nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 41
Bàn về tính chất của phúc thẩm
ThS. Phan thanh mai *
húc thẩm là giai đoạn quan trọng
trong tố tụng hình sự. ở giai đoạn
này, tòa án xét xử lại những vụ án mà bản
án hoặc quyết định sơ thẩm cha có hiệu
lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng
nghị, thông qua đó nhằm kịp thời phát
hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu
sót của tòa án cấp dới cả về nội dung
cũng nh về hình thức tố tụng; đảm bảo
sự công bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ích
của Nhà nớc, tổ chức x hội, quyền và
lợi ích hợp pháp của bị cáo và những
ngời tham gia tố tụng khác.
Một trong những vấn đề cần đợc
quan tâm đầu tiên khi nghiên cứu về thủ
tục phúc thẩm đó là tính chất của phúc
thẩm. Tính chất của phúc thẩm sẽ quyết
định đến những vấn đề khác của phúc
thẩm nh phạm vi xét xử phúc thẩm,
những quy định chung về thủ tục tại
phiên tòa phúc thẩm, trình tự phiên tòa
phúc thẩm cũng nh quyền hạn của tòa
án cấp phúc thẩm Mặt khác, tính chất
chức tòa án nhân dân năm 1960 đ quy
định nguyên tắc hai cấp xét xử và nguyên
tắc này trở thành nguyên tắc luật định.
Năm 1974, Tòa án nhân dân tối cao xây
dựng bản hớng dẫn về trình tự tố tụng
phúc thẩm về hình sự (kèm theo Thông t
số 19/TATC ngày 2/10/1974) quy định rõ
chức năng của tòa án cấp phúc thẩm là
"xét xử lại những vụ án đ đợc xét xử
theo trình tự sơ thẩm, khi bản án cha có
hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hay
kháng nghị"
(3)
.
P
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
42 - Tạp chí luật học
Sau khi ban hành BLTTHS 1988, về
cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của tòa án
cấp phúc thẩm vẫn đợc duy trì nh trớc
đây. Tuy vậy, Điều 204 BLTTHS lại quy
định về tính chất của phúc thẩm nh sau:
"Phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực
tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định
thẩm, trong đó, quyền kháng cáo là nét
đặc trng của phúc thẩm. Sau khi xét xử
sơ thẩm, bản án, quyết định của tòa án
cha có hiệu lực pháp luật ngay, bị cáo và
những ngời tham gia tố tụng còn có
quyền đợc yêu cầu xét xử lại một lần
nữa ở tòa án cấp trên trực tiếp. Nếu nh
căn cứ để tiến hành xét xử sơ thẩm là
quyết định truy tố của viện kiểm sát, căn
cứ để tiến hành giám đốc thẩm, tái thẩm
là kháng nghị của những ngời tiến hành
tố tụng có thẩm quyền là những căn cứ
mang tính quyền lực nhà nớc thì trình tự
phúc thẩm có thể đợc phát sinh bởi
kháng cáo của bị cáo và những ngời
tham gia tố tụng khác theo quy định của
pháp luật.
Quyền kháng cáo đợc thể hiện qua
việc bị cáo và ngời tham gia tố tụng
khác đợc quyền kháng cáo đối với bất kì
bản án sơ thẩm nào, trừ trờng hợp xét xử
sơ thẩm đồng thời chung thẩm tại Tòa
hình sự Tòa án nhân dân tối cao và Tòa
án quân sự trung ơng. Quy định này cần
phải đợc sửa đổi, Nghị quyết hội nghị
lần thứ III Ban chấp hành trung ơng
Đảng khóa VIII đ nêu rõ: "Thực hiện
nguyên tắc hai cấp xét xử, bỏ thủ tục xét
xử sơ chung thẩm của Tòa án nhân dân
tối cao, Tòa án quân sự trung ơng",
còn thể hiện qua nghĩa vụ của tòa án
trong việc giải quyết kháng cáo của họ.
Trong trờng hợp kháng cáo hợp lệ về
hình thức, tòa án cấp phúc thẩm phải mở
phiên tòa để giải quyết, việc chấp nhận
hay bác bỏ kháng cáo về nội dung phải
đợc xem xét, giải quyết tại phiên tòa.
Nếu không chấp nhận kháng cáo, tòa án
cấp phúc thẩm cũng phải nói rõ lí do của
việc không chấp nhận.
Tòa án cấp phúc thẩm không đợc
làm xấu đi tình trạng của bị cáo nếu
không có kháng nghị của viện kiểm sát
hoặc kháng cáo của ngời bị hại theo
hớng bất lợi cho bị cáo. Quy định này
đảm bảo cho bị cáo yên tâm thực hiện
quyền kháng cáo mà không lo sợ điều đó
có thể gây hậu quả bất lợi cho mình.
Thực tế cho thấy, hầu hết các vụ án phải
xử phúc thẩm phát sinh từ kháng cáo của
bị cáo và những ngời có quyền kháng
cáo khác, số vụ án bị viện kiểm sát kháng
nghị phúc thẩm chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ. Ta
có thể xem xét vấn đề trên một cách cụ
thể hơn qua bảng thống kê theo số liệu
của TANDTC từ năm 1993 đến năm
1997 sau đây:
Năm
Tổng số vụ án sơ
719
3.296
5,8
6,8
6,1
6,0
6,1
6,2
1.035
1.050
1.199
1.232
1.244
5.750
6,7
7,0
6,7
6,5
6,8
6,72. Nhiệm vụ của tòa án cấp phúc thẩm
là kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ
của bản án, quyết định sơ thẩm đồng thời
xét xử lại về mặt nội dung tính hợp pháp
của bản án thể hiện ở chỗ không những
nó phải phù hợp với pháp luật hình sự,
và tính có căn cứ của những bản án hoặc
quyết định của tòa án đ có hiệu lực pháp
luật mà không xét xử lại về nội dung.
Trong trờng hợp tòa án cấp giám đốc
thẩm sửa án theo hớng giảm nhẹ, có
quan điểm cho rằng đó là xét xử lại. Theo
chúng tôi, trong trờng hợp này, tòa án
cấp giám đốc thẩm chỉ xem xét trên cơ sở
hồ sơ, tài liệu nếu thấy có sai lầm nghiêm
trọng trong việc áp dụng các điều khoản
của BLHS thì sửa lại cho đúng (chỉ trong
trờng hợp có thể sửa theo hớng giảm
nhẹ). Thực chất, đó cũng chỉ là xem xét
lại vụ án về mặt áp dụng luật chứ không
phải là xét xử lại về nội dung của vụ án.
3. Về phạm vi xét xử phúc thẩm, căn
cứ vào nội dung kháng cáo, kháng nghị,
"Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung
kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần
thiết có thể xem xét các phần khác không
bị kháng cáo, kháng nghị của bản án"
(Điều 214 BLTTHS). Theo quy định này,
việc xem xét trong phạm vi kháng cáo,
kháng nghị là trách nhiệm còn việc xem
xét ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị
là quyền của tòa án cấp phúc thẩm. Đây
cũng là điểm khác biệt của phúc thẩm so
với các thủ tục khác của tòa án. Khi xét
xử sơ thẩm, tòa án không đợc xét xử
ngoài phạm vi quyết định truy tố của viện
thẩm hoặc tái thẩm không phải là phiên
tòa xét xử công khai, theo nguyên tắc xét
xử trực tiếp, bằng lời nói. Việc triệu tập
ngời bị kết án và những ngời khác
không phải là bắt buộc và nếu có đợc
triệu tập họ cũng không có các quyền và
nghĩa vụ tố tụng nh tại phiên tòa sơ
thẩm và phúc thẩm. Điều 251 BLTTHS
quy định: "Trong phiên tòa, một thành nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 45
viên của hội đồng giám đốc thẩm trình
bày tóm tắt nội dung vụ án, nội dung của
kháng nghị và đại diện viện kiểm sát phát
biểu ý kiến. Nếu đ triệu tập ngời bị kết
án, ngời bào chữa, ngời có quyền và lợi
ích liên quan đến việc kháng nghị thì
những ngời này đợc trình bày ý kiến
trớc khi đại diện viện kiểm sát phát
biểu. Trong trờng hợp họ vắng mặt thì
hội đồng giám đốc thẩm vẫn có thể tiến
hành xét xử".
5. Tòa án cấp giám đốc thẩm và tái
thẩm xét lại bản án, quyết định đ có hiệu
lực pháp luật trên cơ sở chứng cứ, tài liệu
có trong hồ sơ vụ án nên vấn đề bổ sung,
xem xét chứng cứ mới không đợc đặt ra.
thẩm cha có hiệu lực pháp luật bị kháng
cáo hoặc kháng nghị mà không phải là
"xét lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm
cha có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo
hoặc kháng nghị" nh quy định tại Điều
204 BLTTHS. Để đảm bảo tính thống
nhất giữa tính chất của phúc thẩm với
những quy định khác về phúc thẩm, đảm
bảo nguyên tắc hai cấp xét xử, theo chúng
tôi cần sửa đổi điều luật quy định về tính
chất của phúc thẩm. Điều 204 BLTTHS
về tính chất của phúc thẩm nên đợc quy
định nh sau:
"Phúc thẩm là việc tòa án cấp trên
trực tiếp xét xử lại những vụ án mà một
phần hay toàn bộ bản án hoặc quyết định
sơ thẩm cha có hiệu lực pháp luật bị
kháng cáo hoặc kháng nghị"./.
(1).Xem: Từ điển tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học-
Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học năm 1998.
(2).Xem: Tập luật lệ về t pháp - Bộ t pháp, 1957.
(3).Xem: Tập hệ thống hóa luật lệ về TTHS-
TANDTC, 1976.
(4).Xem: Bản hớng dẫn trình tự tố tụng phúc thẩm
về hình sự (kèm theo Thông t số 19/TATC ngày
2/10/1974).