Lời mở đầu.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, với việc đô thị hoá, công
nghiệp hoá diễn ra với tốc độ nhanh làm ảnh hởng đến môi trờng sống và sức
khoẻ của con ngời. Nhiều khu công nghiệp lớn đợc xây dựng tập trung chủ
yếu ở các thành phố lớn. Việc đô thị hoá với tốc độ nhanh làm gia tăng dân số,
ô nhiễm môi trờng, cờng độ lao động và học tập cao sẽ khiến con ngời cảm
thấy mết mỏi và căng thẳng. Chính vì thế, nhu cầu vui chơi giải trí là không
thể thiếu đợc trong đời sống hàng ngày. Ngời ta coi nó là món ăn tinh thần để
giảm bớt đi những căng thẳng sau những ngày làm việc mệt nhọc.
ở Việt Nam trong những năm gần đây nền kinh tế phát triển, cùng với
nó là đời sống ngời dân đã đợc cải thiện đáng kể cả về mắt vật chất lẫn tinh
thần, nhu cầu vui chơi giải trí của ngời dân cũng trở nên đa dạng hơn. Để phục
vụ những nhu cầu đó là sự xuất hiện của các loại hình dịch vụ giải trí ngày
càng phong phú và đa dạng hơn.
Năm 2000, lần đầu tiên ở Hà Nội một khu liên hợp vui chơi giải trí hiện
đại có quy mô lớn nhất Miền Bắc đợc khánh thành mang tên Công Ty Cổ Phần
Dịch Vụ Giải Trí Hà Nội mà ngời dân thủ đô quen gọi là Công Viên Hồ Tây.
Năm 2000 sự xuất hiện của Công Viên Nớc là một điều mới lạ và hấp
dẫn ngời dân thủ đô. Tuy nhiên, sau hai mùa hoạt động kinh doanh công ty đã
bắt đầu gặp phải nhiều vấn đề khó khăn trong việc thu hút khách đến vui chơi
giải trí . Xuất phát từ những vấn đề của thực tiễn, sau khi nghiên cứu và nhận
thức rõ tính cấp thiết của vấn đề đặt ra em đã lựa chọn đề tài : Tăng c ờng
hiệu quả thu hút khách đến vui chơi giải trí tại Công Ty Cổ Phần Dịch
Vụ Giải Trí Hà Nội .
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở phân tích môi trờng kinh
doanh , thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty từ đó đề xuất một số kiến
nghị và giải pháp nhằm tăng cờng hiệu quả thu hút khách đến vui chơi giải trí
tại công ty .
Phơng pháp nghiên cứu: Sử dụng phơng pháp thống kê, phân tích, so
sánh để xử lý các nguồn liên quan. Ngoài ra còn sử dụng các phơng pháp quan
sát, trng cầu ý kiến để thu thập thông tin.
Ông cho rằng nhu cầu cấp cao chỉ có thể xuất hiện và đợc đáp ứng
khi nhu cầu cấp thấp hơn đã đợc thoả mãn.
Nh vậy, với lý thuyết của Maslow thì nhu cầu giải trí không hoàn
toàn là nhu cầu thiết yếu song cũng không phải là nhu cầu thứ yếu.
Nhu cầu nghỉ ngơi giải trí đợc hình thành trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội dới tác động của các yếu tố khách quan thuộc môi trờng
bên ngoài mà trớc hết phụ thuộc vào phơng thức sản xuất xã hội cụ thể
hơn đó là nhu cầu của con ngời về khôi phục sức khoẻ - khả năng lao
động, thể chất và tinh thần hao phí trong quá trình sống và làm việc. Nói
cách khác thì nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí, tiêu khiển đợc khơi dậy
từ ảnh hởng đặc biệt của môi trờng sống và làm việc trong nền văm minh
công nghiệp. Stress đã làm cho ngời ta cần thiết phải tìm kiếm sự nghỉ
ngơi, tiêu khiển, gặp gỡ, lãng quên, giải thoát để trở về với thiên nhiên.
Một vấn đề đặt ra là phải cụ thể hoá thế nào là nhu cầu giải trí.
Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau đợc
đa ra từ các tổ chức hiệp hội, quốc gia du lịch có uy tín trên toàn cầu mà
cha có sự thống nhất chung về các thuật ngữ trong du lịch. Vì vậy vẫn ch-
a có một định nghĩa chính xác thống nhất thế nào là giải trí và nhu cầu
giải trí. ở Việt Nam, theo các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch thì hiện
tại cha có sự phân loại, thống kê, đa ra những khái niệm rõ ràng chính
xác về lĩnh vực giải trí.
Vì trên lý thuyết cha có những khái niệm rõ ràng nên ngời viết
mạnh dạn đa ra sự phân tích tơng đối.
Nhu cầu giải trí bao gồm nhu cầu giải trí thuần tuý và nhu cầu
tham quan tìm hiểu.
Sơ đồ 1 : Phân loại nhu cầu giải trí.
Tất nhiên sự phân biệt trên chỉ mang tính chất tơng đối bởi rất khó
có thể phân tách rạch ròi đặc biệt giữa nhu cầu tham quan tìm hiểu và
nhu cầu giải trí thuần tuý.
* Nhu cầu giải trí thuần tuý.
Tuy nhiên không thể nói là khi có nhu cầu tham quan tìm hiểu thì
không có sự nghỉ ngơi th giãn nhẹ nhàng, đem lại cho họ sự mê say hứng
thú và ngợc lại cũng không thể nói rằng khi tham gia các hình thức giải
trí thuần tuý thì con ngời không có nhu cầu mong muốn nâng cao hiểu
biết và kiến thức. Đây là mối quan hệ khó tách rời và khó phân biệt đối
với mỗi ngời. Nhng về cơ bản và phổ biến thì nhu cầu giải trí thuần tuý
không đòi hỏi sự hiểu biết quá sâu hoặc quá nặng về vận động trí óc.
1.2. Hoạt động giải trí
Nh vậy, hoạt động giải trí xuất hiện khi con ngời thực hiện nhu cầu
giải trí. Nhu cầu là tiềm năng còn hoạt động là hiện thực, hoạt động giải
trí là cái tạo ra thị trờng.
* Khái niệm: hoạt động giải trí là hoạt động của con ngời làm cho
đầu óc đợc thảnh thơi bằng cách nghỉ ngơi hoặc tham gia vào các trò chơi
một cách tích cực.
* Nguồn gốc: Về nguồn gốc thì hoạt động vui chơi giải trí đã có từ
rất lâu vì thực ra đây là một nhu cầu hết sức tự nhiên của con ngời nhằm
giải toả sự mệt mỏi buồn chán và hoàn thiện bản ngã làm đẹp thêm cuộc
sống. Từ xa xa, các tầng lớp thợng lu, vua chúa, quý tộc thờng xây dựng
cho riêng mình những lâu đài, trang trại, những khu vờn lớn để tổ chức
các hoạt động vui chơi giải trí nh cỡi ngựa, săn bắn, tổ chức tiệc tùng,
những buổi dạ hội, vũ hội...còn các tầng lớp bình dân thì có các hoạt
động vui chơi giải trí và các kỳ nghỉ, lễ hội.
Nhng các hoạt động vui chơi giải trí thời xa có những nét khác biệt
về bản chất so với các hoạt động vui chơi giải chí hiện đại ở chỗ: con ng-
ời xa tham gia các hoạt động vui chơi giải trí do các phong tục tập quán
(lễ hội, đình đám...) do có nhiều thời gian rỗi nhằm mục đích chủ yếu là
gặp gỡ, giao tiếp mở rộng hiểu biết về con ngời, thiên nhiên. Còn hoạt
động vui chơi giải trí hiện đại nẩy sinh từ một nền sản xuất xã hội hóa
cao độ thời gian nhàn rỗi có đợc không phải cho con ngời vì con ngời mà
- Tăng năng suất lao động nhờ sự nghỉ ngơi phục hồi sức khoẻ.
* Đối với xã hội :
- Thu hút con ngời vào những hoạt động lành mạnh giảm tiêu cực
xã hội.
- Tạo ra công ăn việc làm tăng thu nhập.
- Bảo vệ môi trờng cảnh quan, tài nguyên môi trờng (mặt tích cực)
Hoạt động giải trí là một trong những đặc trng của ngời đi du lịch
(cầu trong du lịch). Nghiên cứu nhu cầu để tìm những sản phẩm phù hợp
đáp ứng mong muốn thoả nãm hài lòng khách du lịch là quan điểm
marketing hiện đại bởi vậy hệ thống dịch vụ giải trí chính là hệ thống
những nhà cung cấp sản phẩm du lịch.
2. Dịch vụ giải trí.
2.1. Khái niệm về dịch vụ giải trí .
Từ nhu cầu vui chơi giải trí của con ngời hình thành mạng lới
những nhà cung cấp đáp ứng những nhu cầu giải trí của con ngời, đó là
hệ thống dịch vụ giải trí.
Nh vậy :
Hệ thống dịch vụ giải trí là các cơ sở kinh doanh, các nhà cung cấp
tận dụng mọi tiềm lực của doanh nghiệp khai thác sử dụng những tài
nguyên phù hợp tạo ra những sản phẩm- dịch vụ đáp ứng nhu cầu giải trí
của con ngời.
Trong trờng hợp đó, đối với những khu vui chơi giải trí tổng hợp,
nhà cung cấp đáp ứng mọi hàng hoá dịch vụ thoả mãn nhu cầu đa dạng,
tổng hợp của khách trong một khoảng thời gian nhất định (diễn ra các
hoạt động vui chơi giải trí). Khác với kinh doanh khách sạn, kinh doanh
lu trú ăn uống vận chuyển nói chung, các loại hình kinh doanh dịch vụ
giải trí đa dạng và hình thức phong phú về nội dung - vì bất kể cái gì đem
đến cho khách sự hài lòng thoải mái - sự nghỉ ngơi th giãn cả về tinh thần
về thểlực thì đều coi là sản phẩm. Hơn nữa hệ thống dịch vụ giải trí nặng
về tận dụng tài nguyên nhân văn và tự nhiên trong cấu tạo sản phẩm và
thu hút riêng khu vực khách của chính khách sạn đó mà còn là nơi thu
hút các đối tợng khách của thị trờng du lịch nói chung và thị trờng vui
chơi giải trí nói riêng.
Nhng sự quản lý đối với hệ thông này khá đơn giản trên cả tầm
quản lý vĩ mô và vi mô bởi hầu hết trực thuộc một doanh nghiệp. Còn đối
với mạng lới kinh doanh dịch vụ giải trí nói chung thì rất đa dạng về loại
hình, quy mô, thể thức và hình thức kinh doanh. Vì nếu theo nh lý thuyết
thì bất cứ dịch vụ nào hay sản phẩm dịch vụ nào mang lại cho khách sự
thoải mái, th giãn những cảm nhận kinh nghiệm và sự hài lòng có sự mua
bán trao đổi thì đều đợc coi là dịch vụ kinh doanh hay nói vĩ mô là một
thực tế nan giải để hớng toàn bộ hệ thống đi theo một định hớng cụ thể
theo một mục tiêu đề ra không phải dễ nhất đối với nghành du lich nói
chung và ngành kinh doanh dịch vụ giải trí nói riêng bởi đây là một
ngành kinh doanh tổng hợp có sự tham gia và quản lý của rất nhiều
ngành, có nhiều mối quan hệ chồng chéo phức tạp. Vì vậy, để đạt hiệu
quả quản lý và kinh doanh cao đòi hỏi một môi trờng cơ chế quản lý rất
thông thoáng cần có sự phối hợp hỗ trợ của rất nhiều ban ngành đoàn thể
xã hội.
Khác với quản lý kinh doanh khách sạn, thờng và phổ biến đối với mỗi
doanh nghiệp đơn vị kinh doanh dịch vụ giải trí không đòi hỏi quá kồng kềnh,
phức tạp mà đơn giản gọn nhẹ - ngay cả những tập đoàn lớn nh Disneyland
không đòi hòi cao ở trình độ số lợng và chất lợng lao động ở bậc nghề tuy
nhiên cần thết phải có hệ thống thông tin điều hành thông suốt cả về quan hệ
theo chiều dọc cũng nh chiều ngang, điều kiện về vốn, quản lý, cơ sở kỹ thuật
nh bất cứ mội doanh nghiệp, một đơn vị kinh doanh nào trên thơng trờng.
3. Sự cần thiết của việc thu hút khách đối với hoạt động
kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí .
Sự cần thiết của các biện pháp thu hút khách trong hoạt động kinh
doanh dịch vụ vui chơi giải trí do một số nguyên nhân chủ yếu sau đây :
Kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí là một trong những hoạt động kinh
Mệnh giá cổ phiếu : 100.000
Trụ sở giao dịch : Tại trụ sở công ty Đầu t, khai thác Hồ Tây 644 đờng Lạc
Long Quân, quận Tây Hồ, Thành Phố Hà Nội .
Sau gần hai năm triển khai thi công các hạng mục của dự án
Công Viên Hồ Tây tới ngày 19/5/2000 công ty đã chính thức khai trơng hạng
mục lớn nhất đó là Công Viên Nớc và tiếp sau đó là khu vui chơi Công Viên
Vầng Trăng cùng một số khu vực kinh doanh dịch vụ khác trên mặt bằng diện
tích khoảng 6,4ha.
Đến nay sau hai mùa hoạt động kinh doanh Công Viên Hồ Tây đã đạt
đợc nhiều thành công và bớc đầu trở thành điểm vui chơi giải trí hấp dẫn đối
với ngời dân Thủ Đô và các vùng lân cận.
Mục tiêu hoạt động của công ty là kinh doanh và phát triển một khu vui
chơi giải trí, thể thao tại khu vực Hồ Tây, tham gia đầu t vào các dự án vui
chơi giải trí, thể thao khác trong nớc và quốc tế.
Các lĩnh vực kinh doanh của công ty bao gồm :
- Kinh doanh các trò chơi trên mặt đất, dới nớc và trên không.
- Kinh doanh các dịch vụ văn hoá, văn nghệ, biểu diễn nghệ thuật.
- Kinh doanh các dịch vụ TDTT và rèn luyện thân thể.
- Kinh doanh các dịch vụ hội nghị hội thảo, đào tạo, huấn luyện.
- Kinh doanh các dịch vụ ăn uống giải khát.
- Đại lý mua, bán, ký gửi hàng hoá.
- Kinh doanh các dịch vụ khác trong phạm vi pháp luật cho phép.
Thời gian hoạt động của công ty trong 50 năm kể từ ngày đợc cấp ĐKKD tại
cơ quan Nhà Nớc có thẩm quyền.
1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý và chức năng nhiệm vụ các phòng ban.
1.2.1. Đặc điểm trong tổ chức và quản lý.
Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty ta thấy cơ cấu tổ chức của công ty
là theo mô hình trực tuyến. Đặc điểm của cơ cấu quản lý trực tuyến là mối
quan hệ về mặt quản lý đợc thực hiện theo một đờng thẳng, ngời thừa hành chỉ
nhận mệnh lệnh và thi hành mệnh lệnh của ngời quản lý cấp trên trực tiếp.
Là cơ quan đại diện thờng trực của Đại Hội Đồng giữa hai kỳ Đại Hội
Đồng. HĐQT do Đại Hội Đồng bầu ra thay mặt Đại Hội Đồng và có toàn
quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty
trừ những vấn đề thuộc quyền giải quyết của Đại Hội Đồng . HĐQT chịu trách
nhiệm tập thể trớc Đại Hội Đồng về mọi mặt hoạt động của công ty.
Hội Đồng Quản Trị :
- Xem xét phê duyệt các loại hợp đồng kinh tế và dân sự, các kế hoạch
hàng quý hàng năm của công ty thuộc thẩm quyền của mình.
- Xem xét và phê chuẩn tất cả các giao dịch của công ty với cổ đông,
thành viên HĐQT, TGĐ, thành viên ban điều hành và những ngời
đại diện của công ty tại các văn phòng đại diện, chi nhánh của công
ty hoặc các dự án đầu t mà công ty góp vốn.
Cơ cấu HĐQT gồm 7 thành viên : 1 chủ tịch, 2 phó chủ tịch và các thành viên,
trong đó Chủ Tịch HĐQT là ngời có trách nhiệm cao nhất trong HĐQT trong
việc tổ chức và giám sát thực thi các quyền hạn, trách nhiệm của HĐQT.
1. 2.2.3. Ban Điều Hành.
Tổng Giám Đốc.
Chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động hàng ngày của công
ty. Là đại diện của công ty trớc cơ quan Nhà Nớc và Pháp luật. Tổng
Giám Đốc phải chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty trớc HĐQT.
Tổng Giám Đốc :
- Quyết định cơ cấu tổ chức, biên chế của các phòng ban trong công
ty và các đơn vị thành viên của công ty. Ban hành các quy chế hoạt
động của các phòng ban trong công ty. Quyết định kế hoạch phơng
án và quỹ đào tạo cho cán bộ nhân viên của công ty.
- Quyết định việc ký hoặc uỷ quyền cho các Phó TGĐ ký các hợp
đồng và các giao dịch kinh tế, dân sự.
- Triệu tập và chủ trì các cuộc họp thờng lệ và bất thờng của Ban Điều
Hành.
đồng bộ cho khách hàng.
- Tổ chức tiếp đón và hớng dẫn các đoàn thăm quan, du lịch.
Bộ phận phụ trách Công Viên Vầng Trăng.
Bộ phận phụ trách Công Viên Vầng Trăng có hai chức năng chính đó là
vận hành thiết bị và cứu hộ.
Nhiêm vụ chung :
- Tổ chức và bảo đảm các điều kiện tốt nhất, an toàn nhất cho khách
hàng đến vui chơi các loại hình đã đợc đầu t trong Công Viên Vầng
Trăng. Tổ chức hớng dẫn cho khách hàng tham gia các trò chơi và
vận hành các thiết bị trong công viên.
- Tổ chức tiếp đón và hớng dẫn các đoàn thăm quan, du lịch.
Phòng Kinh doanh ăn uống( ẩm thực).
Chức năng chính : Chế biến món ăn, quản lý kho tàng thực phẩm, triển
khai bán hàng tại các quầy.
Nhiệm vụ chung.
- Thực hiện việc kinh doanh ẩm thực đối với khách hàng. Lập kế
hoạch cho phát triển kinh doanh ẩm thực môt cách khoa học và có
hệ thống.
- Đảm bảo tăng doanh thu, an toàn và hiệu quả trong kinh doanh ẩm
thực. Đảm bảo thực hiện dúng nguyên tắc, quy định, quy trình hạch
toán, kế toán, vệ sinh an toàn thực phẩm của công ty ở tất cả các
khâu trong bộ phận ẩm thực.
- Đảm bảo nâng cao chất lợng dịch vụ ẩm thực thờng xuyên đối với
khách hàng.
Phòng Nhân sự.
Chức năng và nhiệm vụ của phòng nhân sự bao gồm :
Thiết kế tổ chức cơ cấu tổ chức.
Tuyển dụng.
Phân tích công việc
Quản lý hồ sơ- hệ thống báo cáo.
thoại, lễ tân tiếp, khách.
- Lu trữ con dấu, công văn tài liệu đi-đến, kiểm tra chấp hành nội quy,
quy chế, vệ sinh an toàn lao động trong công ty.
* Quản lý tài sản trang thiết bị của công ty.
- Quản lý kho hàng hoá vật t công ty, kiểm tra tình hình sử dụng và
quản lý tài sản của toàn bộ công ty, định kỳ cùng các phòng nghiệp
vụ kiểm kê tài sản.
Phòng Marketing .
Các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của phòng Marketing bao gồm :
* Quảng cáo và quan hệ công chúng.
- Xây dựng và triển khai, theo dõi việc thực hiện các chơng trình
quảng cáo.
- Quan hệ công chúng.
+ Tham gia tài trợ và tuyên truyền các thông tin về công ty
trong các hội nghị, hội thảo chuyên đề, các hoạt động xã
hội công ích.
+ Mở rộng và thắt chặt mối quan hệ đối ngoại với các đối
tác, tổ chức, cơ quan nhằm tạo thuận lợi cho các công việc
sau này.
* Tài trợ xúc tiến bán hàng.
- Quản lý và theo dõi việc thực hiện các hợp đồng đã ký.
- Xây dựng, triển khai và theo dõi chơng trình triển khai xúc tiến bán
hàng.
- Kêu gọi và phối hợp với các hãng, đơn vị tài trợ, tổ chức các chơng
trình khuyến mãi, các cuộc thi, các trò chơi nhằm khuếch trơng sản
phẩm của cả hai bên.
* Tổ chức biểu diễn
- Tổ chức các chơng trình biểu diễn thờng xuyên và không thờng
xuyên trong năm và trong tháng hoạc theo chủ đề nhằm mục đích
kinh doanh.
các thiết bị.
- Đảm bảo an toàn lao động và công tác phòng cháy chữa cháy.
1.3. Đặc điểm về lao động.
Tính đến hết năm 2001 công ty có tổng số lao động là 443 ngời trong
đó số lao động nam là 245 ngời chiếm 55,3% , số lao động nữ là 198 ngời
chiếm 44,7% và số lao động thời vụ là 70 ngời chiếm 15,8%.
Do tính đặc thù của công việc đòi hỏi cờng độ lao động cao trong mùa
hoạt động do đó số lao động nam trong công ty chiếm tỉ lệ cao hơn số lao
động nữ. Đặc biệt có những bộ phận mà công việc cụ thể là vận hành và bảo
trì các thiết bị thì số lao động 100% là nam.
Cũng do đặc thù của hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ cao đã
ảnh hởng rất lớn đến sự ổn định về mặt nhân sự của công ty . Khi mùa đông
đến Công Viên Nớc đóng cửa thì cũng là lúc số lao động thời vụ phải nghỉ
việc và đến mùa hoạt động năm sau thì hầu hết số lao động thời vụ này đã
không quay trở lại, công ty lại phải tốn một khoản chi phí khá lớn cho công
tác tuyển dụng và đào tạo.
1.4. Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật.
Có thể nói rằng Công Viên Hồ Tây là một trong những doanh nghiệp có
tầm cỡ đứng đầu Miền Bắc về quy mô cũng nh về hoạt động kinh doanh loại
hình dịch vụ vui chơi giải trí . Đến nay sau hơn hai năm hoạt động kinh doanh
công ty vẫn đang ở trong giai đoạn tiếp tục đầu t xây dựng về cơ sở hạ tầng.
Về cơ bản một số công trình lớn đã hoàn thiện và đi vào hoạt động trong hai
năm qua. Hiện tại hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của công ty bao gồm :
* Hệ thống trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của Công Viên Nớc mà
hạng mục chính là 6 đờng trợt nớc.
* Hệ thống trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của Công Viên Vầng
Trăng bao gồm thiết bị của 20 trò chơi trên cạn và 3 trò trơi dới nớc .
* Một khu trung tâm trò chơi điện tử và vui chơi có thởng.
* Hai sân khấu phục vụ cho hoạt động biểu diễn.