Lời nói đầu
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là th-
ờng xuyên nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng
tiện thanh toán.
Hai mảng hoạt động chính của NHTM là huy động và cho vay vốn,
đây là 2 mặt đối lập trong một chỉnh thể thống nhất là hoạt động kinh
doanh tiền tệ. Tất cả các NHTM đều sử dụng 1 lợng vốn lớn hơn nhiều
làm số vốn tự có của mình để cho vay. Để có đợc lợng vốn lớn đó, các
NHTM phải huy động từ nhiều nguồn trong xã hội và phải hoàn trả một
cách đầy đủ khi đến hạn. Trên cơ sở nguồn vốn đã huy động đợc công với
vốn tự có của mình, các NHTM sẽ đầu t trở lại cho nếu khi hai quá trình
huy động và cho vay vốn đợc tiến hành 1 cách bình thờng thì hoạt động
kinh doanh của NHTM sẽ diễn ra trôi chảy, thuận lợi. Nhng khi một
trong hai quá trình đó bị ách tắc thì sẽ gây ra những khó khăn cho hoạt
động của NHTM.
Nh vậy, hoạt động tín dụng (hoạt động cho vay vốn) của NHTM
không chỉ là một trong hai hoạt động chủ yếu của NHTM, đem lạo phần
lớn thu nhập cho NHTM mà còn là cách thức tài trợ vốn cho nền kinh tế.
Ngày nay trong quá trình đổi mới, cải tổ hệ thống ngân hàng; hoạt động
tín dụng của các NHTM ở Việt Nam không tránh khỏi những khó khăn,
vớng mắc. Trong dồ án này em xin trình bày những tìm hiểu của mình về
khó khăn mà các NHTM ở Việt Nam đang gặp phải trong hoạt động tín
dụng và những giải pháp để tháo gỡ khó khăn, góp phần mở rộng và nâng
cao hiệu quả hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam hiện nay.
Với mong muốn nh vậy, đề án sẽ bao gồm những phần sau:
I. Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị
trờng
1.1. Sự hình thành và phát triển của quan hệ tín dụng
1.2. Sự tồn tại khách quan của quan hệ tín dụng trong nền kinh tế
thị trờng.
liệu tiêu dùng và dần này sinh các quan hệ vay mợn dựa trên cơ sở tin t-
ởng lẫn nhau trong việc hoàn trả, là tiền thân của quan hệ tín dụng sau
này.
Trong giai đoạn đầu của xã hội, tín dụng đợc đặc trng bởi tín dụng
nặng lãi. Hình thức tín dụng này tồn tại phổ biến trong chế độ phong
kiến. Cơ sở tồn tại của tín dụng nặng lãi là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu,
phân tán phu thuộc vào điều kiện tự nhiên. Ngời vay vốn phần lớn là
những ngời có đời sống bấp bênh, ít có sản phẩm d thừa, trong đó nhu
cầu vốn thì lại lớn và cấp thiết nhằm duy trì buôn bán, kinh doanh, thậm
chí chỉ để đáp ứng nhu cầu tối thiểu trong đời sống. Những ngời có khả
năng cho vay thờng là những ngời giàu có, có nhiều quyền lực nh địa
chủ, quý tộc, quan lại và những ng ời chuyên cho vay nặng lãi.
Thông thờng, khi cho vay, ngời cho vay nặng lãi yêu cầu phải cầm
có đất đai, trâu bò, nhà cửa và sẵn sàng tớc đoạt hết tài sản này khi ngời
vay không trả đợc nợ.
Tín dụng nặng lãi đợc nhận dạng bởi các đặc điểm, đặc thù:
+Thứ nhất: lãi suất cao, nhiều lúc không chỉ ăn vào sản phẩm thặng
d mà còn ăn thêm vào sản phẩm tất yếu của ngời lao động, bởi thông th-
ờng cầu tín dụng lớn hơn cung tín dụng và các nhu cầu đó thờng là bấp
bênh, không thể trì hoãn
+Thứ hai: tín dụng nặng lãi thể hiện tính bóc lột đối với ngời đi
vay. Đây là hậu quả của đặc điểm trên.
+ Thứ ba: tín dụng nặng lãi thờng đáp ứng nhu cầu vốn cho tiêu
dùng hơn là cho sản xuất. Điều này cũng là hậu quả của đặc điểm thể
chất do mức lợi tức cho vay quá cao mà ngời vay không thể sử dụng vốn
vay vào mà sản xuất kinh doanh đợc.
Tín dụng nặng lại một mặt đã trở thành nhân tố kìm hãm sản xuất
xã hội, mặt khác đợc xem nh là một trong những nhân tố thúc đẩy kinh tế
tự cung, tự cấp tan rã, mở rộng kinh tế hàng hoá và tạo tiền đề cho chủ
nghĩa t bản ra đời.
+Thứ nhất: do tính chất vốn d thừa là tạo thời nhàn rỗi. Trong quá
trình luân chuyển vốn (T-H SX ..H-T ) có đặc điểm thừa và thiếu
vốn tạm thời. Csc đơn vị kinh tế, các cá nhân này có thu nhập nhng cha
cần phải tiêu hoặc chỉ tiêu cha hết. Các đơn vị, cá nhân thiết vốn một
cách tạm thời khi cha có thu nhập nhng đã có nhu cầu chi tiêu hoặc tổng
thu không đủ chi. Nh vậy, trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân sẽ xảy ra
một hoạt động thừa và thiếu vốn một cách tạm thời trong cùng một thời
gian. Trách nhiệm của nhà nớc là điều hoà nguồn vốn giữa nơi thừa sang
nơi thiếu để đảm bảo cho quá trình phát triển sản xuất của từng đơn vị
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong thực tế, có 2 phơng pháp điều
hoàn lại nguồn vốn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đó là:
- Thông qua con đờng tài chính, tức là cấp phát vốn mà không hoàn
lại.
- Thông qua con đờng tín dụng, tức là điều hoà vốn có hoàn lại.
Nh vậy, để điều hoà vốn một cách tạm thời thì chỉ có thể thông qua
con đờng tín dụng.
+ Thứ hai: do chế độ sở hữu khác nhau về vốn.
Đa dạng hoá sở hữu là nhân tố cơ bản của nền kinh tế thị trờng, tức
là trong nền kinh tế thị trờng có nhiều chủ sở hữu khác về vốn. Các
nguồn vốn thuộc các chủ sở hữu khác trong quá trình luân chuyển cũng
mang đặc điểm là thừa vốn và thiếu vốn một cách tạm thời. Do vậy, phải
có sự đòi hỏi chuyển hoá về vốn giữa các hình thức sở hữu khác nhau và
trong nội bộ từng hình thức sở hữu khác nhau và trong nội bộ từng hình
thức sở hữu. Sự chuyển hoá số vốn đó là không xâm phạm đến quyền sở
hữu của ngời chủ của nó. Do vậy, ở đây chỉ có thể thông qua con đờng tín
dụng có vay có trả.
+ Thứ ba: Do yêu cầu của chế độ quản lý kinh tế.
Chế độ quản lý đòi hỏi các doanh nghiệp đợc tự chủ về vốn và có
trách nhiệm bảo toàn vốn và phát triển vốn tự chủ sản xuất kinh doanh và
tiêu thụ sản phẩm để thực hiện thu bù chi có lãi, đồng thời thực hiện đầy
1.3.1.Cho vay tiền hay còn gọi là cho vay ứng trớc là nghiệp vụ
tín dụng trong đod ngời cho vay cam kết giao cho ngời đi vay một khoản
tiền và ngời đi vay cam kết sẽ hoàn trả sau thời gian nhất định. Giá trị
hoàn trả lớn hơn giá trị khoản vay, phần chênh lệch đó là lãi cho vay. Lãi
cho vay tỷ lệ với số lợng tiền và thời hạn vay. Loại cho vay dựa trên 3
nguyên tắc cơ bản:
- Tiền vay phải đợc hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi
- Vốn vay phải đợc sử dụng đúng mục đích
- Vốn vay phải có tài sản tơng đơng làm đảm bảo.
1.3.2. Cho vay dựa trên việc chuyển nhợng trái quyền: loại tín
dụng này chủ yếu dựa trên cơ sở mua bán các công cụ tài chính (hối
phiếu, lệch phiếu ), tạo ra nghiệp vụ chiết khấu th ơng phiếu của ngân
hàng, tức là mua nợ tính trên khoảng thời gian còn lại cho đến lúc đáo
hạn của thơng phiếu.
Trong loại tín phiếu này, về phơng diện pháp lý, ngân hàng không
phải chovay mà là đợc mua một trái quyền. ở đây, ngân hàng ứng trớc trị
giá của một thơng phiếu cha đến hạn và đổi lại ngân hàng nắm quyền sở
hữu trái quyền của thơng phiếu đó. Nh vậy, trong loại cho vay này, hành
vi thơng mại đã phát sinh, nên việc thu nợ có cơ sở vững chắc.
Cũng trong loại tín dụng này, khách hàng là chủ một trái quyền có
kì hạn, nhng muốn có vốn ngay lập tức nên họ phải yêu cầu các ngân
hàng cấp cho ngay số tiền đó trừ đi phần trả lại. Đổi lại, họ chuyển nhợng
trái quyền cho ngân hàng và khi đến hạn, ngân hàng đòi tiền ngời thụ trái
hoặc ngân hàng sẽ đem chiết khấu tại NHTW khi cần vốn. Nh vậy, tín
dụng dựa trên việc chuyển giao trái quyền cho ngân hàng chủ yếu là ph-
ơng thức chiết khấu, thơng phiếu và chuyển nhợng khoản cho vay nghề
nghiệp.
1.2.3. Cho vay qua cam kết bằng chữ ký
Trong hình thức tín dụng này, ngân hàng không ứng tiền ra, mà chỉ
cam kết khách hàng không trả đợc. Chính vì lí do bảo lãnh cho khách
- Những tín dụng thờng phát sinh từ một cam kết dứt khoát của
ngân hàng, hoặc là cấp một khoản tín dụng cụ thể, hoặc là mở một hạn
ngạch tín dụng cho khách hàng của họ. Khi chúng ta nói là mở tín
dụng, tức là khách hàng đợc tự do sử dụng khả năng này để yêu cầu
ngân hàng cho vay tới hạn ngạch đã thoả thuận khi mở tín dụng.
1.4.3. Tín dụng có thể huy động và tín dụng không thể huy động
- Tín dụng có thể huy động là những khoản tín dụng mà ngân hàng
có thể nhợng lại đợc tiền trớc kì hạn đã định.
- Tín dụng không huy động là tín dụng mà ngân hàng cấp ra không
thể đem chuyển nhợng để vay lai vốn.
1.4.4. Phân loại tín dụng theo phơng thức tạo lâp tiền tệ
Việc cấp phát tín dụng đợc thực hiện theo 2 cách: một là tiền tệ
hàng hoá các giấy nợ thơng mại do ngời vay lu giữ nhng cha đến kì hạn,
hai là cho vay đơn thuần.
- Tiền tệ hoá giấy tờ thơng mại
Nguyên tắc của nghiệp vụ này đơn giản: ngời cung ứng thoả thuận
một thời hạn chi trả với khách mua của nó. Để cụ thể hoá khoản nợ thơng
mại của nó, nó phát ra một hối phiếu mà khách hàng mua chấp nhận tuỳ
thuộc tình hình. Sau đó ngời cung ứng nhợng lại kì phiếu này cho chủ
ngân hàng của nó và nhận lấy tiền tệ đề bù lại. Đó là kỹ thuật rất quan
thuộc của chiết khấu thơng mại.
-Tiền cho vay đơn thuần trực tiếp:
Trái với trờng hợp trên, tín dụng đợc thoả thuận với khách mua chỉ
có thể theo một hình thức tiền cho vay phù hợp tuỳ theo tình hình với
việc nắm giữ thế chấp về của cải đợc mua (thế chấp xe hơi, cầm cố
nhà ). Trong quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các xí nghiệp sản
xuất và thơng mại ngời ra gọi đó là tín dụng ngời mua. Nếu cho vay đối
với t nhân, đó sẽ là tín dụng tiêu dùng hay nhà ở.
Ngoài những phân loại nh trên, tín dụng của NHTM còn đợc chia
thành: tín dụng ngân quỹ(cho vay vốn lu động), tín dụng thuê mua và tín
này là có thể cấp vốn 1 lần hoặc nhiều lần, còn khi hoàn trả (khác với vay
ngân hàng hẹn phải trả một lần) có thể trả vào 1 lần mà cũng có thể trả
theo thời gian biểu.
+ Cho vay trung dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế
quốc dân, là trung gian điều hoà lợng cung cầu vốn trong nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng làm nhiệm vụ thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa
đến nơi thiếu. Qua thực tế, chúng ta thấy rằng còn tồn tại quan hệ hàng
hoá tiền tệ thì hoạt động tín dụng không thể mất đi, mà trái lại ngày càng
phát triển mạnh mẽ.
+ Cho vay trung dài hạn tạo thị trờng sử dụng vốn ngắn hạn để
đầu t trang thiết bị doanh nghiệp, làm kích thích sản xuất phát triển. Do
đó, doanh nghiệp lại cần thêm nhiều vốn lu động hơn để đáp ứng nhu cầu
trớc mắt nh mua sắm nguyên liệu, thuê thêm nhân công, thuê đại lí bán
hàng Từ đó dẫn đến thị tr ờng vốn ngắn hạn đợc mở rộng theo tốc độ
phát triển sản xuất .
+ Cho vay trung dài hạn để phát triển ngành kinh tế theo chiều
sâu, đó là đầu t vào các công trình sản xuất, trang thiết bị, máy móc,
TSCĐ Do đó, thúc đẩy quá trình sản xuất nhiều loại sản phẩm, hàng
hoá để tiêu thụ trong nớc và để xuất khẩu. Việc xuất khẩu những hàng
hoá sẽ tăng nhiều ngoại tệ cho quốc gia và đảm bảo cán cân thanh toán
quốc tế.
+ Cho vay trung dài hạn giúp cho sản xuất phát triển, doanh thu
của các đơn vị sản xuất tăng. Các doanh nghiệp tăng thêm phần vốn góp
vào ngân sách nhà nớc, góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát
2.1. Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM
Tuy có những chuyển biến tích cực và đạt đợc một số thành quả
nhất đinh nhng tín dụng ngân hàng vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu trong
tình hình phát triển kinh tế theo cơ chế thị trờng ở nớc ta hiện nay.
Theo kết quả điều tra củ phòng thơng mại và công nghiệp Việt
Nam vào đầu năm 1999 thì phơng hớng phát triển trong tơnglao, 89% số
31/12/99 T/8 tăng, giảm so
với 31/12/98
T/8 tăng, giảm so
với 30/06/99
NHTMQD 17.902 20.075 20.220 +12.94 +0,72%
NHTMCP 10.429 11119 11.394 -9,25% +2,4%
NHLD 1.805 1.759 1.572 -12,9% -10,63%
NH nớc ngoài 5.269 5.367 5.592 +6,13% +4,19%
Tổng 35.405 38.320 38.778 +9,52% +1,19%
Vốn cho vay theo từng hệ thống ngân hàng
Đơn vị: tỷ đồng
31/12/98 30/06/9
9
31/12/99 T/8 tăng, giảm so
với 31/12/98
T/8 tăng, giảm so
với 30/06/99
NHTMQD 16.921 18.317 18.317 +8,25 +0,86%
NHTMCP 9.308 9.492 9.608 +3,22% +1,22%
NHLD 1.180 1.173 1.127 -4,49% -3,92%
NH nớc ngoài 9.619 9.974 9.940 +3,33% -0,34%
Tổng 37.028 38.799 38.992 +5,3% +0,49%
Mặc dù trong thời gian gần đây, chi nhánh ngân hàng nhà nớc tại
thành phố Hồ Chí Minh đã lập cả một Ban điều hành thống nhất điều
phối các ngân hàng tham gia đầu t trung dài hạn cho các dự án liên
quan tới cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bệnh viện, trờng học, nhà ở nh ng trong
8 tháng đầunăm 1999, số d nợ trung dài hạn của hệ thống NHTM quốc
doanh cũng chỉ tăng 7,4% và các NHTM cổ phần tuy có năng động hơn
song cũng phải bằng lòng với mức tăng 11,63%. Trong khi đó, số d tín
dụng của các ngân hàng liên doanh giảm 0,9% của các ngân hàng nớc
phép không thu nợ kể cả gốc và lãi. Công nợ chờ xử lý là những khoản nợ
hiện nay đang nằm trong các vụ án chờ cơ quan pháp luật xét xử hoặc các
khoản nợ cha xác minh đầy đủ nguồn gốc để xử lý. Cả ba loại này cộng
lại xem nh là tổng nợ tồn đọng của nền kinh tế.
Trên thế giới, ngân hàng nào trong quá trình hoạt động kinh doanh
cũng đều xảy ra tình trạng nợ quá hạn ở những mức độ khác nhau. Đây là
vấn đề rất bình thờng của các NHTM nhng ở Việt Nam hiện nay thì vấn
đề này lại trở nên không bình thờng chút nào. nếu nh tỷ lệ nợ quá hạn
của hệ thống NHTM Việt Nam vào năm 1991 là 8,8%, năm 1992 là
12,5%, năm 1993 ;à 9,6%, năm 1994 lfa 4,6%, năm 1995 là 3,5% thì tính
đến cuối năm 1999, tổng tỷ lệ nợ quá hạn của toàn bộ các tổ chức tín
dụng lên tới trên 10% so với tổng d nợ, điều này cũng có nghĩa là có
hàng chục ngàn tỷ đồng hiện nay đã trở thành vốn chết, không sinh lời
đợc. Đây thực sự là một con số có thể làm choáng váng bất cứ ai có chút
am hiểu về hoạt động tín dụng ngân hàng.
Nếu xét về tác hại của nợ quá hạn thì đối với bản thân các NHTM,
một tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh
doanh tiền tệ. Trớc hết, nó làm cho NHTM không thu hồi đợc vốn và lãi
đúng thời hạn đặt ra trong hợp đồng, và cho dù các khoản nợ quá hạn đó
có thể thu hồi lại đợc toàn bộ sau một thời gian quá hạn nhất định thì
điều đó cũng làm cho thời gian của một vòng quay vốn tín dụng thực tế
lớn hơn vòng quay vốn tín dụng đã thoả thuận. Nh vậy, nợ quá hạn đã
làm giảm tốc độ chu chuyển vốn tín dụng của NHTM dẫn đến giảm hiệu
quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng. Không
những thế, nợ quá hạn còn làm giảm khả năng thanh toán thậm chí làm
mất khả năng thanh toán của NHTM.
Trên giác độ vĩ mô, nợ quá hạn thực sự làm giảm tính tích cực của
hoạt động tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế. NHTM cấp tín dụng
cho khách hàng luôn vì mục đích cung cấp thêm vốn đầu t cần thiết cho
sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô của sản xuất và lu thông hàng hoá,
nớc còn doanh nghiệp ngoài quốc doanh chi là khách hàng dự trữ. Ông
Nguyễn Văn Phẩm, giám đốc sở giao dịch II, ngân hàng đầu t và phát