VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ THỪA QUỐC GIA TRONG LUẬT QUỐC TẾ - Pdf 27

1
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới luôn vận động không ngừng. Cái cũ mất đi, cái mới xuất hiện. Tuy
nhiên, cái mới không xóa bỏ hoàn toàn cái cũ mà có “sự kế thừa” những cái hay, cái
tiến bộ của cái cũ để làm nấc thang bước lên (trong đó “ kế” nghĩa là kết nối; “thừa”
là tiếp theo - Từ điển Từ và Ngữ Tiếng Việt của GS Nguyễn Lân). Với vai trò là hệ
thống luật trên thế giới, luật quốc tế cũng có một chế định quy định về “ sự kế thừa”.
Cụ thể tại kỳ họp XVI của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết
về việc đưa vấn đề kế thừa vào danh mục những vấn đề trước mắt cần pháp điển hóa
và ngày 22/8/1978 Công ước Viên về kế thừa, ngày 1/4/1978 Công ước Viên về kế
thừa tài sản, hồ sơ lưu trữ và công nợ quốc gia được thông qua. Sở dĩ như vậy vì vấn
đề kế thừa có vai trò ngày càng quan trọng trong sinh hoạt quốc tế, khi mà ngày càng
có nhiều quốc gia giành lại được độc lập hay có thêm một số quốc gia được chia,
tách, sáp nhập. Việc xác nhận một quốc gia có phải là quốc gia kế thừa của quốc gia
trước đó hay không chẳng những ảnh hưởng đến riêng quốc gia mới đó mà còn có ý
nghĩa quan trọng với nhiều quốc gia khác trên thế giới trong bối cảnh thế giới được
coi là “phẳng” như hiện nay.
Cho đến nay, kế thừa vẫn là một vấn đề phức tạp, còn nhiều cuộc tranh luận
xung quanh nó. Nhìn chung trong các bộ phận của kế thừa có ba bộ phận cơ bản: kế
thừa quốc gia, kế thừa chính phủ, kế thừa của các tổ chức quốc tế.
Thứ nhất, kế thừa chính phủ là vấn đề phổ biến và có lẽ được các quốc gia
nhất trí cao bởi hàng năm có rất nhiều chính phủ mới được bầu lên. Theo nguyên tắc
đồng nhất và liên tục quyền năng chủ thể luật quốc tế của quốc gia, chính phủ mới
hiển nhiên kế thừa quyền và nghĩa vụ của chính phủ trước đó (ngoại trừ trường hợp
chính phủ mới được lập nên do cuộc cách mạng xã hội trong nội bộ quốc gia đó).
Thứ hai, vấn đề kế thừa tổ chức quốc tế. Phù hợp với yêu cầu khách quan của
sự phát triển cũng như mong muốn của các quốc gia trên thế giới đặc biệt từ sau Thế
chiến Đệ nhị, các tổ chức quốc tế mới thật sự phát triển và phổ biến, phát huy được
vai trò của mình. Kế thừa một tổ chức quốc tế tức là chấm dứt hoạt động của tổ chức
đó và ra đời một tổ chức khác với chức năng tương tự. Vì các quốc gia thành viên là
những “người” lập nên tổ chức đó, định ra vai trò, chức năng của tổ chức nên việc

 Sự kế thừa của quốc gia mới do kết quả của phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc.
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia
3
 Sự kế thừa của quốc gia mới do kết quả của cuộc cách mạng xã hội.
 Sự kế thừa của quốc gia mới trong trường hợp các quốc gia hợp nhất hay
sáp nhập.
 Sự kế thừa của quốc gia mới khi có sự chia, tách của một quốc gia.
3. Các điều ước quốc tế điều chỉnh về kế thừa quốc gia:
Ủy ban luật quốc tế (ILC) đã xem xét vấn đề một cách bao quát và 2 Công
ước quốc tế về kế thừa quốc gia được thừa nhận. Ủy ban luật quốc tế thỏa thuận về
kế thừa quốc gia theo bốn nhóm rõ ràng:
 Hiệp ước: Công ước Viên về kế thừa( Viên I).
 Tài sản, các khoản nợ và các tài liệu quốc gia: công ước Viên về kế thừa
tài sản, hồ sơ lưu trữ và công nợ quốc gia( Viên II).
 Thành viên tổ chức quốc tế: Báo cáo viên của Ủy ban luật quốc tế kết luận
rằng vấn đề này không thích hợp cho việc xây dựng luật. Các báo cáo viên
đề nghị một bản báo cáo cung cấp những minh họa về việc giải quyết các
loại khác nhau của vấn đề.
 Kế thừa quốc gia và ảnh hưởng của nó vế quốc tịch tự nhiên: các báo cáo
viên cũng không tìm thấy bất cứ triển vọng nào về việc soạn thảo và đề
nghị bản báo cáo hoặc dự thảo luật Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tuyên
bố thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu.
Vấn đề kế thừa quốc gia có thể phát sinh trong một số trường hợp được xác
định, khi mà phản ánh những cách thức trong đặc quyền chính trị có thể đạt được. Ví
dụ như sự trao trả thuộc địa một phần hay toàn bộ lãnh thổ hiện tại, phân chia một
nước hiện hữu, ly khai, sát nhập và hợp nhất.
Trong mỗi trường hợp, vấn đề kế thừa quyền và nghĩa vụ lại được đặt ra. Tuy
nhiên, câu hỏi về kế thừa quốc gia không xâm phạm quyền và nghĩa vụ thông thường
nếu các quốc gia tuân theo luật quốc tế.

trì ở quốc gia kế thừa nếu không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ
quốc tế của quốc gia mới kế thừa.
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia
5
 Quốc gia để lại kế thừa đã bóc lột và đàn áp nhân dân ở nước kế thừa
trong nhiều năm nhưng cuối cùng nhân dân ở nước thuộc địa này đã
giành được độc lập và thành lập một quốc gia độc lập, có chủ quyền
và có địa vị pháp lý bình đẳng với quốc gia để lại kế thừa.
 Quốc gia mới thành lập có quyền không tôn trọng các điều ước quốc
tế mà nước để lại kế thừa đã kí trừ các điều ước kí kết về biên giới,
lãnh thổ.
Ví dụ: Trong Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945 của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa có ghi: “Chúng tôi, lâm thời của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn
dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ tất cả những
hiệp ước và Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ cả mọi đặc quyền của Pháp trên
đất nước Việt Nam”…
Cộng hòa Trung Phi khi giành được độc lập đã tuyên bố: “ Các hiệp ước
do cường quốc thuộc địa trước đây đã kí kết nhân danh các lãnh thổ hải ngoại của
mình có thể được coi như chỉ còn giữ được hiệu lực đối với những điều khoản không
mâu thuẫn với nền độc lập của các quốc gia mới có chủ quyền.”…
Về địa vị pháp lý: Trong trường hợp quốc gia mới thành lập muốn tham
gia vào các điều ước quốc tế đa phương không giới hạn số lượng thành viên thì báo
tin việc thiết lập quy chế quốc gia tham gia vào điều ước đó cho các quốc gia thành
viên khác của điều ước biết. Còn nếu là điều ước quốc tế đa phương có giới hạn số
lượng thành viên thì quốc gia mới thành lập được tham gia khi được sự đồng ý của
tất cả các quốc gia thành viên đồng ý, kể cả quốc gia để lại kế thừa.
Về kế thừa tài sản: Quốc gia mới thành lập có quyền kế thừa chính đáng
tất cả những tài sản quốc gia có tại lãnh thổ mới giành được. Đồng thời việc kế thừa
tài sản còn xem xét đến quá trình bóc lột thuộc địa của quốc gia để lại kế thừa và
trách nhiệm bồi thường những tài sản do kết quả bóc lột lao động, tài nguyên của

Quốc gia dưới góc độ chủ thể của luật quốc tế là một đơn vị lãnh thổ - dân
cư kết hợp với một cơ cấu chính trị - giai cấp nhất định.
Cách mạng xã hội là đỉnh cao của đấu giai cấp, là bước nhảy vọt trong sự
phát triển của xã hội mà kết quả là sự thay thế một hình thái kinh tế xã hội này bằng
hình thái kinh tế xã hội mới cao hơn. Đặc trưng của cách mạng là sự thay đổi chính
quyền Nhà nước từ tay giai cấp thống trị lỗi thời sang tay giai cấp cách mạng, là sự
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia
7
thay đổi phương thức sản xuất cũ bằng phương thức sản xuất mới. Cách mạng xã hội
là phương thức thay thế hình thái kinh tế xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội
khác cao hơn, tiến bộ hơn. Kết quả của cách mạng xã hội là sự ra đời của nhà nước
mới. Có thể nói đây là bước nhảy vọt vĩ đại trong quá trình phát triển của xã hội loài
người:
+ Cách mạng xã hội đã giải quyết được mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất tức là nó đã làm cho phương thức sản xuất mới ra đời thay thế
phương thức sản xuất cũ lạc hậu; trong đó lực lượng sản xuất phát triển, quan hệ sản
xuất cũng phải thay đổi cho phù hợp với lực lượng sản xuất. Nhờ cách mạng xã hội
đã làm cho đời sống kinh tế của xã hội phát triển (qua đấu tranh giai cấp giữa giai cấp
bị trị và giai cấp thống trị).
+ Cách mạng cũng làm thay đổi đời sống chính trị và văn hóa xã hội (cách
mạng xã hội là sự thay chính quyền Nhà nước...) như vậy có thể nói qua cách mạng
xã hội, xã hội cũ bị xóa bỏ, xã hội mới ra đời. Đó là bước phát triển nhảy vọt về vật
chất của xã hội trong đó mọi mặt của đời sống xã hội đều thay đổi và phát triển như
kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng.
+ Nếu trong hình thành kinh tế xã hội mới có chế độ tư hữu, vấn có đối
kháng giai cấp thì sự phát triển của các mâu thuẫn nói trên (mâu thuẫn kinh tế, mâu
thuẫn giai cấp) sớm hay muộn cũng dẫn đến cách mạng xã hội để chuyển lên hình
thái kinh tế xã hội cao hơn, tiến bộ hơn.
+ Cách mạng xã hội làm xuất hiện chế độ xã hội mới với sự lãnh đạo của
giai cấp cách mạng. Như vậy xét về mặt lãnh thổ, tài sản quốc gia mới kế thừa toàn

chính phủ Nhật và Trung Hoa về Mông Cổ. Mông Cổ ngày nay là một nước độc lập.
Đối với bọn cố vấn, bọn lãnh sự của Nga hoàng, bọn tài phiệt Nga, phải đuổi cổ
chúng ra khỏi đất Mông Cổ. Mọi quyền bính ở Mông Cổ đều phải thuộc về tay nhân
dân Mông Cổ. Không một nước ngoài nào được can thiệp vào nội trị của Mông Cổ.
Hiệp ước Nga - Mông năm 1913 đã bị thủ tiêu. Mông Cổ, một quốc gia độc lập, có
quyền ngoại giao trực tiếp với tất cả các nước khác, không cần có sự đỡ đầu hay
trung gian nào của Bắc Kinh hay Pêtơrơgrát."
CHƯƠNG IV: SỰ KẾ THỪA QUỐC GIA TRONG TRƯỜNG
HỢP NHIỀU QUỐC GIA THÀNH MỘT QUỐC GIA
1. Lý thuyết chung về sự kế thừa quốc gia trong trương hợp nhiều
quốc gia thành một quốc gia
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia
9
Kế thừa khi một quốc gia thành nhiều quốc gia bao gồm có hai trường hợp
đó là hợp nhất và sáp nhập. Chúng ta thường gặp rắc rồi trong việc phân biệt giữa
hợp nhất và sáp nhập.. Có thề hiều hai khái niệm này thông qua hình vẽ dưới đây:
Hợp nhất:

Sáp nhập:

Vậy hợp nhất là sự kết hợp giữa hai quốc gia có địa vị pháp lý ngang nhau
dẫn đến hình thành một quốc gia mới, còn sáp nhập là sự kết hợp của một quốc gia
nhỏ vào một quốc gia lớn hơn, không hình thành nên quốc gia mới.
+ Lãnh thổ:
Quốc gia kế thừa kế thừa toàn bộ lãnh thổ của quốc gia để lại kế thừa. Do
vật dù hợp nhất hay sáp nhập lãnh thổ đều dẫn tới hệ quả là quốc gia kế thừa có lãnh
thổ lớn hơn các quốc gia ban đầu.
+ Điều ước quốc tế:
Đối với trường hợp hợp nhất quốc gia (hình thành liên bang hay liên minh)
nếu việc áp dụng điều ước đang có hiệu lực không trái với mục đích của quốc gia

bị sáp nhập sẽ xóa bỏ. Thay vào đó chỉ có quốc gia mới tiếp tục có tư cách thành viên
trong tổ chức quốc tế.
2. Hợp nhất và sáp nhập trong lịch sử thế giới:
2.1 Hợp nhất:
Điển hình cho trường hợp hợp nhất là Hợp chủng quốc Hoa kỳ, một
Cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang. Quốc gia
này được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của vương quốc Anh nằm dọc theo bờ
biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các “tiểu quốc”, cả 13 cựu thuộc
địa đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4/7/1776 và sau đó là sự chấp thuận
“Những điều khoản liên hiệp với điều khoản đầu tiên được phát biểu “Tên gọi Liên
bang này sẽ là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”.. Hội nghị liên bang quyết định sử dụng bản
hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào 17/9/1789. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau
đó đã biến các cựu thuộc địa trở thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất.
Điển hình cho trường hợp hợp nhất là Hợp chủng quốc Hoa kỳ, một Cộng
hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang. Quốc gia này
được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của vương quốc Anh nằm dọc theo bờ biển
Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các “tiểu quốc”, cả 13 cựu thuộc địa
đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4/7/1776 và sau đó là sự chấp thuận “Những
điều khoản liên hiệp với điều khoản đầu tiên được phát biểu “Tên gọi Liên bang này
sẽ là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”.. Hội nghị liên bang quyết định sử dụng bản hiến
pháp Hoa Kỳ hiện tại vào 17/9/1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó
đã biến các cựu thuộc địa trở thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất.
+ Về lãnh thổ :
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia
11
Lãnh thổ của Hoa Kỳ là do kế thừa lại toàn bộ lãnh thổ của 13 cựu thuộc
địa trước đây và các tiểu bang còn lại. Đa số các tiểu bang còn lại đã được thành lập
từ những lãnh thổ chiếm được qua chiến tranh hay được chính phủ Hoa Kỳ mua lại.
VD : tiểu bang Alaska được Hoa Kỳ mua lại từ Nga với giá 7.200.000 đô la Mỹ vào
ngày 9 tháng 4 năm 1867, bang Califorina được thành lập từ cuộc Chiến tranh Mỹ-

tổng hành dinh của Liên Hiệp Quốc. Có mối quan hệ đặc biệt với nước Anh và liên
hệ chặt chẽ với Úc, Tây Ban Nha, Nhật, Israel và các thành viên đồng sự NATO….
Tương tự như Hoa kỳ thì Nga là một nhà nước liên bang bao gồm 83 chủ
thể liên bang. Các chủ thể này có quyền bình đẳng liên bang với ý nghĩa bình đẳng về
đại diện (hai đại biểu của mỗi chủ thể) trong Hội đồng Liên bang (Thượng viện của
Nga). Tuy nhiên, các chủ thể này khác nhau nhiều về mức độ tự trị. Các khu tự trị
vừa là một chủ thể liên bang với các quyền của mình, đồng thời vừa được coi là đơn
vị hành chính của chủ thể liên bang khác (khu tự trị Chukotka là ngoại lệ duy nhất).
Bên cạnh đó còn có các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất được thành
lập theo chế độ quân chủ lập hiến gồm 7 tiểu vương quốc (UAE) hợp lại, gồm Adu
Dhabi, Dubai, Shariah, Umm Al-Qaiwam, Aiman và Fuiairah vào 2/2/1971. Đến
2/1972, Ras Al-Khaimah gia nhập nhà nước liên bang này. Cơ quan quyền lực tối
cao là Hội đồng tối cao 7 tiểu vương. Hội đồng này bầu Tổng thống và Phó Tổng
thống trong số các thành viên của mình. Tổng thống bổ nhiệm Thủ Tướng và các
thành viên Hội đồng Bộ trưởng. Mọi quyết định được thông qua theo đa số. Là hai
Tiểu vương quốc giàu nhất cung cấp tới 3/4 ngân sách toàn quốc nên Abu-Dhabi và
Dubai có quyền phủ quyết.

2.2 Sáp nhập:
Cụ thể cho trường hợp sáp nhập là Cộng hòa Liên bang Đức. Theo điều
20 của Hiến pháp Đức thì Cộng hòa Liên bang Đức là một quốc gia dân chủ, xã hội
và có pháp quyền. Nước Đức có 16 bang. Nước Đức ngày nay vốn là sáp nhập của
Cộng hòa Dân chủ Đức với Cộng hòa liên bang Đức. Ngày 23/8/2989 Quốc hội
Đông Đức quyết định rằng lãnh thổ của quốc gia này sẽ được đặt dưới hệ thống pháp
luật của Cộng hòa Liên bang Đức kể từ ngày 3/10/1990. Trước đó Cộng hòa Liên
bang là thành viên của Hội đồng Châu Âu từ năm 1950, tham gia Hiệp ước Roma
năm 1957 và là thành viên của khối NATO từ năm 1955. Vậy khi sáp nhập vào Tây
Đức thi Đông Đức mặc nhiên tham gia vào các tổ chức này và cũng không có quyền
tham gia hay không.
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia

Thậm chí trong trường hợp có sự chia cắt hoặc nhượng lại thì cũng áp dụng qui định
trên.
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia
14
Vấn đề duy nhất nảy sinh ( được xem như vấn đề nội bộ ) là sự phân chia
tài sản của Công Hòa liên bang Đức và Công Hòa Dân chủ đức với các thành phố tự
trị ở Đức. Đây chỉ là vấn đề điều chỉnh trong luật hiến pháp và luật hành chính của
Đức.
Kế thừa về nợ
Theo nguyên tắc, thật khó để thiết lập một quy định cụ thể về sự kế thừa
các khoản nợ của quốc gia, trong trường hợp sự sáp nhập của nhà nước không có căn
cứ cho bất cứ cuộc tranh luận nào.
Hai nhà nước Đức thỏa thuận rằng kế thừa về nợ trong điều khoản công
nợ của Cộng hòa Dân Chủ Đức quy định trong Hiệp ước Thống Nhất.
Tại điều 23 của hiệp ước thống nhất, họ thừa nhận tất cả trách nhiệm pháp
lý của CỘng Hòa Dân Chủ Đức ủy thác cho Cộng hòa liên bang Đức, nó tạo ra sự
quản lý đặc biệt để xử lý các khoản nợ của cộng hòa dân chủ Đức.
+ Sự kế thừa về điều ước quốc tế
Điều ước hạn chế:
Lý do của việc quy định điều ước hạn chế nhằng điều chỉnh sự thay đổi
chủ quyền. Những điều ước này tạo ra hoặc chuyển giao quyền lợi thực tế - những
quyền lợi thực tế trong luật quốc tế bị xâm phạm đến lãnh thổ.
Một ví dụ về điều ước hạn chế trong trường hợp của Đức là hiệp ước giữa
Ba Lan và CHDC Đức về sông Oder ngày 6/2/1952 và điều ước này sẽ tiếp tục được
áp dụng sau khi hợp nhất Đông Đức và Tây Đức. Hiệp ước Warsaw 7/12/1970 đã
chứng minh cho điều này – CHLB Đức công nhận trong hiệp ước đường Oder –
Neisse là đường biên giới phía đông giữa Ba Lan và Đức và khẳng định rằng các bên
không thể xâm phạn các biên giới đang tồn tại trong hiện tại và tương lai.
Điều ước đa phương:
Đây là điều quan trọng kể từ khi các điều ước Liên minh Châu Âu áp dụng

Séc và Slovakia kế thừa Tiệp Khắc, Xiri Lanca và Ai Cập kế thừa từ Cộng
Hòa Ả rập thống nhất, Liên bang Nga kế thừa Liên Xô cũ, Công hòa hồi giáo Iêmen
kế thừa Bắc Iêmen và Nam Iêmen,…
1.3 Ví dụ điển hình:
Séc và Slovakia kế thừa Tiệp Khắc
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia
16
Vào cuối thế kỉ XIX, Séc và Slovakia là 2 quốc gia độc lập nhưng bị đế
chế Áo - Hung cai trị. Ý tưởng về một quốc gia kết hợp giữa Séc và Slovakia được
nhen nhóm để thoát khỏi đế chế Habsburg. Do đó hai vùng đất ngày càng tăng cường
quan hệ với nhau. Ngày 28/10/1918 Cộng Hòa Tiệp Khắc tuyên bố độc lập (bao gồm
Séc và Slovakia). Hiệp ước St. Germain được ký kết vào tháng 9 năm 1919 đã chính
thức công nhận nền cộng hòa mới của Tiệp Khắc. Quốc gia Tiệp Khắc mới thành lập
có dân số khoảng 13,5 triệu người, thừa hưởng tới 70 - 80% các cơ sở công nghiệp
của Áo - Hung. Lúc đó Tiệp Khắc là một trong mười nước công nghiệp hóa nhất thế
giới.
Sau khi nắm quyền, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã quốc hữu hóa các ngành
kinh tế, xây dựng một nền kinh tế tập trung. Kinh tế tăng trưởng nhanh trong thập
niên 1950 và thập niên 1960, sau đó bắt đầu giảm sút từ thập niên 1970 và rơi vào
khủng hoảng trầm trọng. Chính quyền ngày càng thiếu dân chủ. Tháng 11 năm 1989,
cuộc Cách mạng Nhung lụa diễn ra trong hòa bình, đưa đất nước Tiệp Khắc trở lại
quá trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, Tiệp Khắc diễn ra cuộc "chia li trong
hòa bình". Hai dân tộc Séc và Slovakia tách ra, thành lập hai quốc gia mới là Cộng
hòa Séc và Cộng hòa Slovakia.
1.3.1. Kế thừa về lãnh thổ:
Ban đầu, Séc và Slovakia là hai quốc gia độc lập, sau đó hợp nhất lại để
cùng chống chế độ Habsburg nên đã trở thành hai bang trong liên bang Tiệp Khắc,
sau khi tách ra lại trở thành hai nước độc lập.
Cộng hòa Slovakia: nằm ở Trung Đông Âu; phía Đông giáp Ukraine
(98km), Tây giáp Cộng hòa Czech (265km), Nam giáp Hungary (679km) và Áo

lý nên dĩ nhiên được coi là thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 2 tháng 2
năm 1950.
2.Trường hợp một bộ phận lãnh thổ của quốc gia tách ra thành một quốc
gia độc lâp:
2.1 Lý luận chung:
- Kế thừa lãnh thổ: Thông qua điều ước quốc tế được kí kết giữa quốc gia
kế thừa và nhận kế thừa.
- Kế thừa về quốc tịch: Dân cư được lựa chọn quốc tịch cho mình.
- Kế thừa tài sản: Theo thỏa thuận thông qua điều ước quốc tế.
- Kế thừa quy chế thành viên tại tổ chức quốc tế hoặc nghĩa vụ thành viên
điều ước quốc tế: Đây là một nội dung quan trọng được đặt ra khi giải quyết vấn đề
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia
18
kế thừa quốc gia. Quốc gia được tách ra từ một bộ phận lãnh thổ của quốc gia khác sẽ
không đương nhiên trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế như trường hợp
quốc gia tách ra từ nhà nước liên bang mà phải xin kết nạp là thành viên của các tổ
chức đó.
- Kế thừa điều ước quốc tế: Điều ước quốc tế mà phù hợp với nguyện
vọng của quốc gia kế thừa cũng như các bên tham gia điều ước còn lại thì sẽ vẫn có
hiệu lực đối với quốc gia kế thừa. Trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác
khiến các quốc gia kế thừa không đáp ứng đủ điều kiện là thành viên của điều ước.
2.2.Quốc gia áp dụng: Đông Timor (tách khỏi Indonêxia)
2.2.1. Kế thừa về lãnh thổ:
Khi tách khỏi Indonêxia năm 2002, lãnh thổ của Đông Timor bao gồm
phần Đông Bắc và một vùng nhỏ phía Tây của đảo Timor và hai đảo nhỏ phụ cận là
Cam Binh và GiaCô.
2.2.2. Kế thừa về quốc tịch:
Người dân sinh sống trên lãnh thổ Đông Timor, sau khi tách ra họ có
quyền giữ nguyên quốc tịch Inđônêxia hay đổi thành quốc tịch Đông Timor nhưng
không được giữ cả hai quốc tịch trên.Tuy nhiên trên thực tế thì đa số công dân của

- Ngày 30/7/1975 với cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn,Tổng thống
Dương Văn Minh buộc phải ra lệnh đầu hàng vô điều kiện trước lực lượng Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chính quyền Việt
Nam Cộng Hòa giải thể và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt
Nam thay thế chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý miền Nam Việt Nam. Ngày 2
tháng 7 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
tự giải tán và chính thức hợp nhất với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để ra
đời chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của một quốc gia Việt Nam
thống nhất.
1. Kế thừa về dân cư:
1.1. Năm 1945:
Sau thắng lợi của Cách Mạng tháng Tám 1975 chính phủ Việt Nam dân chủ
Cộng Hòa kế thừa toàn bộ dân cư trên lãnh thổ nhưng sau nạn đói kinh hoàng năm
1945 đã làm dân số Việt Nam giảm đi chỉ còn khoảng 20 triệu người trong đó có
90% dân số là mù chữ.
Môn: Luật quốc tế Đề tài: Kế thừa quốc gia
20
1.2. Năm 1975:
Nhìn chung toàn bộ dân cư Việt Nam trước và sau 1975 không có gì thay
đổi.Tuy nhiên cùng với niềm vui chiến thắng thì đất nước ta phải đón nhận một hiện
thực đau buồn:Hơn 125.000 người Việt Nam đã phải rời bỏ quê hương trong suốt
mùa xuân năm 1975 do lo sợ sự trả thù của người giành được chính quyền.Khoảng
20.000 người đến Châu Âu và các nước khác.
Năm 1977,một làn sóng thứ hai của người tị nạn lại tái diễn.Làn sóng di dân
này kéo dài cho đến thập niên 1980 lân thứ hai này chủ yếu là do vấn đề kinh tế khó
khăn trong nước, do chính sách của nhà nước và các thông tin tuyền truyền từ bên
ngoài nước.Họ vượt bằng nhiều con đường khác nhau mà chủ yếu bằng thuyền và
lịch sử gọi hiện tượng này là “Thuyền nhân”.
Sau các đợt “thuyền nhân” này,con số ước lượng người đã rời bỏ Việt Nam là
400.000 đến 500.000 người.Đây là một con số đáng kể so với dân số Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status