NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 64

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
I/ KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
1. Khái niệm
Thanh toán quốc tế (TTQT) là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về tiền
tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ
chức kinh tế Quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các Quốc gia khác nhau
để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các
hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại Ngân hàng.
Khác với thanh toán nội địa, TTQT thường gắn liền với việc trao đổi
giữa đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác. Nội tệ với chức
năng là phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán theo luật định trong
phạm vi một nước sẽ không thể vượt qua giới hạn của nó nếu như 2 bên liên
quan trong hợp đồng không có một thoả thuận nào cụ thể về vấn đề đó. Do
vậy khi ký kết các hợp đồng thương mại, tín dụng... các bên thường đàm
phán thống nhất về đồng tiền nào được sử dụng trong giao dịch, nó có thể là
đồng tiền của nước người bán hay của nước người mua hay có thể là đồng
tiền của một nước thứ 3. Các đồng tiền được sử dụng trong TTQT chủ yếu là
các loại ngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi tự do như USD, GBP... Những
năm gần đây do sự mất giá của đồng USD so với một số đồng tiền khác nên
vị trí của nó trên thị trường có phần giảm sút. Do đó một số đồng tiền của
các quốc gia khác như DEM, FRF, JPY ngày càng được sử dụng nhiều hơn
trong TTQT. Mặc dù vậy đồng USD, GBP vẫn giữ được vai trò chủ đạo của nó
trong TTQT, trong mua bán ngoại tệ bởi sự tiện lợi và nhanh chóng trong
việc thực hiện các giao dịch.
Hiện nay phần lớn việc chi trả trong TTQT được thực hiện thông qua điện
tín, bưu điện, mạng SWIFT hoặc qua các uỷ nhiệm thu, chi hộ lẫn nhau giữa
các Ngân hàng. Do vậy tỷ lệ trả bằng tiền mặt trong TTQT chiếm một phần
không đáng kể.
TTQT có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động kinh tế đối
ngoại nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, đặc biệt trong bối

Người ta phân loại thanh toán quốc tế như sau:
*) Xét về mặt kinh tế
+ Thanh toán mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh trên cơ sở hàng
hoá, dịch vụ thương mại kết hợp xuất nhập khẩu dựa trên giá cả Quốc tế.
Trong thanh toán mậu dịch, các bên liên quan sẽ bị ràng buộc với nhau theo
theo các hợp đồng đã ký kết hoặc cam kết thương mại. Nếu 2 bên không ký
hợp đồng chỉ có đơn đặt hàng thì sẽ căn cứ vào các đại diện giao dịch.
+ Thanh toán phi mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh không liên
quan đến hàng hoá, không mang tính chất thương mại. Đó là chi phí của các cơ
quan ngoại giao ở nước sở tại, các chi phí vận chuyển và đi lại của các đoàn
khách, chính phủ, các tổ chức, cá nhân.
*) Xét về mặt hình thức
+ Phương thức thanh toán chuyển tiền
+ Phương thức thanh toán nhờ thu
+ Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
2. Vai trò của TTQT đối với hoạt động kinh tế đối ngoại & hoạt động
kinh doanh của ngân hàng
2.1. TTQT đối với hoạt động kinh tế đối ngoại
+ TTQT là khâu quan trọng trong quá trình trao đổi mua bán hàng hoá,
dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không
có hoạt động TTQT thì không có hoạt động kinh tế đối ngoại.
+ TTQT là cầu nối giữa các quốc gia trong quan hệ kinh tế đối ngoại. Khi
thiết lập mối quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ thương mại giữa các nước thì
điều kiện quan trọng không thể thiếu được là phải thiết lập quan hệ TTQT.
+ TTQT hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối
ngoại. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý của các bạn hàng cách
xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng thanh toán
của người mua, đồng thời trong điều kiện tiền tệ thường xuyên biến động thì
khả năng thanh toán của con nợ bấp bênh, và việc thực hiện hợp đồng TTQT
ngày càng nhiều thì việc tổ chức tốt hoạt động TTQT sẽ giúp cho các nhà kinh

nào đó, vì vậy trong các hiệp định và hợp đồng đều có qui định việc sử dụng
đồng tiền nào để tính toán và thanh toán đồng thời cũng qui định cách xử lý
khi giá trị đồng tiền đó biến động.
Việc sử dụng đồng tiền nào là tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán
ngoại thương, trong hiệp định thương mại và trả tiền giữa các nước nói chung
phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
- Sự so sánh lực lượng của hai bên mua và bán;
- Vị trí của đồng tiền đó trên thị trường quốc tế;
- Tập quán sử dụng đồng tiền thanh toán trên thế giới;
- Đồng tiền thanh toán thống nhất trong các khu vực kinh tế trên thế
giới.
Khi tiến hành thanh toán, bên nào cũng muốn dùng đồng tiền của nước
mình vì có những điểm lợi sau đây:
- Có thể nâng cao địa vị đồng tiền nước mình trên thị trường thế giới;
- Không phải dùng đến ngoại tệ để trả nợ nước ngoài;
- Có thể tránh được rủi ro do tỷ giá tiền tệ nước ngoài biến động gây ra;
- Có thể tạo điều kiện tăng thêm xuất khẩu hàng của nước mình.
Địa vị của yên Nhật Bản, Mác Đức, trong những năm gần đây được nâng
cao nhờ cán cân ngoại thương và cán cân thanh toán vãng lai của họ
thường dư thừa, nhưng các đồng tiền này vẫn chưa được sử dụng rộng
rãi trong thanh toán quốc tế như bảng Anh và đô la Mỹ, vì tỷ trọng xuất
nhập khẩu trong mậu dịch quốc tế của các nước này chưa lớn lắm so với
Anh , Mỹ và khối lượng nghiệp vụ thanh toán quốc tế của thị trường ngoại
hối ở các nước này không nhiều bằng thị trường London và New York.
Đồng phrăng Thuỵ Sĩ từ lâu nay được coi là đồng tiền tự do “cứng” trên
thế giới, nhưng vì ngoại thương của nước này chiếm tỷ trọng nhỏ trong
mậu dịch quốc tế, thị trường vốn của nước này bé nhỏ, nên phrăng Thuỵ
Sĩ không được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế.
Trong thanh toán ngoại thương, có những mặt hàng phải thanh toán
bằng một loại tiền tệ nhất định thường là những hàng nguyên liệu quan

- Tiền tệ tính toán (Account currency): là tiền tệ được dùng để thể hiện
giá cả và tính toán tổng giá trị hợp đồng.
- Tiền tệ thanh toán (Payment currency): là tiền tệ được dùng trong
thanh toán nợ nần, thanh toán trong hợp đồng mua bán ngoại
thương.
2. Các phương tiện thanh toán quốc tế
2.1. Séc (Cheque)
Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản tiền gửi ra
lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trên tờ
séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy, hoặc trả cho người cầm séc một số tiền
nhất định bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản.
Séc là một phương tiện TTQT được sử dụng trong thanh toán nội địa và
quốc tế về cả hàng hoá, dịch vụ và phi mậu dịch.
Đặc điểm của séc:
+ Séc chỉ được phát hành 1 bản
+ Séc có giá trị thanh toán như tiền
+ Séc có tính chất thời hạn, tờ séc chỉ có giá trị tiền tệ hay thanh toán nếu
thời hạn hiệu lực của nó chưa hết
+ Người ký phát séc là chủ tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
+ Người hưởng lợi là người có tên trên tờ séc
Các loại séc
*) Căn cứ vào tác dụng lưu chuyển
+ Séc đích danh: là loại séc mà trên đó ghi tên người hưởng lợi, loại séc
này không thể chuyển nhượng bằng hình thức ký hậu.
+ Séc vô danh: là loại séc mà trên đó không ghi tên người hưởng séc,
người hưởng lợi là bất kì người nào cầm tờ séc.
+ Séc theo lệnh: là loại séc ghi rõ trả theo lệnh của người thụ hưởng, séc
được chuyển nhượng theo thủ tục ký hậu. Trong TTQT loại séc này được sử
dụng rộng rãi.
*) Căn cứ vào đặc điểm sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status