Theo quy định này
thì các tranh chấp đủ hai điều kiện (thứ
nhất, phát sinh từ các quan hệ liên quan
đến quyền tài sản; thứ hai, chủ thể là
những ngời có khả năng kí kết hợp
đồng) đều đợc giải quyết bằng trọng tài.
Thứ ba, pháp luật trọng tài của một số
nớc quy định vấn đề này bằng cách kết
hợp các nguyên tắc trên, nghĩa là xác
định trọng tài bằng các quy định cho
phép lẫn quy định loại trừ. Ví dụ: Luật
trọng tài của Trung Quốc quy định mọi
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc
quyền sở hữu giữa các công dân, pháp
nhân hoặc các tổ chức khác trên cơ sở
bình đẳng có thể đợc giải quyết bằng
trọng tài (Điều 2) đồng thời loại trừ các
tranh chấp không đợc giải quyết bằng
trọng tài gồm các tranh chấp liên quan
đến hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ và
thừa kế, tranh chấp hành chính (Điều 3).
Vấn đề xác định các loại tranh chấp
nào có thể (hoặc không thể) giải quyết
đợc bằng trọng tài có ý nghĩa rất quan
trọng đối với các bên trong thực tiễn.
ngời có khả năng kí kết hợp đồng có thể
đa ra trọng tài để giải quyết các tranh
chấp liên quan đến các quyền về tài sản
mà họ quyết định". Năng lực chủ thể kí
kết hợp đồng đợc pháp luật quy định
khác nhau. Nếu là cá nhân thì phụ thuộc
vào quốc tịch hoặc nơi cá nhân này
thờng trú. Nếu là doanh nghiệp thì phụ
thuộc vào nơi thành lập hoặc nơi tiến
hành hoạt động kinh doanh. Vì không đủ
năng lực chủ thể để kí TTTT, phán quyết
trọng tài có thể bị từ chối công nhận và
thi hành theo quy định tại mục a khoản 1
Điều V Công ớc New York 1958. Tuy
nhiên, theo quy định này thì năng lực chủ
thể của các bên đợc quy định bởi luật áp
dụng mà không phụ thuộc vào luật quốc
tịch và thực tế cho thấy có thể có xung
đột luật trong trờng hợp luật quốc tịch
mâu thuẫn với luật điều chỉnh TTTT.
Vấn đề mới đây đang là đề tài tranh
luận khá gay gắt trong giới trọng tài học
quốc tế và hiện nay đang đợc thảo luận
khá sôi nổi trong quá trình soạn thảo
Pháp lệnh trọng tài tại Việt Nam, đó là
mối quan hệ giữa ĐKTT với hợp đồng
chính (hợp đồng có chứa ĐKTT). Quan
điểm chung của giới trọng tài học quốc tế
mà hiện nay đ đợc cụ thể hóa thành các
quy định trong pháp luật trọng tài của
TTTT này là vô hiệu hoặc không thể tiến
hành đợc. Trong trờng hợp giữa các
bên đ có TTTT thì tòa án không thể xem
xét vấn đề hiệu lực của hợp đồng trớc
khi xem xét sự vô hiệu hoặc không thể
thực hiện đợc của TTTT căn cứ theo các
quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong
một số trờng hợp, sự vô hiệu của hợp
đồng chính sẽ làm cho ĐKTT cũng trở
nên vô hiệu, nhất là trong trờng hợp
nguyên nhân làm cho hợp đồng chính vô
hiệu trùng hợp với nguyên nhân làm cho
ĐKTT vô hiệu. Ví dụ, trờng hợp chủ thể
kí kết hợp đồng không đủ năng lực hành
vi dân sự để kí kết hợp đồng và do vậy nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 23
cũng sẽ không đủ năng lực hành vi kí kết
ĐKTT.
Liên quan tới quan điểm cho rằng
ĐKTT độc lập với hợp đồng chính là
quan điểm về thẩm quyền của thẩm
quyền. Theo quan điểm này thì chính ủy
ban trọng tài do các bên thành lập mới có
thẩm quyền xem xét thẩm quyền của
chính mình. Quy định tính độc lập của
ĐKTT với hợp đồng chính là để cho ủy
quyền của chính mình không có nghĩa là
không có cơ chế giám sát từ phía nhà
nớc. Nhà nớc giám sát thông qua quy
định cho phép các bên khiếu nại đa vấn
đề này ra trớc tòa án quốc gia để kiểm
tra về thẩm quyền trọng tài nh phân tích
trên đây. Ngoài ra, nguy cơ tái kiểm tra
vẫn có thể xảy ra khi bị đơn cho rằng ủy
ban trọng tài không có thẩm quyền để
không chịu thi hành phán quyết và tòa án
có thẩm quyền, nơi phán quyết đợc yêu
cầu công nhận và thi hành, lại một lần
nữa sẽ xem xét vấn đề này theo yêu cầu
của bị đơn nh quy định tại khoản 1 Điều
5 Công ớc New York 1958.
Vấn đề vô hiệu của TTTT đ đợc
bàn trên đây. Tuy nhiên, TTTT có thể
không vô hiệu nhng lại không thể thực
hiện đợc hoặc không có khả năng thực
hiện (theo nh thuật ngữ đợc dùng tại
Công ớc New York 1958 là "inoperative
or incapable of being performed"). Cho
đến nay, vẫn cha có một cách giải thích
chính thức và có hệ thống về các thuật
ngữ này. Khoản 3 Điều 2 Công ớc New
York 1958 quy định: "Tòa án của một
quốc gia thành viên, khi nhận đợc đơn
kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó,
các bên đ có thỏa thuận theo nội dung
của điều này, sẽ theo yêu cầu của một
hoặc bằng trọng tài". Với điều khoản nh
vậy cho thấy giữa các bên cha có thỏa
thuận thực sự bởi lẽ đ chọn tòa án thì thôi
chọn trọng tài hoặc ngợc lại. Với điều
khoản nh vậy, khi có tranh chấp xảy ra,
một bên đa tranh chấp ra tòa án trong khi
bên kia lại đa tranh chấp ra trọng tài, dẫn
đến sự xung đột thẩm quyền.
Thứ hai, tuy hai bên đ chọn trọng tài
để giải quyết tranh chấp nhng ĐKTT lại
quá đơn giản. Ví dụ: "Tranh chấp sẽ đợc
hai bên giải quyết bằng trọng tài". Vấn đề
cha đợc làm rõ ở đây là trọng tài nào,
trọng tài vụ việc (ad-hoc) hay trọng tài
thờng trực? Nếu trọng tài vụ việc thì quy
tắc tố tụng áp dụng cho trọng tài này là
quy tắc nào? Nếu là tổ chức trọng tài
thờng trực thì đó là tổ chức nào? Để
ĐKTT này đợc thực hiện, hai bên lại
phải tiếp tục đàm phán và khi tranh chấp
đ xảy ra, việc đàm phán đó sẽ không dễ
dàng chút nào.
Thứ ba, hai bên tuy đ thỏa thuận
chọn tổ chức trọng tài thờng trực nhng
lại không chọn quy tắc tố tụng của tổ
chức này mà lại chọn quy tắc tố tụng của
tổ chức trọng tài khác. Trong thực tế,
điều này gây khó khăn cho việc thực hiện
TTTT, nhất là khi các quy tắc tố tụng này
lại không tơng đồng với nhau. Ví dụ:
khuyết tật. Vấn đề khó khăn nhất ở đây là
do pháp luật trọng tài cha hoàn chỉnh
nên cách giải quyết không thống nhất,
kéo dài, làm tốn kém thời gian và tiền bạc
của các bên tranh chấp. Hiện nay, do
cha có luật hoặc pháp lệnh về trọng tài
nên việc giải quyết ĐKTT khuyết tật còn
phụ thuộc nhiều vào quan niệm chủ quan nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 25
của các thẩm phán. Khoản 5 Điều 32
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế quy định tòa án từ chối thụ lí vụ
kiện nếu trớc đó, các bên đ thỏa thuận
vụ việc đợc giải quyết bằng trọng tài.
Căn cứ vào quy định không đầy đủ nh
vậy, một số tòa án địa phơng đ từ chối
một số vụ kiện với lí do các vụ này đ
đợc các bên thỏa thuận trớc là giải
quyết bằng trọng tài mặc dù các thỏa
thuận này hoặc không rõ ràng hoặc mâu
thuẫn hoặc không thể thực hiện đợc.
Trong một số trờng hợp khác, thay vì
tòa án phải quyết định là ĐKTT này hoặc
bị vô hiệu hoặc không thể thực hiện đợc
để thụ lí vụ kiện thì tòa lại yêu cầu các
bên hỏi ý kiến của các tổ chức trọng tài
tất cả các bên đều có thiện chí giải quyết
tranh chấp một cách trung thực và hợp
tác. Trong trờng hợp ngợc lại, nếu một
bên thiếu thiện chí thì pháp luật, thông
qua tổ chức có thẩm quyền là tòa án, phải
có các biện pháp hữu hiệu để buộc bên vi
phạm phải thực hiện nghĩa vụ trọng tài.
Việc xây dựng Pháp lệnh trọng tài phải
thể hiện đợc yêu cầu này nếu không
trọng tài chỉ là giải pháp nửa vời, thiếu
hiệu quả, không phát huy đợc lợi thế
truyền thống vốn có của nó. Các quy định
trong Dự thảo Pháp lệnh trọng tài đang
đợc soạn thảo ở Việt Nam phải phù hợp
với điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện
nay, có tính đến sự phát triển của phơng
thức này trong tơng lai đồng thời phải
tơng thích với thông lệ và tập quán trọng
tài quốc tế. TTTT - chế định trung tâm
trong Pháp lệnh trọng tài cũng phải đáp
ứng đợc các yêu cầu này. Có nh vậy,
trọng tài mới thực sự hấp dẫn các doanh
nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nớc
ngoài có quan hệ kinh tế với Việt Nam,
làm tăng thêm sự hấp dẫn của môi trờng
kinh doanh và đầu t tại Việt Nam./.
(1). Xem: Alan Redfern, Martin Hunter "Luật và thực
tiễn trọng tài thơng mại quốc tế", Nxb. Sweet &
Maxwell, 1991.