Báo cáo " Những vấn đề pháp lý về thương mại điện tử ở Việt Nam" doc - Pdf 12


Tạp chí luật học
-

25 ThS. Bùi Thị Bích Liên *
Ngày nay, điện tử và công nghệ tin học đ và
đang thâm nhập sâu và hỗ trợ mạnh mẽ cho
quá trình toàn cầu hóa. Trong lĩnh vực thơng
mại, việc sử dụng các công cụ điện tử và tin
học cho các giao dịch đ làm nảy sinh lĩnh vực
mới mẻ, đó là thơng mại điện tử. Tuy mới ra
đời không lâu nhng sự phát triển của thơng
mại điện tử rất mạnh mẽ và tiềm năng của nó
là vô cùng to lớn. Nhng thơng mại điện tử
cũng làm nảy sinh những thách thức và những
vấn đề phức tạp đối với các nền kinh tế trên thế
giới, kể cả các nền kinh tế đ phát triển, trong
đó có những thách thức về mặt pháp lí.
1. Thơng mại điện tử là gì?
Hiện nay, trên thế giới tồn tại nhiều định
nghĩa khác nhau về thơng mại điện tử.
Theo nghĩa hẹp, thơng mại điện tử chỉ
đợc hiểu là việc sử dụng Internet trong các
giao dịch thơng mại quốc tế. Đó là các định
nghĩa của Tổ chức thơng mại thế giới (WTO)

thách thức còn lớn hơn đối với các nớc khác.
So với các nớc khác trong khu vực và trên thế
giới, cơ sở hạ tầng kĩ thuật thông tin viễn
thông của Việt Nam kém hơn. Hơn nữa, công
cụ quan trọng hỗ trợ cho sự phát triển của
thơng mại điện tử là hệ thống thanh toán điện
tử lại cha phát triển ở Việt Nam. Về phơng
diện pháp luật, chúng ta hầu nh cha có các
quy định về thơng mại điện tử và ngay cả các
quy định về thơng mại truyền thống cũng vẫn
còn nhiều chỗ thiếu, sơ hở, bất cập.
Tuy nhiên, Việt Nam đ xác định ứng
dụng thơng mại điện tử là tất yếu trong quá
trình hội nhập để không những đẩy nhanh sự
phát triển thơng mại của đất nớc mà còn có
thể tận dụng đợc những u thế vốn có của
nớc nhà trong quá trình phát triển đó. Gần
đây, chúng ta đ kí kết hiệp định về xây dựng
không gian điện tử khu vực (E-ASEAN) với
các nớc thành viên ASEAN. Hiệp định này là
cam kết quan trọng trong quá trình hội nhập
vào khu vực. Ngoài ra, trong tháng 5/2000,
Chính phủ Việt Nam cũng đ ban hành Nghị
quyết số 07/2000/NQ-CP về phát triển công
nghệ phần mềm máy tính với mục tiêu tận
dụng triệt để những u thế của Việt Nam cho
sự phát triển kinh tế của đất nớc nói chung,
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội


lí cho thơng mại điện tử
(4)
.
3. Những thách thức về pháp lí đối với
thơng mại điện tử ở Việt Nam
Các giao dịch thơng mại điện tử diễn ra
trên phạm vi toàn cầu và với tốc độ rất nhanh
chóng. Vì vậy, bất kì sự cố nào cũng có thể
dẫn tới những hậu quả tức thời và to lớn. Chính
vì lí do đó mà để phát triển thơng mại điện
tử, bất kì quốc gia nào cũng quan tâm trớc hết
tới việc xây dựng khung pháp luật. Đối với
Việt Nam, việc xây dựng khung pháp luật cho
thơng mại điện tử lại càng khó khăn vì những
lí do sau đây:
Trớc hết, hệ thống pháp luật của Việt
Nam còn cha ổn định, thiếu chặt chẽ và hiệu
lực thi hành cha cao. Ví dụ, Bộ luật dân sự và
một số văn bản khác đ có những quy định khá
chi tiết về bảo vệ quyền tác giả. Tuy nhiên,
trong lĩnh vực này vẫn còn có những vi phạm.
Thứ hai, chính sách và pháp luật tạo điều
kiện cho sự phát triển Internet ở Việt Nam còn
thiếu. Chúng ta cha có những văn bản quy
phạm pháp luật cụ thể khuyến khích và tạo
điều kiện cho sự phát triển của Internet. Các
đợt khuyến mại hớng tới ngời sử dụng mạng
Internet đều mới chỉ là chính sách tiếp thị của
các công ti đang kinh doanh trong lĩnh vực
này.

(ví dụ, bằng th điện tử - Email) liệu có đợc
coi là bằng chứng có giá trị pháp lí ngang với
các văn bản in trong tố tụng không? Đây là
một trong những vấn đề nan giải nhất của pháp
luật hợp đồng liên quan tới thơng mại điện tử.
Điều 49 Luật thơng mại quy định: Đối
với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà
pháp luật quy định phải đợc lập thành văn
bản thì phải tuân theo các quy định đó; điện
báo, telex, fax, th điện tử và các hình thức
thông tin điện tử khác cũng đợc coi là hình

Tạp chí luật học
-

27

thức văn bản.
Nh vậy, th điện tử và các hình thức
thông tin điện tử khác đ đợc công nhận là
hình thức hợp pháp của hợp đồng mua bán
hàng hoá. Tuy nhiên, quy định này mới chỉ
dừng lại ở mức nguyên tắc mà chúng ta cha
có bất kì hớng dẫn chi tiết nào về các vấn đề
cụ thể nh thời điểm phát sinh hiệu lực của
hợp đồng, giá trị pháp lí của chữ kí điện tử, sửa
đổi bổ sung hợp đồng, giá trị chứng cứ của th
điện tử
Nếu hợp đồng mua bán hàng hoá đợc kí
kết hoàn toàn thông qua th điện tử hoặc

tử (E-Sign) do Thợng viện Mĩ thông qua ngày
14/6/2000 đ chính thức công nhận rằng chữ kí
kĩ thuật số có giá trị và hiệu lực pháp lí tơng
đơng với chữ kí viết
(5)
.
Điều 57 Luật thơng mại cho phép các bên
có thể thoả thuận để sửa đổi, bổ sung chấm dứt
hợp đồng. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung
hoặc chấm dứt hợp đồng thông qua trao đổi
th điện tử hoặc Internet nh thế nào thì hiện
nay pháp luật hoàn toàn cha có quy định gì.
Trong trờng hợp có tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng thì liệu các bên có thể sử dụng hồ
sơ điện tử để làm chứng cứ hay không? Thực
tế xét xử của các toà án hiện nay cho thấy th
điện tử vẫn cha đợc chính thức công nhận là
chứng cứ có giá trị pháp lí. Chính thực tế này
đ làm giảm ý nghĩa của quy định tại Điều 49
Luật thơng mại.
3.2. Thuế đối với thơng mại điện tử
Nói đến thơng mại điện tử tức là nói đến
việc thực hiện các giao dịch thơng mại hoàn
toàn bằng các phơng tiện điện tử, viễn thông,
mạng Internet. Điều này tạo ra những khó
khăn và thách thức lớn cho việc kiểm soát và
thu thuế các giao dịch đó. Các cơ chế và
phơng thức thu thuế thông thờng không thể
áp dụng đối với thơng mại điện tử.
Xác định cơ sở thờng trú của các công

hiệu quả để có thể thu thuế đối với các giao
dịch trên mạng nhằm đảm bảo nguồn thu cho
ngân sách nhà nớc. Bên cạnh đó, chúng ta
cũng nên lu ý chế độ thuế đối với thơng mại
điện tử phải đợc duy trì ở mức độ phù hợp để
tiếp tục khuyến khích sự phát triển của loại
hình thơng mại mới mẻ này. Nói cách khác,
thơng mại điện tử có thể bị đánh thuế theo
quy định của pháp luật thuế hiện hành nhng
các loại thuế đó sẽ vẫn phải tạo ra sự u tiên
nhất định cho thơng mại điện tử so với
thơng mại truyền thống.
3.3. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Theo thống kê của tổ chức liên minh phần
mềm kinh doanh, Việt Nam là một trong
những nớc có tỉ lệ vi phạm bản quyền phần
mềm máy tính cao nhất thế giới. Chúng ta đ
ban hành các quy định về sở hữu trí tuệ (Bộ
luật dân sự và các văn bản hớng dẫn thi hành)
nhng hiệu lực thi hành của các văn bản này
còn rất yếu. Việc sao chép bất hợp pháp các
sản phẩm phần mềm máy tính vẫn diễn ra phổ
biến và thờng xuyên. Các hackers (những kẻ
bẻ khóa m an toàn của các phần mềm máy
tính) cha bao giờ bị trừng trị vì vi phạm các
quy định về bản quyền và sở hữu trí tuệ. Nếu
chúng ta không sớm giải quyết vấn đề này thì
rất có thể những thông tin nội bộ của các
doanh nghiệp, các cơ quan nhà nớc hay thậm
chí các bí mật quốc gia lu hành trên mạng

đổi hay bị biến mất hoàn toàn. Trong nhiều
trờng hợp, các sự cố kĩ thuật kiểu này lại
đợc gây ra một cách cố ý nhằm phá hoại hay
gây khó khăn cho các đối tác hay đối thủ cạnh
tranh một cách không lành mạnh. Hiện nay,
Bộ luật hình sự đ có quy định về tội tạo ra và
phát tán các vi rút máy tính nhng thiết nghĩ
việc sớm ban hành các quy định bảo vệ an toàn
cho dữ liệu điện tử và phòng ngừa không để
các tội phạm đó xảy ra cũng là hết sức cần
thiết.
4. Giải pháp xây dựng khung pháp luật
về thơng mại điện tử ở Việt Nam
Với những thách thức to lớn về mặt pháp
luật nói trên, Việt Nam sẽ làm cách nào để xây

Tạp chí luật học
-

29

dựng đợc khung pháp luật về thơng mại điện
tử? Có lẽ việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế
và áp dụng chúng vào điều kiện Việt Nam là
cách tiếp cận hợp lí để giải quyết vấn đề này.
Hiện nay, trên thế giới có hai cách tiếp cận
chính đối với khung pháp luật về thơng mại
điện tử. Cách thứ nhất là xây dựng và ban hành
một hay một vài đạo luật về các vấn đề liên
quan đến thơng mại điện tử. Cách thứ hai là

Nam, nên chăng chúng ta sẽ áp dụng cả hai
cách tiếp cận về xây dựng khung pháp luật
thơng mại điện tử trên thế giới? Một mặt,
việc ban hành ngay văn bản quy phạm pháp
luật, ví dụ nghị định của Chính phủ, là rất cần
thiết để đáp ứng nhu cầu trớc mắt phát triển
thơng mại điện tử. Nội dung của văn bản này
phải đề cập một số vấn đề cấp bách và chung
nhất nh khái niệm thơng mại điện tử, chính
sách thơng mại điện tử của Chính phủ và
trách nhiệm của các cơ quan nhà nớc hữu
quan trong việc góp phần xây dựng và phát
triển thơng mại điện tử ở Việt Nam. Mặt
khác, chúng ta cũng cần có cách tiếp cận lâu
dài và tổng thể hơn hớng tới việc sửa đổi, bổ
sung toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật
điều chỉnh lĩnh vực thơng mại và các lĩnh vực
khác có liên quan nh pháp luật hợp đồng,
pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật thuế,
pháp luật hình sự nh đ nêu ở trên.
Tóm lại, thơng mại điện tử là phơng
thức mới để tiến hành các hoạt động thơng
mại trên phạm vi toàn cầu. áp dụng thơng
mại điện tử đ và đang là sự lựa chọn tất yếu
của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có
Việt Nam. Phát triển thơng mại điện tử đặt ra
những thách thức lớn về nhiều mặt, trong đó có
thách thức về pháp luật. Để tránh khỏi bị tụt
hậu so với nhịp độ phát triển thơng mại
chung của thế giới và để hội nhập ngày càng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status