1 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Bàn về mối quan hệ giữa xây dựng,
mối quan hệ độc lập tự chủ và quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.”
2
Đề cương chi tiết.
A. Đặt vấn đề.
B.
Nội dung:
I. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
và hội nhập kinh tế quốc tế.
1. Những quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ.
2. Những quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế.
nhập kinh tế quốc tế.
2. Điều kiện và giải pháp chủ yếu để bảo đảm tự chủ về kinh tế
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
C. Kết luận.
D.
Danh mục tài liệu tham khảo.
4
5
B. NỘI DUNG:
I. Quan diểm của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và
hội nhập kinh tế quốc tế.
1. Những quan diểm của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ.
Độc lập tự chủ là khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Trải
qua biết bao gian nan, hi sinh máu và nước mắt, nhân dân ta mới đánh
đuổi được ngoại xâm giành được độc lập tự do và ngày nay, bằng nỗ
gia, dân tộc mình trong cuộc cạnh tranh kinh tế gay gắt và để xây dựng
cho mình một vị thế chính trị nhất định trên trường quốc tế.
Độc lập tự chủ về kinh tế phải đăt trong mối quan hệ biện chứng
với độc lập tự chủ về chính trị và các mặt khác để tạo thành sức mạnh
tổng hợp và độc lập tự chủ của một quốc gia.
“Một nền kinh tế độc lập tự chủ phải là một nền kinh tế phát triển
toàn diện, có khả năng tự thoả mãn những nhu cầu mọi mật của dời
sống xã hội, của an ninh, quốc phòng và quá trình tái sản xuất, không bị
lệ thuộcvào nước ngoài cả từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, để
có thể vận hành một cách bình thường và đảm bảo được nền tảng cho
việc duy trì an ninh quốc gia.” <12.27>
Một sự tự chủ về kinh tế củng có nghĩa là nền kinh tế đó cũng có
khả năng thích ứng cao với những biến động của tình hình quốc tế (như
những trấn động thị trường của khủng hoảng kinh tế tài chính ở bên
ngoài) và rất ít bị tổn thương trước những biến động đó, trong bất kỳ
tình huống nào nó cũng có thể cho phép duy trì được các hoạt động
7
bình thường của xã hội và phục vụ đắc lực cho các mục tiêu như an
ninh, quốc phòng của đất nước.
Một sự tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là trước sự bao vây, cô lập,
chống phá về kinh tế, chính trị của các thế lực thù địch bễn trong và bên
ngoài đất nước cũng không bị đổ vỡ về chính trị và kinh tế. Như vậy
độc lập về kinh tế cũng có nghĩa đảm bảo vững chắc cho định hướng xã
hội chủ nghĩa theo đường lối, chủ trương mà Đảng và nhân dân ta đã
lựa chọn.
“Khác hẳn trước đây, khi nói đến độc lập tự chủ của nhiều kinh tế
khép kín, tự cung tự cấp ít giao lưu với thị trường quốc tế. Ngày nay
trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế độc
lập tự chủ phải là độc lập tự chủ trong phát triển nền kinh tế thị trường
mở cửa, hội nhập thế giới, chủ động tích cực tham gia sự giao lưu, hợp
như vũ bão, trình độ quốc tế hoá sản xuất và đời sống nhân loại đang
tăng lên mạnh mẽ, Đại hội IX của Đảng đã đưa ra quan điểm hội nhập
kinh tế khác hẳn tình trạng bị bao vây, cô lập, đóng cửa.
“Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mở rộng, giao lưu kinh tế và
khoa học công nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu; là quá trình
tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội có tính chất toàn cầu như
vấn dề dân số, tài nguyên, thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống… là quá
trình loại bỏ dần các hàng rào thuế quan trong thương mại quốc tế,
thanh toán quốc tế và viêc di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các
nước” <13.38>
Đảng ta cũng khẳng định: “Chủ động hôi nhập kinh tế là hành vi
có ý thức, tự giác của các quốc gia, doanh nghiệp trong việc xây dựng
9
và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược đầu tư,
sản xuất kinh doanh trên cơ sở lộ trình, hình thức và bước đi đã lựa
chọn nhằm phát huy có hiệu quả những lợi thế của đất nước và tránh
được những tác động tiêu cực vào đất nước trong quá trình hội nhập
vào nền kinh tế của quốc gia trong khu vưc và trên thế giới.” <13.38>
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cũng chính là quốc tế xúc tiến,
chuẩn bị tốt các điều kiện và đẩy nhanh các cuộc đàm phán song
phương, đa phương để quốc gia ra nhập có hiệu quả vào các liên kết
kinh tế khu vực và toàn cầu.
2.2.Các quan điểm và nguyên tắc của Đảng ta trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế:
Quán triệt chủ trương được xác định tại Đại hội IX là:“Chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội
lực, nâng cao hiều quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định
hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giử
gìn bản sắc văn hoá dân tộc,bảo vệ môi trường” <15.120>
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong quốc tế
1997.Vì thế các nứoc và các khu vực thay đổi theo:
Kinh tế Mỹ phát triển nhanh và ổn định liên tục trong nhiều năm
và đến năm 2002 bắt đầu suy giảm; kinh tế Tây Âu không còn phát
triển nhanh như các thập kỷ trước; kinh tế Nhật suy thoái chưa có lối ra;
các nước thuộc Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu rơi vào tình
trạng suy thoái kéo dài, vài năm gần đây tăng trưởng tương đối khá;
kinh tế Trung Quốc phát triển ngoại mục; Đông Nam Á và Đông Á phát
triển nhanh vào bậc nhất thế giới trong những thập kỹ trước, tuy nhiên
11
vừa qua đã rơi vào suy thoái và nay đang hồi phục; Nam Á và nhất là
Châu Phi vẫn chưa thoát khỏi tình trạng trì trệ kéo dài; kinh tế Mỹ
Latinh còn khá hơn song vẫn chưa ổn định.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão. Nó
đang tác động đến tất cả các nước trên thế giới với những mức độ khác
nhau, đưa lại những thành quả cực kỳ to lớn cho nhân loại và những
hậu quả xã hội hết sức sâu sắc. Công nghệ thông tin đang là nhân lõi
của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nó phản ánh giai
đoạn mới về chất của sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần
chủ yếu trong sản phẩm. Công nghệ sinh học là bước đột phá vào thế
giới đầy bí hiểm cuả cuộc sống, tạo ra một tiềm năng to lớn cho việc
sản xuất ra các vật phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người như lương
thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các vật liệu công nghiệp thoả mãn
nhu cầu ngày càng tăng của con người.
Công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệ
hàng không vũ trụ… mở ra một tiềm năng mới cho loài người chinh
phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ. Tự động hoá trong sản xuất ngày
càng giải phóng con người khỏi nhưng công viêc nặng nhọc, nguy
hiểm, tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ xã hội.
Xu thế toàn cầu hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng đến cơ
sở của tất cả các đân tộc trên thế giới. Ngày nay các nền kinh tế của các
của mình về một trật tự kinh tế bình đẳng và công bằng.
Ở khu vực Đông Nam Á đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc. Mặc
dù trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính trầm trọng trọng trong
thời gian qua (1997 – 1998) song vẫn là khu vực có nhiều tiềm năng
13
cho vị trí và địa lý kinh tế của mình, dung lượng thị trường lớn, tài
nguyên phong phú, lao động rồi rào được đào tạo tốt, có quan hệ quốc
tế rộng rãi.
Toàn bộ tình hình trên đã đem lại nhiều thuận lợi, đồng thời cũng
tạo ra nhiều thách thức gay gắt với nước ta trong quá trình phát triển đất
nước nói chung và quá trình hội nhập kinh tế nói riêng.
Như vậy cùng với tình hình thế giới và khu vực hội nhập kinh tế
quốc tế là xu thế tất yếu, là yêu cầu khách quan của Việt Nam trong quá
trình phát triển kinh tế hiện nay.
2. Con đường hội nhập kinh tế ở Việt Nam và các thành công bước
đầu.
2.1. Các bước đi cuả nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế.
Năm 1993, chúng ta đã công khai quan hệ với các tổ chức tài
chính tiền tệ quốc tế như: quỹ tiền tệ quốc tế IMF, ngân hàng thế giới
WB, ngân hang phát triển Châu Á ADB. IMF và WB đã hỗ trợ cho ta
thông qua chương trình tín dụng trung hạng; chương trình điều chỉnh cơ
cấu SAC của WB và chương trình điều khiển cơ cấu mở rộng ESAF
của IMF. Nội dung đàm phán với các tổ chức này gắn bó mật thiết với
những yêu cầu của tổ chức thương mại quốc tế WTO. Trong quan hệ
với cơ sở các tổ chức này ta chỉ chấp nhận sự hỗ trợ tài chính nếu yêu
cầu của họ không trái vơí đường lối chính sách của ta, có năm điều kiện
họ đưa ra vi phạm chủ quyền và lợi ích của ta nên đã bị ta bác bỏ.
Ngày 25/7/1995 nước ta chính thức ra nhập ASEAN, đồng thời
tham ra khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), cam kết thực hiện
2.2. Những thành công bước đầu của Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế.
Do quán triệt tốt mục tiêu quan điểm chỉ đạo và nhiệm vụ cụ thể
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nên hơn một thập niên qua
cùng với những bước đi đầu tiêu của mình chúng ta đã đạt được những
kết quả quan trọng trên các mặt: thương mại, đầu tư, ngoại giao…
Chúng ta đã đẩy lùi được chính sách bao vây cấm vận, cô lập về
kinh tế của các thế lực thù địch. Tạo được môi trường kinh tế với 150
quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Trao đổi hàng hoá ngày càng tăng lên
đáng kể, hàng hoá Việt Nam đã xâm nhập vào thị trường trên thế giới.
Các ngành công nghiệp của ta từ chỗ không có mặt hàng nào có sức
cạnh tranh đến nay đã có trên 200 mặt hàng được đánh giá là có khả
năng tạo được chỗ đứng trên thị trường quốc tế.
Trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài chúng ta đã đạt
được những thành quả đáng khích lệ "Tính đến tháng 12/2001 chúng ta
đã thu được hơn 41,5 tỉ USD. FDI của hơn 70 quốc gia và lãnh thổ trên
thế giới, trong đó đầu tư vào công nghiệp và xây dựng chiếm 51% trong
tổng số 3631 dự án FDI được cấp phép đầu tư ở nước ta. Riêng các
nước thành viên ASEAN, từ đầu năm 2002 đến nay đã đầu tư thêm 54
dự án với tổng số vốn đăng kí là 133,6 triệu USD, nâng tổng số dự án
của hiệp hội đầu tư vào Việt Nam lên 530 dự án với tổng số vốn là 9,6
tỉ USD tạo việc làm cho khoảng 50.000 lao động trực tiếp. Trong 10
tháng qua (2002) Malaixia dẫn đầu các nước ASEAN trong lĩnh vực
đầu tư vào Việt Nam với 21 dự án trị giá 67,3 triệu USD. Cùng với vốn
FDI chúng ta còn tiếp nhận một lượng vốn không nhỏ qua kênh ODA.
Nguồn vón ODA thực sự có ý nghĩa quan trọng trong phát triển cơ sở
hạ tầng trong Việt Nam. Tính ra mức vốn nước ngoài hiện nay chiếm
16
khoảng 30,5 tổng số vốn đầu tư xã hội. Tỷ lệ đóng góp của khu vực có
vốn đầu tư trong GDP đều tăng lên qua hàng năm. Điều quan trọng đó
Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế
vào môi trường cạnh tranh, nhờ đó tạo được uy tín làm ăn mới thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực
đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng,
không ngừng vươn lên trong cạnh tranh và phát triển, và thực tế sức
cạnh tranh của họ cũng nâng lên đáng kể. Một tư duy mới, một nếp làm
ăn mới, lấy hiệu quả sản xuất và kinh doanh làm thước đo, một đội ngũ
các nhà doanh nghiệp năng động, sáng tạo có kiến thức quản lý đang
hình thành.
Kết hợp nỗ lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp góp
phần đưa đến những thành tựu kinh tế to lớn và nhờ đó giúp chúng ta
tiếp tục giữ vững, củng cố độc lập tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa,
an ninh quốc gia, bản sắc văn hoá dân tộc. Thực hiện hội nhập thời gian
qua cho thấy: Đảng ta và Nhà nước ta có đủ bán lĩnh khắc phục khó
khăn vượt qua thử thách, khai thác các lợi thế trên thị trường thế giới,
bảo đảm sự phát triển của đất nước theo đúng định hướng xã hội chủ
nghĩa.
3. Những thuận lợi và yếu kém còn tồn tại khi xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3.1. Những mặt thuận của hội nhập kinh tế đối với việc xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ.
18
Ngày nay, toàn cầu hoá diễn ra rộng khắp, và vấn đề hội nhập
kinh tế quốc tế trở thành yếu tố tất yếu khách quan. Nó đem lại cho đất
nước ta những mặt thuận lợi để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực để
nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh
nghiệp. Quá trình này buộc chúng ta phải đối mặt với sự cạnh tranh
ngày càng tăng của các nước và giữa các doanh nghiệp cả trong nước
với quá trình hình thành nền kinh tế độc lập tự chủ của nước ta.
Toàn cầu hoá làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước trên
nhiều phương diện đặt biệt là kinh tế từ đó làm suy giảm hay hạn chế sự
độc lập tự chủ về kinh tế của các nước theo quan niệm truyền thông.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy phân công lao
động quốc tế theo hướng mới nước tập trung vào các ngành, lĩnh vực họ
có ưu thế và hiệu quả kinh tế cao, do vậy, ít chú ý hoặc bỏ rơi hẳn
những ngành, những lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp.
Toàn cầu hoá làm tăng sự lưu chuyển của các nguồn vốn mà
chính phủ không dễ kiểm soát được.
Nó cũng làm cho những dòng FAI đó vào các nước ngày càng
nhiều hơn. Ngày nay FDI chủ yếu do các Công ty xuyên quốc gia cung
cấp, chúng có thế lực hùng mạnh, cắm chân rết trên khắp thế giới. Có
thể ít bài học lịch sử về sự can thiệp làm khuynh đảo kinh tế và chính trị
của nhiều nước bởi các công ty xuyên quốc gia.
Tóm lại, về lâu dài quá trình toàn cầu hoá sẽ làm mờ đi biên giới
giữa không gian kinh tế quốc gia và dần dần hình thành nên những
không gian kinh tế rộng lớn hơn bao bao gồm nhiều nước và lãnh thổ
20
kinh tế. Các nền kinh tế quốc gia sẽ mất đi tính độc lập tương đối như
hiện nay, trở thành những thực thể kinh tế giống như là bộ phận của
một quốc gia rộng lớn hơn.
3.3. Những yếu kém và tồn tại cần giải quyết trong thời gian tới.
Chưa làm tốt công tác chuẩn bị khi công cuộc hội nhập kinh tế
chuyển qua bước mới. Tuy chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được
khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng và trên thực tế đã được
thực hiện từng bước, nhưng nhận thức hội nhập chưa đạt được sự nhất
trí cao, ảnh hưởng tới quá trình đề xuất chính sách và triển khai thực
hiện. Hội nhập kinh tế quốc tế trong xu hướng toàn cầu hoá, khu vực
hoá đang phát triển mang lại cả thời cơ lẫn thách thức lớn. Trong khi
mà nước mình tham gia, vừa phù hợp với đặc thù của nước ta, đặc biệt
là bảo đảm được định hướng xã hội chủ nghĩa. Ta cũng chưa nghiên
cứu sâu để đề xuất những biện pháp chính sách cần thiết, những cách
làm khôn khéo, hợp lý nhằm tận dụng những ưu đãi mà quốc tế dành
cho nước đang phát triển và kém phát triển như quy chế tối hậu quốc,
đãi ngộ quốc gia, chế độ hạn ngạch thuế quan quyền tự vệ, chống bán
phá giá bảo vệ lợi ích của ta.
Doanh nghiệp của ta còn yếu cả về sản xuất, quản lý và khả năng
cạnh tranh. Doanh nghiệp nước ta hầu hết quy mô nhỏ, yếu kém về cả
hai mặt quản lý và công nghệ, lại hình thành và h quá lâu trong cơ chế
bao cấp. Chúng ta chưa tạo đủ cơ chế, biện pháp có hiệu lực nhằm kích
thích các doanh nghiệp gắn sự tồn tại và phát triển của mình với việc
cải tiền sản xuất kinh doanh với khả năng cạnh tranh trên thương
trường quốc tế.
22
Đội ngũ cán bộ yếu, công tác tổ chức chỉ đạo chưa thích hợp,
nhược điểm lớn nhất là trình độ non yếu của đội ngũ cán bộ, không chỉ
về trình độ hiểu biết mà có trường hợp cả về phẩm chất đạo đức. Đây là
nguyên nhân sâu xa của những khuyết điểm thiếu sót trong hợp tác kinh
tế với nước ngoài, của việc để những lối sống, tập quán phi đạo đức,
trái thuần phong mỹ tục của dân tộc xâm nhập vào đời sống xã hội của
ta. Cán bộ làm công tác hợp tác quốc tế, nhất là cán bộ đàm phán quốc
tế hiểu biết không đầy đủ, ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này, chưa đủ
trình độ ngoại ngữ, nhất là khi lĩnh vực và quy mô hợp tác được mở
rộng.
Cán bộ doanh nghiệp cũng ít hiểu biết về hợp tác quốc tế, về kỹ
thuật kinh doanh. Đội ngũ công nhân lành nghề chưa được đào tạo
đúng.
III. Những giải pháp để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
công quyền. Bộ máy hành chính hoạt động kém hiệu quả, không thích
ứng với các nước phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế cũng có tác
động tiêu cực, cản trở tiến trình hội nhập. Tuy nhiên cũng phải thấy
rằng, trong buổi ban đầu của lộ trình hội nhập, khi phải đối mặt với môi
trường kinh doanh quốc tế đầy biến động và bất trắc, các quốc gia đang
phát triển bao giờ cũng phải gặp những khó khăn, chịu những áp lực rất
lớn như: thiếu hiểu biết về các thông lệ quốc tế, chưa có tính thương
trường non yếu về nghiệp vụ kinh doanh quốc tế Điều đó đòi hỏi các
quốc gia này phải giải quyết những vấn đề mâu thuẫn giữa phát huy
nguồn nội lực, kết hợp các yếu tố ngoại lực trong tiến trình hội nhập,
24
nâng cao năng lực cạnh tranh trên cả 2 cấp độ (doanh nghiệp và quốc
gia).
1.2. Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế ở cấp độ vĩ mô.
Chiến lược tổng thể về tiến trình hội nhập của nhà nước cần hoàn
thiện và nâng cao ở cấp độ mới trong sự liên kết với từng ngành, từng
địa phương trong phạm vi cả nước. Lộ trình hội nhập phải có bước đi
cụ thể và thích hợp với từng ngành nghề, loại hình doanh nghiệp trong
đó cần phải chỉ ra được lợi thế so sánh so với sản phẩm cùng loại trên
thị trường quốc tế (về chất lượng mẫu mã, giá cả và người cung cấp).
Đồng thời cần có chính sách ưu tiên đối với những sản phẩm chiến lược
quyết định đến tốc độ tăng trươngr kinh tế như: Dầu khí, điện, xi măng,
vật tư nông nghiệp; chú trọng phát triển các loại sản phẩm có hàm
lượng chất xám chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm, nhất là
các sản phẩm thuộc công nghệ thông tin và công nghệ sinh học vì đó là
những sản phẩm đặc trưng của kinh tế tri thức, hướng phát triển mới
của thế giới. Các loại hình có độ nhạy cảm cao như: Công nghệ thông
tin, bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng và các hoạt động dịch vụ
khác cần ưu tiên phát triển. Muốn tăng tỷ trọng của các ngành dịch vụ
trong cơ cấu GDP; nhằm hạ giá thành sản phẩm để không ngừng nâng
doanh là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
trong quá trình hội nhập. Các doanh nghiệp cần tiếp cận các hình thức
kinh doanh mới: thương mại điện tử, ngân hàng điện tử. Chúng là
phương tiện trợ lực quan trọng để có thể mở rộng và gia tăng thị phần
sản phẩm trên thị trường trên thế giới.