nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 21
Đỗ Nhất Hoàng *
ghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX của Đảng đ khẳng định kinh tế
có vốn đầu t nớc ngoài là thành phần kinh
tế, là bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trờng định hớng x hội chủ nghĩa
ở nớc ta đợc khuyến khích phát triển lâu dài
và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.
Từ khi ban hành Luật đầu t nớc ngoài
tại Việt Nam năm 1987, hoạt động này đ thu
đợc nhiều thành tựu quan trọng, góp phần
tích cực vào việc thực hiện thắng lợi của công
cuộc đổi mới, đa nớc ta ra khỏi khủng
hoảng kinh tế, tăng cờng thế và lực của Việt
Nam trên trờng quốc tế. Tuy nhiên, hoạt
động đầu t nớc ngoài những năm qua cũng
đ bộc lộ những mặt yếu kém, hạn chế. Đó là
nhận thức, quan điểm về đầu t nớc ngoài
cha thực sự thống nhất và thông suốt ở các
cấp, các ngành; cơ cấu đầu t nớc ngoài còn
bất hợp lí và hiệu quả kinh tế - x hội của hoạt
động đầu t nớc ngoài cha cao; môi trờng
kinh tế và pháp lí còn nhiều hạn chế; công tác
các nhà đầu t, làm cho họ không an tâm khi
kinh doanh tại Việt Nam. Để khắc phục nhợc
điểm đó, Luật ĐTNN năm 2000 đ thay
khoản 3 Điều 21 Luật ĐTNN năm 1996 bằng
Điều 21a nhằm quy định cụ thể các biện pháp
đảm bảo quyền lợi nhà đầu t trong trờng
hợp do những thay đổi quy định của pháp luật
Việt Nam làm thiệt hại đến lợi ích của nhà
đầu t, theo đó "trong trờng hợp do thay đổi
của pháp luật Việt Nam làm thiệt hại đến lợi
ích của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác
kinh doanh thì doanh nghiệp có vốn đầu t
N
* Vụ pháp luật và xúc tiến đầu t
Bộ kế hoạch và đầu t
nghiên cứu - trao đổi
22 - Tạp chí luật học
nớc ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp
tác kinh doanh tiếp tục đợc hởng các u đi
đ đợc quy định trong giấy phép đầu t và
Luật này hoặc đợc Nhà nớc giải quyết thoả
đáng theo các biện pháp a) Thay đổi mục
tiêu dự án; b) Miễn, giảm thuế theo quy định
của pháp luật; c) Thiệt hại của doanh nghiệp
doanh nghiệp tự cân đối ngoại tệ bằng việc
cho phép doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác
kinh doanh đợc mua ngoại tệ tại các ngân
hàng thơng mại để đáp ứng các giao dịch
vng lai và các giao dịch đợc phép khác theo
pháp luật về quản lí ngoại hối; Chính phủ bảo
đảm cân đối ngoại tệ đối với một số rất ít các
dự án đặc biệt quan trọng đầu t theo chơng
trình của Chính phủ trong từng thời kì; bảo
đảm hỗ trợ cân đối ngoại tệ đối với sản xuất
thay thế hàng nhập khẩu thiết yếu và đối với
các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng
và đối với một số dự án quan trọng khác.
Những quy định mới này đ tạo điều kiện
thuận lợi, tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiệp và tạo cơ sở pháp lí cho các ngân hàng
đợc quyền quyết định mua, bán ngoại tệ cho
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
tuỳ khả năng và điều kiện của mình.
1.3. Nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh bình thờng của các doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài, khoản 2 Điều 35
Luật ĐTNN năm 2000 đ quy định: "Trong
trờng hợp đặc biệt đợc Ngân hàng nhà
nớc Việt Nam chấp thuận, doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài đợc mở tài khoản ở
nớc ngoài". Điểm sửa đổi này đ khắc phục
đợc hạn chế của khoản 2 Điều 35 Luật
ĐTNN năm 1996, tạo điều kiện thuận lợi cho
bằng và hoàn thành các thủ tục cho thuê đất"
(khoản 2). Quy định này đ nâng cao trách
nhiệm của bên Việt Nam ngay từ khi hình
thành dự án đến khi triển khai thực hiện dự án
đầu t nớc ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho
các dự án nhanh chóng đợc triển khai.
1.5. Theo quy định của Luật đất đai, các tổ
chức, cá nhân đợc thế chấp tài sản gắn liền
với đất và giá trị quyền sử dụng đất để vay
vốn tại các tổ chức tín dụng Việt Nam nếu đ
trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc trả
trớc tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời
gian thuê đất còn lại ít nhất là 05 năm. Việc
quy định nh vậy khiến các doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài không vay đợc vốn để
thực hiện các dự án đầu t, vì các tổ chức tín
dụng Việt Nam nhìn chung không có đủ vốn
để cho vay, nhất là các khoản vay lớn và dài
hạn; trong khi các tổ chức tín dụng nớc ngoài
là nguồn cho vay chủ yếu lại không đợc nhận
thế chấp giá trị quyền sử dụng đất. Do đó,
Luật ĐTNN năm 2000 đ bổ sung điểm mới
(khoản 3 Điều 46) cho phép "Doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài đợc thế chấp tài
sản gắn liền với đất và giá trị quyền sử dụng
đất để bảo đảm vay vốn tại các tổ chức tín
dụng đợc phép hoạt động tại Việt Nam". Nh
vậy, từ nay các doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài đợc thế chấp quyền sử dụng đất ở
cả các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, ngân
thể có những vấn đề trong lĩnh vực ĐTNN mà
pháp luật Việt Nam cha có quy định cụ thể;
mặt khác, nớc ta đang chủ động hội nhập nghiên cứu - trao đổi
24 - Tạp chí luật học
kinh tế quốc tế; đ trở thành thành viên chính
thức của nhiều tổ chức quốc tế, đ kí nhiều
điều ớc quốc tế liên quan đến các hiệp định
đa phơng và song phơng. Do đó, để đảm
bảo tính rõ ràng, ổn định của hệ thống pháp
luật, phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam
kết quốc tế mà Việt Nam đ kí đồng thời làm
cho nhà đầu t nớc ngoài yên tâm đầu t tại
Việt Nam, Luật ĐTNN 2000 đ bổ sung
khoản 2 Điều 66 quy định: "Trong trờng hợp
pháp luật Việt Nam cha có quy định, các bên
có thể thoả thuận trong hợp đồng việc áp
dụng pháp luật của nớc ngoài nếu việc áp
dụng luật của nớc ngoài không trái với
những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam". Quy định này đ xác lập nguyên tắc
pháp lí để giải quyết mối quan hệ giữa pháp
luật Việt Nam và pháp luật quốc tế phù hợp
với xu hớng hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Những quy định mới có liên quan
đến việc mở rộng quyền tự chủ của doanh
nghiệp
2.3. Trớc đây, Luật ĐTNN năm 1996
mới chỉ đề cập việc cho phép thành lập và
chấm dứt hoạt động doanh nghiệp mà cha đề
cập các hình thái vận động nh chuyển đổi
hình thức đầu t, chia, tách, sáp nhập, hợp
nhất doanh nghiệp Vì vậy, khi có vấn đề
phát sinh, việc giải quyết thờng phải thực
hiện theo phơng châm "xử lí linh hoạt" nên
có nhiều khó khăn, vớng mắc. Để khắc phục
vấn đề này, Luật ĐTNN năm 2000 đ bổ sung
Điều 19a cho phép doanh nghiệp có vốn đầu
t nớc ngoài, các bên hợp doanh trong quá
trình hoạt động đợc chuyển đổi hình thức
đầu t, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập
2.4. Để mở rộng quyền tự chủ của doanh
nghiệp trong việc cơ cấu lại vốn đầu t phù
hợp với quy mô đầu t theo nhu cầu của thị
trờng trong từng thời kì, Nghị định số
24/2000/NĐ-CP, tại Điều 9 đ quy định cho
phép doanh nghiệp cơ cấu lại vốn đầu t, vốn
pháp định trong trờng hợp thay đổi mục tiêu,
quy mô dự án, đối tác, phơng thức, giá trị
góp vốn pháp định và các trờng hợp khác
đợc cơ quan cấp giấy phép đầu t chấp
thuận. Về nguyên tắc, việc cơ cấu lại vốn đầu
t không đợc làm giảm tỉ lệ vốn pháp định nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 25
điều lệ doanh nghiệp hoặc thoả thuận giữa
các bên" (khoản 2 Điều 52).
2.7. Về thanh lí, phá sản đối với doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, Luật ĐTNN
năm 2000 đ có quy định bổ sung quan trọng:
"Trong quá trình thanh lí tài sản doanh
nghiệp, nếu xét thấy doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản thì việc giải quyết phá sản
của doanh nghiệp đợc thực hiện theo thủ tục
pháp luật về phá sản doanh nghiệp" (khoản 2
Điều 53) đồng thời, Luật ĐTNN năm 2000
cũng quy định: "Trong trờng hợp bên Việt
Nam tham gia doanh nghiệp liên doanh góp
vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất mà doanh
nghiệp bị giải thể hoặc phá sản thì giá trị còn
lại của quyền sử dụng đất đ góp vốn thuộc
tài sản thanh lí của doanh nghiệp" (khoản 4
Điều 53). Với những quy định này, Luật
ĐTNN năm 2000 đ thiết lập phơng thức
mới về thanh lí và giải quyết phá sản, khắc
phục đợc những hạn chế của Luật ĐTNN
năm 1996.
2.8. Để đơn giản hoá thủ tục xuất nhập
khẩu và hoạt động thơng mại của doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, Nghị định
số 24/2000/NĐ-CP, tại chơng 7 đ có những
quy định mới về xoá bỏ thủ tục đăng kí, phê
duyệt kế hoạch nhập khẩu và tiêu thụ sản
phẩm trong nớc của của doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài và hợp đồng hợp tác kinh
đợc. Hiện nay Nghị định số 24/2000/NĐ-CP
ngày 31/7/2000 của Chính phủ, tại Điều 83
đ quy định rút ngắn xuống còn 15 ngày.
3. Nhóm các quy định về mở rộng các
u đãi về thuế, tài chính
3.1. Theo quy định của Luật ĐTNN năm
1996, khi chuyển lợi nhuận ra nớc ngoài, nhà
đầu t nớc ngoài phải nộp khoản thuế chuyển
lợi nhuận là 5%, 7%, 10% số lợi nhuận
chuyển ra nớc ngoài, tuỳ thuộc vào quy mô
góp vốn của nhà đầu t nớc ngoài vào vốn
pháp định doanh nghiệp. Để cải thiện môi
trờng đầu t, Luật ĐTNN năm 2000 đ sửa
đổi theo hớng giảm mức thuế chuyển lợi
nhuận ra nớc ngoài xuống các mức tơng
ứng là 3%, 5% và 7%. Riêng nhà đầu t vào
khu công nghiệp, khu chế xuất và nhà đầu t
là ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài thì
hởng mức u đi nhất 3%; còn nhà đầu t
đầu t vào lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục
đào tạo, nghiên cứu khoa học nếu không đạt
mức vốn để hởng mức u đi hơn thì cũng
chỉ nộp tối đa là 5%.
3.2. Nhằm khuyến khích thu hút đầu t
nớc ngoài và tháo gỡ khó khăn đối với các dự
án đang hoạt động, Luật ĐTNN năm 2000 đ
sửa đổi, bổ sung một số quy định về miễn
thuế nhập khẩu, thể hiện ở khoản 2 và khoản 4
Điều 47. Theo đó, nhiều phơng tiện, vật t,
máy móc, nguyên liệu, linh kiện đợc miễn
nghiệp rất cần vốn mở rộng kinh doanh nhng
vẫn phải dành khoản tiền không nhỏ để lập
quỹ dự phòng trong khi mục đích sử dụng quỹ
dự phòng lại không đợc quy định cụ thể. Do
đó, Luật ĐTNN năm 2000 đ sửa đổi, cho nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 27
phép doanh nghiệp đợc quyền tự quyết định
lập các quỹ sau thuế nh quy định tại Luật
doanh nghiệp và không áp đặt tỉ lệ bắt buộc
doanh nghiệp phải trích từ lợi nhuận để lập
quỹ dự phòng (Điều 40).
4. Nhóm các quy định về cải tiến thủ
tục hành chính, tăng cờng sự quản lí của
Nhà nớc
4.1. Về đăng kí cấp phép đầu t, thời hạn
cấp giấy phép đầu t, Luật ĐTNN năm 2000
đ có bớc tiến mới trong việc cải cách thủ tục
hành chính nhằm đơn giản hoá việc cấp phép
đầu t đối với các dự án đơn giản, nằm trong
quy hoạch và thuộc diện khuyến khích đầu t.
Những cải tiến đó đợc quy định tại Điều 60.
Theo đó, cơ quan cấp giấy phép đầu t xem
xét đơn và thông báo quyết định cho nhà đầu
t chậm nhất trong vòng 45 ngày kể từ khi
nhận đợc hồ sơ hợp lệ (trớc là 60 ngày);
trờng hợp đăng kí cấp giấy phép đầu t sẽ
thiết bị, phơng tiện vận tải đợc miễn thuế
nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và hợp
doanh; danh mục các nhóm trang thiết bị đợc
miễn thuế nhập khẩu một lần của doanh
nghiệp khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê,
nhà ở, trung tâm thơng mại, dịch vụ kĩ thuật,
siêu thị
Tóm lại, với những điểm mới đ đợc
phân tích ở trên, Luật ĐTNN năm 2000 và
Nghị định số 24/2000/NĐ-CP đ củng cố cơ
sở pháp lí cho việc thu hút đầu t nớc ngoài
nhiều hơn với chất lợng cao hơn, tháo gỡ
những vớng mắc khó khăn, giảm thiểu rủi ro
cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài, làm cho môi trờng kinh doanh của
Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng hơn so với
trớc đây và so với một số nớc trong khu
vực. Đồng thời cũng đ tạo điều kiện xích gần
hơn giữa đầu t trong nớc và đầu t nớc
ngoài, tạo thế chủ động trong tiến trình hội
nhập kinh tế và đảm bảo các cam kết quốc
tế./.