nghiên cứu - trao đổi
Tạp
chí
luật
học
số tháng 3
/2
003 35
ThS. Trần Thị Huệ *
ó thể nói từ khi Bộ luật dân sự đợc thông
qua cho đến nay, thời gian kiểm nghiệm
cha nhiều để có thể đánh giá một cách toàn
diện, cụ thể toàn bộ những quy định của Bộ
luật. Tuy nhiên, một số quy định trong Bộ luật
dân sự đ bộc lộ những hạn chế nhất định qua
thực tiễn áp dụng, trong đó có những quy định
về chuyển quyền sử dụng đất.
Nếu các quy định của Luật đất đai đặt nền
tảng pháp lí cho việc thực hiện các quyền này
của ngời sử dụng đất thì chế định chuyển
của nhau. Việc quy định cụ thể, chi tiết về
trình tự, thủ tục, điều kiện để thực hiện các
quyền của ngời sử dụng đất nên dành cho
luật chuyên ngành (Luật đất đai). Bộ luật dân
sự đợc coi là Bộ luật gốc (sau Hiến pháp)
chiếm vị trí độc tôn trong hệ thống luật t
khi quy định về chuyển quyển sử dụng đất chỉ
nêu bao quát đầy đủ mang tính nguyên tắc
các giao dịch dân sự về đất đai của pháp
nhân, hộ gia đình và cá nhân khi chuyển
quyền sử dụng đất cho nhau.
Nằm trong phạm vi và mục tiêu sửa đổi,
bổ sung các quy định của Bộ luật dân sự,
thừa kế quyền sử dụng đất là một trong
những điểm nóng cần phải đợc xem xét
nghiêm túc và kĩ lỡng.
Trong hệ thống luật thực định, quan hệ thừa
kế quyền sử dụng đất cũng là dạng của quan hệ
thừa kế tài sản nói chung. Tuy nhiên, xuất phát
từ đối tợng đặc thù của quan hệ thừa kế quyền
sử dụng đất, trong đó di sản là quyền tài sản
(quyển sử dụng đất), dựa trên nền tảng các quy
định về sở hữu đất đai, những quy định về thừa
kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật dân sự có
những điểm rất khác biệt so với quyền thừa kế
tài sản thông thờng khác nh về ngời đợc
hởng thừa kế, ngời để lại di sản, thủ tục và
trình tự dịch chuyển
C
không phù hợp với thực tế gây nên những bất
cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật trong thực
tế. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện
những quy định này là yêu cầu khách quan
nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của các quy
định về thừa kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật
dân sự. Sau đây là một số vấn đề mà chúng tôi
thấy cần phải trao đổi:
Thứ nhất: Về Điều 740 Bộ luật dân sự.
Điều luật này quy định về điều kiện đợc
thừa kế quyền sử dụng đất đối với đất nông
nghiệp để trồng cây hàng năm và nuôi trồng
thuỷ sản là:
- Phải có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện
sử dụng đất đúng mục đích.
- Cha có đất hoặc đang sử dụng đất dới
hạn mức theo quy định của pháp luật về đất đai.
Trong quá trình áp dụng quy định này có
hai ý kiến trái ngợc nhau:
- ý kiến thứ nhất cho rằng quy định nh
vậy là chặt chẽ, phù hợp với chính sách bảo vệ
quỹ đất nông nghiệp của Nhà nớc. Bởi vậy,
theo nội dung của Điều 740 Bộ luật dân sự thì
một ngời mặc dù nằm trong diện thừa kế
nhng không đủ điều kiện theo quy định của
điều luật này thì không đợc hởng thừa kế
theo di chúc hoặc theo pháp luật.
- ý kiến thứ hai lại cho rằng quy định tại
Điều 740 là không đảm bảo sự công bằng giữa
những ngời thừa kế theo quy định của pháp
nghiệp để trồng cây hàng năm và nuôi trồng
thuỷ sản không, trong khi họ hoàn toàn có điều
kiện để khai thác, sử dụng, hởng lợi từ đất.
Mặt khác, quyền sử dụng đất của họ có đợc
không chỉ là do Nhà nớc giao đất mà có thể
do chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê mà có.
Điều đó phải đợc pháp luật thừa nhận nh thừa
nhận họ có tài sản thông thờng khác. Do vậy,
không có lí do để tớc quyền hởng di sản là
quyền sử dụng đất của họ vì nh thế không đảm
bảo quyền bình đẳng giữa những ngời thừa kế.
Kết hợp sự bất hợp lí của cả khoản 1 và nghiên cứu - trao đổi
Tạp
chí
luật
học
số tháng 3
/2
003 37
khoản 2 Điều 740 BLDS theo chúng tôi, không
hiện nay cha có văn bản pháp luật nào đề cập.
Căn cứ vào quy định tại Điều 62 Luật đất đai
năm 1993 về đất chuyên dùng thì việc thừa kế
đất loại này nên áp dụng nh đối với đất nông
nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để
trồng rừng, đất ở.
Thứ t: Về phân chia tài sản của vợ chồng
khi một bên chết trớc.
Khoản 2 Điều 637 Bộ luật dân sự quy định:
Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế
Điều 233 Bộ luật dân sự năm 1995 và Điều
27 Luật HN&GĐ năm 2000 đều quy định
những tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng
trong đó có quyền sử dụng đất nhng lại không
dự liệu việc chia tài sản của vợ chồng khi có
một bên chết trớc. Điểm a khoản 2 Điều 97
Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định về chia
tài sản chung của vợ chồng khi li hôn.
Nh vậy, khi chia tài sản chung của vợ
chồng khi có một bên chết trớc là không có cơ
sở pháp lí. Vấn đề áp dụng tơng tự pháp luật
phải đợc đặt ra (áp dụng chia tài sản của vợ
chồng nh khi li hôn). Nếu nh vậy lại không
hợp lí, vì mặc dù sự kiện li hôn và sự kiện một
bên chết trớc đều làm chấm dứt quan hệ hôn
nhân nhng ý chí của các chủ thể trong sự kiện
này hoàn toàn khác nhau, cái chết thờng nằm
ngoài mong muốn của các chủ thể.
Với những lí do trên, chúng tôi cho rằng Bộ
luật dân sự cần phải quy định vấn đề này theo