Mạng quang chuyển mạch tự động ASON - Pdf 12

LỜI NÓI ĐẦU
Thế kỷ 21 đánh dấu sự bùng nổ mạnh mẽ lưu lượng truyền tải trên hạ tầng mạng
viễn thông. Các công nghệ truyền tải không ngừng được cải tiến cũng như thay mới
nhằm đáp ứng nhu cầu không hạn chế của người sử dụng. Thời kỳ đầu của truyền tải
quang với công nghệ truyền dẫn PDH giản đơn và thiếu đồng bộ được thay thế bằng
công nghệ truyền dẫn đồng bộ SDH và hoàn thiện hơn nữa là công nghệ WDM. Thế
nhưng WDM vẫn chưa phải một giải pháp công nghệ tối ưu cho nhu cầu bất tận về
băng thông của người sử dụng. Với dự tính trong tương lai rõ ràng WDM bộc lộ rất
nhiều hạn chế và cần phải được thay thế bằng một công nghệ mới hoàn thiện hơn.
Vào những năm đầu thế kỷ ITU-T đã đưa ra một khái niệm mạng truyền tải mới,
mạng quang chuyển mạch tự động ASON. ASON ra đời với khát vọng khắc phục
được những nhược điểm của công nghệ truyền tải cũ, mở rộng dung lượng, linh hoạt
hơn trong điều khiển và quản lý. Có thể nói ASON không phải một công nghệ truyền
tải hoàn toàn mới mà nó được xây dựng trên nền tảng của công nghệ truyền tải WDM
nhưng phần quản lý và điều khiển được tách biệt với phần truyền tải. Do đó ASON ổn
định và linh hoạt hơn rất nhiều trong điều khiển và quản lý mạng.
Được sự đồng ý của Học viện, bộ môn Thông tin quang và đặc biệt được sự
hướng dẫn nhiệt tình của KS. Lê Thanh Thủy em đã mạnh dạn đi vào tìm hiểu mạng
quang chuyển mạch tự động ASON làm đề tài cho đồ án tốt nghiệp lớp đại học chính
quy khóa 2005-2009 của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Đồ án gồm 3
chương:
Chương 1: Tổng quan về mạng quang chuyển mạch tự động ASON
Chương 2: Báo hiệu và định tuyến trong mạng quang chuyển mạch tự động
ASON
Chương 3: Giải pháp ASON của Huawei.
Chương 1 tập trung tìm hiểu về những vấn đề cơ bản của ASON như các kiến
trúc: kiến trúc logic và kiến trúc chức năng; các giao thức thường được sử dụng, cũng
như các chức năng mạng được hỗ trợ bởi ASON.
Báo hiệu và định tuyến là những vấn đề trọng tâm của mạng quang chuyển mạch
tự động. Chương 2 tập trung xem xét các yêu cầu đối với báo hiệu và định tuyến của
mạng ASON được nêu ra trong 2 khuyến nghị mở của ITU-T đó là khuyến nghị

hình dịch vụ nhanh chóng.
• Mạng truyền dẫn quang WDM truyền thống cần nhiều tài nguyên dự phòng
và thiếu các kiểu bảo vệ dịch vụ tiên tiến với chức năng khôi phục và định tuyến.
Để khắc phục các nhược điểm trên và phù hợp với cấu hình mắt lưới mà các mạng
truyền tải quang sẽ được áp dụng rộng rãi trong tương lai, một mạng truyền tải quang thế
hệ mới ra đời đó là mạng quang chuyển mạch tự động ASON (Automatically Switched
Optical Network). ASON là mạng quang chuyển mạch tự động dựa trên mặt bằng điều
khiển chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát (GMPLS).
Các nhà điều hành mạng trông đợi các đặc trưng ưu việt từ ASON như dự phòng
nhanh, điều hành mạng dễ dàng hơn, độ tin cậy mạng cao hơn, khả năng mở rộng, dễ
dàng thiết kế và lập kế hoạch hơn. Dự phòng các kênh quang trong thời gian phút thậm
chí là giây sẽ mở ra một cơ hội mới để tận dụng tài nguyên tốt hơn, tạo ra nhiều dịch vụ
mới, ví dụ như một số cơ chế phân bố lưu lượng. Các tài nguyên của mạng quang có thể
được kết nối tự động tới các mô hình lưu lượng dữ liệu trong các mạng khách hàng. Tạo
một mặt phẳng điều khiển tách biệt sẽ tác động đáng kể tới việc quản lý và điều hành
mạng. Các cơ chế bảo vệ và phục hồi cho các mạng truyền tải quang kiểu mesh sẽ cải
thiện độ tin cậy yêu cầu từ khách hàng. Mặt phẳng điều khiển chuẩn sẽ cho phép tái sử
dụng các giao thức hiện tại và giảm sự cần thiết của các hệ thống hỗ trợ điều hành mở
rộng để quản lý cấu hình. ASON thực hiện cấu hình dịch vụ từ đầu cuối tới đầu cuối. Để
cấu hình một dịch vụ, bạn chỉ cần xác định node nguồn và node đích của nó và kiểu bảo
vệ; mạng tự động thực hiện các hoạt động được yêu cầu. Trong ASON, chức năng khôi
phục động được sử dụng để phục hồi động các dịch vụ.
Trong chương này sẽ tìm hiểu những vấn đề cơ bản của ASON.
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 2 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 1 Tổng quan về ASON
1.1 Kiến trúc ASON
ITU-T định nghĩa khái niệm mạng quang chuyển mạch tự động ASON là một mạng
truyền tải quang có khả năng kết nối động. Khả năng này được thực hiện bởi một mặt
phẳng điều khiển thực hiện các chức năng điều khiển kết nối và cuộc gọi.
Kiến trúc của ASON chia làm 3 mặt phẳng chính là mặt phẳng truyền tải, mặt phẳng

điều khiển kết nối (CCI) giữa các thành phần của mặt phẳng điều khiển và mặt phẳng
truyền tải, và 2 loại giao diện quản lý mạng (NMI) giữa mặt phẳng quản lý và 2 mặt
phẳng còn lại. CCI cho biết các thành phần mạng, ví dụ, một kết nối chéo quang, để thiết
lập các kết nối giữa các cổng được chọn. Các giao diện quản lý mạng được sử dụng giữa
các hệ thống quản lý mạng (ví dụ, mạng quản lý viễn thông cơ sở (TMN)) và các mặt
phẳng điều khiển (NMI-A) và truyền tải (NMI-T).
Mặt phẳng quản lý
Mặt phẳng
điều khiển ASON
Mặt phẳng
truyền tải ASON
PI
E-NNI
I-NNIUNI
X
NMI-A
NMI-T
CCI
CCI
Tới các mạng khác
NMS
CCCC
NENE
Mặt phẳng
điều khiển
mạng khách hàng
Mặt phẳng
truyền tải
mạng khách hàng
Hình 1-2 Cái nhìn logic về kiến trúc ASON

TE link
Thiết bị người
sử dụng
Hình 1-3 Kiến trúc chức năng ASON
Node ID là nhận dạng duy nhất của ASON NE trong mặt phẳng điều khiển. Dạng
của Node ID giống như địa chỉ IP.
Giao thức quản lý liên kết (LMP)
Báo hiệu
R S VP-TE
Đ ịnh tuyến
OSPF-TE
Truyền thông và điều khiển
Giao diện
WD M/Khách hàng
Gom
bước sóng
Giao diện
WDM/Khách hàng
ASON NE
NE truyền thống
Hình 1-4 Thành phần mạng ASON
Node ID, NE ID, và địa chỉ IP của NE độc lập với nhau.
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 5 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 1 Tổng quan về ASON
TE link là một liên kết kỹ thuật lưu lượng. ASON NE gửi thông tin băng thông của
nó tới các NE khác thông qua TE link để cung cấp dữ liệu cho việc tính toán tuyến. Một
sợi liên trạm giữa 2 bảng mạch FIU được cấu hình với 1 TE link.
Một miền ASON là một tập con của một mạng, được phân chia bởi chức năng cho
mục tiêu lựa chọn tuyến và quản lý. Một miền ASON bao gồm nhiều ASON NE và TE
link. Một ASON NE chỉ thuộc 1 miền ASON.

vụ trở lại, LSP cũ sẽ không bị xóa. Các lợi ích của việc tái định tuyến là:
• Các dịch vụ có thể được khôi phục nhanh và tự động.
• Yêu cầu dung lượng dự phòng ít hơn khi mạng ASON khôi phục trong thời
gian thực. Khả năng tận dụng băng thông tăng đáng kể.
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 6 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 1 Tổng quan về ASON
Các cơ chế khôi phục mạng có thể được chia thành cơ chế khôi phục tập trung và cơ
chế khôi phục phân tán dựa vào kỹ thuật điều khiển.
Khôi phục tập trung yêu cầu một hệ thống điều khiển trung tâm để điều khiển toàn
bộ mạng một cách toàn diện. Hệ thống điều khiển trung tâm bao gồm một cơ sở dữ liệu
mạng rộng lớn, lưu giữ tất cả các thông tin về tất cả các node, các liên kết và các tài
nguyên dự trữ. Khi một liên kết hoặc một node bị lỗi, thông tin lỗi được thông báo về hệ
thống điều khiển trung tâm dọc các tuyến khác. Hệ thống điều khiển trung tâm sau đó tính
toán một tuyến để thay thế cho tuyến lỗi theo thông tin lưu giữ trong cơ sở dữ liệu. Sau đó
hệ thống điều khiển trung tâm phát ra các mệnh lệnh điều khiển tới mỗi node tạo một
tuyến mới để khôi phục dịch vụ.
Cơ chế khôi phục phân tán không yêu cầu bất kỳ hệ thống điều khiển trung tâm nào.
Khi một liên kết lỗi, tất cả các node tại 2 đầu liên kết lỗi phát hiện lỗi và phát tán thông
tin này ra toàn mạng. Tất cả các LSP liên quan tới liên kết lỗi hoặc node tái định tuyến và
các LSP mới được tạo để khôi phục dịch vụ.
1.2 Giao thức ASON
Hiện tại một số mạng truyền dẫn ASON đã triển khai trong thực tế thường áp dụng
LMP như một giao thức quản lý liên kết, giao thức định tuyến OSPF-TE, và RSVP-TE là
giao thức báo hiệu.
1.2.1. LMP
LMP thực hiện chức năng tạo và duy trì các kênh điều khiển giữa các node liền kề
trong một mạng ASON. Thủ tục tạo các kênh điều khiển như sau:
LMP LMP
Bản tin yêu cầu
Bản tin trả lời

• Tạo và duy trì các liên kết điều khiển
• Phát tán và thu thập thông tin về các liên kết điều khiển trên mặt phẳng điều
khiển. Theo thông tin đó, giao thức sau đó tạo ra thông tin về các tuyến được yêu
cầu cho việc chuyển tiếp bản tin trong mặt phẳng điều khiển.
• Phát tán và thu thập thông tin về các TE link trên mặt phẳng điều khiển. Giao
thức sau đó tạo ra thông tin về các cấu hình dịch vụ mạng cho việc tính toán
tuyến dịch vụ.
1.2.3 RSVP-TE
RSVP-TE là một giao thức dành trước tài nguyên, là một kiểu báo hiệu. Trong kỹ
thuật lưu lượng, RSVP được mở rộng thành RSVP-TE. RSVP-TE chủ yếu hỗ trợ các
chức năng sau:
• Tạo LSP
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 8 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 1 Tổng quan về ASON
• Xóa LSP
• Thay đổi thuộc tính LSP
• Tái định tuyến LSP
• Tối ưu hóa tuyến LSP
• Bảo mật giao thức
Một thực thể bên ngoài có thể thay đổi các gói giao thức OSPF-TE của mạng, giả
mạo một node trong mạng và phát các gói, hoặc nhận các gói được phát bởi các node
trong mạng và tấn công liên tục. Để đảm bảo an toàn mạng, ASON cung cấp các chức
năng để bảo mật các giao thức. Trong một miền ASON, các giao thức RSVP và OSPF-TE
được bảo mật nhận thực.
Nhận thực RSVP được cấu hình cho các node và nhận thực OSPF-TE cho các giao
diện liên kết (các khe và các giao diện quang).Có thể là không nhận thực, nhận thực văn
bản rõ ràng hoặc nhận thực MD5.
• Không nhận thực: Không yêu cầu nhận thực trong chế độ này.
• Nhận thực văn bản rõ ràng: Để kiểm tra khóa đặt trước. Mã nhận thực phải là
một chuỗi ký tự với không nhiều hơn 8 ký tự.

không phát thông tin về các kênh điều khiển tới các thực thể mạng. Mỗi NE chỉ quản lý
và lưu giữ thông tin về các kênh điều khiển của nó mà thôi.
TE link là một liên kết kỹ thuật lưu lượng. ASON NE gửi thông tin băng thông của
nó tới các ASON NE khác qua TE link để cung cấp dữ liệu cho việc tính toán tuyến. TE
link là một khái niệm của các tài nguyên. Các bảng khác nhau tạo ra các TE link khác
nhau. TE link có thể được chia thành các kiểu sau:
• OCh TE link
• OTU2 TE link và ODU2 TE link
• OTU1 TE link và ODU1 TE link
• OTU5G TE link và ODU 5G TE link.
1.4 Khả năng tự động phát hiện của các cấu hình mạng
Khả năng phát hiện tự động của các cấu hình mạng bao gồm phát hiện tự động các
liên kết điều khiển và các TE link.
1.4.1 Khả năng tự động phát hiện của các liên kết điều khiển
Mạng ASON tự động phát hiện các liên kết điều khiển thông qua giao thức OSPF-
TE.
Khi kết nối sợi (bao gồm sợi liên trạm tự động phát hiện và sợi trong trạm cấu hình
nhân công) hoàn thành trong một mạng ASON, mỗi ASON NE sử dụng giao thức OSPF
để phát hiện các liên kết điều khiển và sau đó phát tán thông tin về các liên kết điều khiển
của bản thân nó tới các thực thể mạng. Kết quả là, mỗi NE thu được thông tin của các liên
kết điều khiển trong toàn mạng và cũng thu được thông tin về cấu hình điều khiển mạng -
diện rộng. Mỗi ASON NE sau đó tính toán tuyến ngắn nhất tới bất kỳ ASON NE nào và
viết chúng trong bảng chuyển tiếp định tuyến, được sử dụng cho báo hiệu RSVP để phát
và nhận các gói.
Khi kết nối sợi trong toàn mạng hoàn thành, các ASON NE tự động phát hiện cấu
hình điều khiển mạng diện rộng và báo cáo thông tin cấu hình tới hệ thống quản lý để
hiển thị thời gian thực.
1.4.2 Khả năng tự động phát hiện của các TE link
Mạng ASON trải các TE link tới toàn mạng qua các giao thức OSPF-TE.
Sau khi một ASON NE tạo một kênh điều khiển giữa các NE hàng xóm thông qua

được gửi bởi node nguồn, bước sóng có thể thiết kế cho việc tạo dịch vụ cơ bản trên đặc
trưng liên quan tới bước sóng điều hưởng.
ASON dựa vào khoảng cách sợi, số lượng hop và băng thông khả dụng theo các
trọng số do người sử dụng lập để chọn tuyến tốt nhất.
Như được chỉ ra trong hình 1-8, tạo một dịch vụ song hướng từ NE1 tới NE3.
Quá trình tạo một LSP như sau:
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 11 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 1 Tổng quan về ASON
• Chọn các thông tin cơ bản như mức dịch vụ trên NM, node nguồn, node đích
là NE1 và NE3. Chọn các giao diện quang WDM của các bảng OTU tương ứng
và lập điều kiện bắt buộc của tuyến theo thực tế. Sau khi xác nhận thông tin, NM
phát một yêu cầu tạo dịch vụ tới node nguồn NE1.
R1
R2
3
6
5
4
NE1
NE2
NE3
Một dịch vụ song hướng
cần tạo từ NE 1 tới NE 3
1
2
Tính toán tuyến
từ NE 1 tới NE 3
Hình 1-8 Tạo LSP
• NE1 sử dụng thuật toán CSPF để tính toán tuyến dịch vụ phù hợp nhất theo
cấu hình điều khiển và cấu hình dịch vụ, đạt được OSPF-TE thông qua sự hội tụ.

NE2
NE3
Xóa một dịch vụ song
hướng từ NE 1 tới NE 3
1
Hình 1-9 Xóa một LSP
1.5.3 Tái định tuyến LSP
Sau khi các điều kiện khơi mào được phát hiện, đối với các dịch vụ non-revertive,
một LSP mới được tạo và LSP ban đầu bị xóa, trong khi đối với các dịch vụ revertive,
LSP ban đầu sẽ được khôi phục.
Khi một LSP lỗi, LSP lỗi gửi một yêu cầu tái định tuyến tới mặt phẳng điều khiển để
tạo một LSP mới. Sau khi nhận yêu cầu, node nguồn tính toán lại tuyến và phân bổ tài
nguyên cho LSP mới. Sau đó, node nguồn bắt đầu tạo một LSP mới.
Sau khi một LSP mới được tạo, LSP ban đầu bị xóa.
1.5.4 Thay đổi một LSP
Thay đổi một LSP là nâng cấp một tuyến ASON. Quá trình thay đổi một LSP:
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 13 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 1 Tổng quan về ASON
• Hệ thống quản lý phát một yêu cầu tới node nguồn để thay đổi LSP. Sau khi
nhận yêu cầu, node nguồn bắt đầu tạo một LSP mới.
• Sau khi một LSP mới được tạo, node nguồn và node đích bắt đầu chuyển
mạch kết nối chéo từ LSP ban đầu sang LSP mới.
• Sau khi chuyển mạch, node nguồn bắt đầu quá trình xóa LSP ban đầu.
1.6 Chức năng mạng
1.6.1 Cấu hình dịch vụ từ đầu cuối tới đầu cuối
Mạng ASON hỗ trợ cấu hình dịch vụ từ đầu cuối tới đầu cuối, rất thuận tiện.
ASON hỗ trợ cả các kết nối vĩnh cửu WDM và các dịch vụ ASON từ đầu cuối tới
đầu cuối. Để cấu hình một dịch vụ, bạn chỉ cần xác định node nguồn, node đích, băng
thông yêu cầu, và mức bảo vệ. Định tuyến dịch vụ và kết nối chéo tại các node trung gian
là hoàn toàn tự động bởi mạng. Bạn cũng có thể thiết lập node hiện, node loại trừ, link

phục
Cách thức thực
hiện
Thời gian
chuyển mạch
Thời gian tái
định tuyến
Dịch vụ
kim
cương
Bảo vệ và khôi phục
Tái định
tuyến và bảo
vệ 1+1
Nhỏ hơn 50ms Nhiều giây
Dịch vụ
vàng
Bảo vệ và khôi phục
Tái định
tuyến và bảo
vệ ODUk
SPRing
Nhỏ hơn 50ms Nhiều giây
Dịch vụ
bạc
Khôi phục
Tái định
tuyến
- Nhiều giây
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 15 -

G.7713/Y.1704 Quản lý kết nối và cuộc gọi phân tán và G.7715/Y.1706 Kiến trúc và các
yêu cầu định tuyến cho mạng quang chuyển mạch tự động ASON của ITU-T.
2.1 Quản lý kết nối và cuộc gọi phân tán (DCM)
Quản lý kết nối và cuộc gọi phân tán (DCM) cũng được coi là phần báo hiệu của
ASON. Nó cung cấp các yêu cầu cho việc truyền thông của các khối điều khiển cuộc gọi,
điều khiển kết nối và quản lý tài nguyên liên kết. Chỉ rõ các hoạt động thiết lập và giải
phóng cuộc gọi dựa trên các kết nối.
2.1.1 Các yêu cầu của DCM
Trước khi bất kỳ cuộc gọi nào được thiết lập, các hợp đồng giữa người yêu cầu và
nhà cung cấp cần phải được thiết lập. Hợp đồng này chỉ rõ:
• ID hợp đồng
• Thỏa thuận mức dịch vụ
• Thông tin được yêu cầu cho phép điều khiển chính sách. Ví dụ, nó có thể bao
gồm thông tin cung cấp nhận thực và toàn vẹn.
Bên trong môi trường quản lý kết nối phân tán, các vai trò cụ thể được phân bổ cho
các agent khác nhau dựa trên vị trí của chúng so với luồng báo hiệu. Hình 2-2 chỉ ra các
điểm tham chiếu này.
AGC-a
AGC-z
SC-a SC-zZSC-nASC-nZSC-1ASC-1 TSC-1
ASN-1 TSN-1 ZSN-1 ASN-n ZSN-n
UN I I-NN I E-NNI
Miền 1 Miền 2
Hình 2-1 Sơ đồ điểm tham chiếu cho quản lý cuộc gọi phân tán
Các thành phần trong mặt phẳng truyền tải trong hình 2-1 là các mạng con khác nhau
và các container nhóm truy nhập (AGC): AGC-a, ASN-1, TSN-1, ZSN-1, ASN-n, ZSN-n,
AGC-z.
Quản lý kết nối và cuộc gọi phân tán cũng được biết đến như "báo hiệu". Các thành
phần chức năng liên quan tới cuộc gọi tại người sử dụng cuối được biết đến như các bộ
điều khiển cuộc gọi phía gọi/bị gọi, hay CCC. Một CCC ban đầu là một "CCC-a" và một

Phân đoạn
cuộc gọi U NI
Phân đoạn
cuộc gọi mạng con
Phân đoạn
cuộc gọi E-NN I
Phân đoạn
cuộc gọi mạng con
Phân đoạn
cuộc gọi U NI
C C C-a
LC SNC LC LCSN C
Hình 2-2 Các kết nối và các phân đoạn cuộc gọi
• Khối điều khiển cuộc gọi (CallC)
• Khối điều khiển kết nối (CC)
• Khối quản lý tài nguyên liên kết (LRM).
Khối điều khiển cuộc gọi phía gọi liên hành với một khối điều khiển cuộc gọi phía bị
gọi bởi một hoặc nhiều hơn các khối điều khiển cuộc gọi mạng NCC. Chức năng NCC
được cung cấp tại biên mạng (nghĩa là điểm tham chiếu UNI) và cũng có thể được cung
cấp tại các gateway giữa các vùng (nghĩa là các điểm tham chiếu E-NNI). Một cuộc gọi từ
đầu cuối tới đầu cuối được xem như bao gồm nhiều phân đoạn cuộc gọi khi cuộc gọi đi
qua nhiều miền. Mỗi phân đoạn cuộc gọi có thể gồm một hoặc nhiều kết nối (LC hoặc
SNC) liên kết với nó. Điều này cho phép tính mềm dẻo trong các lựa chọn của các kiểu
báo hiệu, bảo vệ và khôi phục trong các miền khác nhau.
Số lượng các kết nối kết hợp với các phân đoạn cuộc gọi có thể không giống nhau
mặc dù trong cùng một cuộc gọi từ đầu cuối tới đầu cuối. Trong hình 11, phân đoạn cuộc
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 18 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2 Báo hiệu và định tuyến trong
ASON
gọi UNI có một LC kết hợp với nó, phân đoạn cuộc gọi mạng con cho miền 1 có 2 SNC

Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2 Báo hiệu và định tuyến trong
ASON
Thiết lập một LC có thể được thay thế. ví dụ, đối với báo hiệu người sử dụng →
mạng, người sử dụng cũng có thể xác định LC để sử dụng (nghĩa là người sử dụng xác
định SNP); tuy nhiên, mạng có thể chọn LC thay thế để sử dụng, nghĩa là xác định một
SNP khác.
`
Báo hiệu
Kết nối liên kết
Liên kết
LRMSNP
SNPP
Hình 2-4 Thiết lập kết nối liên kết bằng cách chỉ định các SNP
Để tạo một SNC, các SNP phải tồn tại và được xác nhận bởi LRM để ràng buộc các
SNP này nhằm tạo một SNC. Điều này bao gồm việc dàn xếp với LRM hướng lên cho
một SNP (mà có thể đại diện cho một LC) và dàn xếp với LRM hướng xuống cho một
SNP (mà có thể đại diện cho một LC). Các LC đến và đi này (và các SNP lối vào/ra có
liên quan của chúng) nhận dạng các SNP được sử dụng để tạo SNC.
Việc chọn lựa các tài nguyên cho một hoạt động kết nối không dẫn tới sự phân bổ
các tài nguyên này. Sự phân bổ tài nguyên có thể xảy ra tại bất kỳ pha nào của báo hiệu,
ví dụ phân bổ có thể xảy ra trong suốt yêu cầu đầu tiên hoặc trong đáp ứng yêu cầu đó.
Thêm nữa, các tài nguyên này đầu tiên có thể được dự trữ trước khi phân bổ. Dự trữ trong
trường hợp của thiết lập cuộc gọi biểu thị sự nhận dạng các tài nguyên sẵn có để sử dụng,
nhưng không tác động tới các tài nguyên này cho tới khi pha phân bổ xảy ra. Việc sử
dụng dự trữ này ngăn yêu cầu khác từ việc nhận dạng cùng tài nguyên để sử dụng, và nó
tránh các tài nguyên từ trạng thái undergoing thay đổi nếu cuộc gọi bị từ chối. Tất cả có
thể được điều khiển như một phần của việc lập trạng thái các SNP và liên hành với các
thành phần LRM.
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 20 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2 Báo hiệu và định tuyến trong

mạng truyền tải trung cho các SNPP, không yêu cầu một bộ nhận dạng tài nguyên truyền
tải UNI cho điểm cuối SPC.
Để cung cấp điều khiển lỗi và tránh các chuyển đổi trạng thái không định trước, một
cơ chế timeout được yêu cầu. Cơ chế timeout được khởi đầu bởi người sử dụng yêu cầu
cuộc gọi (cho cả yêu cầu thiết lập và giải phóng cuộc gọi).
• Thiết lập một cuộc gọi
Hình 2-6 mô tả việc thiết lập một cuộc gọi, và các luồng tín hiệu giữa các thành phần
liên quan.
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 21 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2 Báo hiệu và định tuyến trong
ASON
CCC-a CCC-z
CC-zCC-a ACC-1 ZCC-1TCC-1 ACC-n ZCC-n
Tạo kết nối
NCC-1 NCC-1 NCC-n NCC-n
Yêu cầu thiết lập cuộc gọi
Dấu hiệu thiết lập cuộc gọi
Xác nhận thiết lập cuộc gọi
Hình 2-6 Quá trình yêu cầu thiết lập cuộc gọi
Đối với một yêu cầu thiết lập cuộc gọi bao gồm các bước sau:
- CCC-a yêu cầu thiết lập cuộc gọi. Tại đầu vào NCC-1, các quá trình được bắt đầu
kiểm tra yêu cầu cuộc gọi (điều này có thể bao gồm kiểm tra nhận thực là toàn vẹn của
yêu cầu cũng như các ràng buộc đặt ra bởi các quyết định chính sách). Yêu cầu cũng được
gửi tới các bộ điều khiển cuộc gọi mạng trung gian. Các quá trình trong NCC đầu ra
(NCC-n kết hợp với ZCC-n trong hình 2-6) có thể bao gồm cả việc xác minh xem yêu cầu
cuộc gọi có được chấp nhận từ đầu cuối tới đầu cuối không (ví dụ, yêu cầu xác minh cuộc
gọi CCC-z).
- Sau khi kiểm tra thành công, CCC-a tiếp tục yêu cầu thiết lập cuộc gọi bằng cách
bắt đầu một yêu cầu tạo kết nối tới CC. Quá trình yêu cầu tạo kết nối được mô tả trong
phần sau. Dựa trên các quyết định thiết kế giao thức khác nhau, sự bắt đầu yêu cầu tạo kết

- Sau khi kiểm tra thành công, yêu cầu giải phóng cuộc gọi tiếp tục bằng việc khởi
đầu một yêu cầu giải phóng kết nối. Quá trình yêu cầu giải phóng kết nối được mô tả
trong phần c). Dựa trên các quyết định thiết kế giao thức khác nhau, mà việc khởi đầu yêu
cầu giải phóng kết nối có thể xuất hiện trong một trình tự khác như được chỉ ra trong hình
2-7. Yêu cầu này là một kết nối được giải phóng trước khi cuộc gọi được giải phóng. Nếu
có đa kết nối liên quan tới một phân đoạn cuộc gọi, tất cả chúng sẽ được giải phóng.
- Nhờ dấu hiệu chỉ ra bởi quá trình yêu cầu giải phóng kết nối, yêu cầu giải phóng
cuộc gọi thành công.
Nếu thiết lập kết nối bị từ chối và theo đó từ chối một cuộc gọi (ví dụ, do không có
khả năng để giải phân bổ tài nguyên, giải phóng một SNC hoặc một LC) một thông báo
được gửi tới MP.
Phụ thuộc vào các "đặc trưng" của mạng truyền tải (ví dụ, giám sát có được kích
hoạt hay không), các điều kiện kéo theo có thể xuất hiện giữa bản tin yêu cầu giải phóng
cuộc gọi và yêu cầu giải phóng kết nối. Dựa trên điều kiện kéo theo này giữa chuỗi báo
hiệu từ CCC-a tới CCC-z, và chuỗi tín hiệu truyền tải (ví dụ, OCI có được trang bị hay
không) từ AGC-a tới AGC-z, các cảnh báo nào đó có thể được gia tăng tại các mạng con
hướng xuống. Để hỗ trợ một môi trường như thế, cần có một cơ chế để cho phép kích
hoạt hay không kích hoạt các khả năng giám sát liên quan tới cuộc gọi trước khi giải phân
Vũ Thị Hoàng Yến - D05VT1 - 23 -
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2 Báo hiệu và định tuyến trong
ASON
bổ các kết nối. Ví dụ, khởi động quá trình ARC hay TPmode/PortMode trước khi bắt đầu
bất kỳ yêu cầu giải phóng kết nối nào. Việc chặn thông báo lỗi có thể là cần thiết để tránh
khơi mào quá trình bảo vệ/khôi phục.
c) Quá trình yêu cầu kết nối
Một yêu cầu kết nối được khởi đầu như một kết quả của quá trình yêu cầu cuộc gọi.
Yêu cầu kết nối thực hiện xắp xếp để tạo và giải phóng các kết nối và phân bổ/giải phân
bổ các tài nguyên nhằm tác động tới kết nối.
Hình 2-8 mô tả chuỗi báo hiệu từ đầu cuối tới đầu cuối và yêu cầu kết nối thiết lập
các tài nguyên để tạo một kết nối và hoàn thành một cuộc gọi.

- Theo phần thiết lập cuộc gọi, một yêu cầu thiết lập cuộc gọi được xác minh và cho
phép xuất phát.
- Từ yêu cầu cuộc gọi, LRM của CCC-a xác định LC đã được dàn xếp thiết lập giữa
AGC-a và ASN-1. Nó có thể nằm trong dạng của ID SNP đầu ra của ASN-1.
- Tại CC của ASC-1, một SNP đầu vào xác định bởi ID SNP đầu vào (ID SNP đầu
vào được nhận dạng bằng cách mapping SNP đầu ra của AGC-a với SNP đầu vào của
ASN-1). LRM ASC-1 dàn xếp với LRM TSC-1 để thiết lập một LC kết nối ASN-1 với
TSN-1 (TSN-1 được xác định dựa vào thông tin tuyến như đã được cung cấp bởi RC hoặc
bởi thông tin nhận được từ một CC hướng lên). Sau khi thiết lập thành công LC này, một
SNP đầu ra được nhận dạng bởi LRM. Một SNC được tạo để kết nối SNP đầu vào với
SNP đầu ra. Trạng thái của đôi SNP được cập nhật thành: PROVISIONED. CC sau đó
tiếp tục quá trình tạo kết nối bằng các liên lạc với CC hướng xuống.
- Tại CC TSC-1, một SNP đầu vào được xác định bởi IP SNP đầu vào. LRM TSC-1
dàn xếp với LRM ZSC-1 để thiết lập một LC kết nối TSN-1 tới ZSN-1 (ZSN-1 được xác
định dựa vào thông tin tuyến được cung cấp bởi RC hay bởi thông tin nhận được từ CC
hướng lên). Thiết lập thành công LC này, thì một SNP đầu ra được nhận dạng bởi LRM.
Một SNC được tạo để kết nối SNP đầu vào và SNP đầu ra. Trạng thái của đôi SNP được
cập nhật thành: PROVISIONED. CC sau đó tiếp tục quá trình tạo kết nối bằng cách liên
lạc với CC hướng lên.
- Quá trình này được tiếp tục cho đến khi yêu cầu kết nối tiến tới CCC-z.
- Tại CC của CCC-z, một SNP đầu vào được nhận dạng khi được xác định bởi IP
SNP đầu vào. Sau khi CC xử lý yêu cầu kết nối, một bản tin đáp ứng được gửi để biểu thị
rằng kết nối đã được xử lý.
- Một cách tùy chọn, CC của CCC-a có thể nhận biểu thị một lần, một bản tin thứ 3
được gửi từ CC tới bộ xác nhận tín hiệu của kết nối.
Khi tạo một kết nối, nhiều hoạt động mức cao có thể được xác định cho mạng:
- Nếu tuyến không thể được lập, sau đó mạng con đáp ứng với một bản tin từ chối
kết nối.
Đối với các kết nối song hướng, nó sẽ có khả năng để xác định các giá trị chỉ số SNP
giống nhau cho một CP xác định điều khiển song hướng. Ví dụ, số khe thời gian giống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status