Suy Thái Và Ô Nhiễm Đất
Đất tốt và đất xấu
Cùng điều kiện ngoại cảnh như nhau, có đất cây cối tốt tươi, năng suất cao, có đất
cây mọc cằn cỗi, năng suất thấp, đôi khi bị thất thu. Đất nuôi dưỡng cây trồng, "Mẹ
khoẻ thì con khỏe". Đất tốt là đất có khả năng cho năng suất cao - đấy là đất "khoẻ".
Ngược lại là đất xấu hay đất yếu - "đất có vấn đề".
Đối với "đất có vấn đề" thì phải tìm ra các "yếu tố hạn chế", tiếp đó là xếp hạng các
yếu tố hạn chế xem các yếu tố nào là chủ đạo, yếu tố nào là thứ yếu.
Chất lượng đất hay sức khỏe của đất là một chỉ số lành mạnh về môi trường, nói lên
tình hình chung của các tính chất và quá trình. Thuật ngữ "sức khỏe của đất" cùng
đồng nghĩa với chất lượng đất (Khung I.13 và khung I.14).
Khung I.13. CÁC CHỈ TIÊU VỀ SỨC KHỎE CỦA ĐẤT/CHẤT LƯỢNG ĐẤT
Chỉ tiêu là yếu tố giúp xác định điều kiện chính yếu để nhận biết vấn đề.
Chỉ tiêu về chất lượng đất là những đặc tính, chức năng, hoặc điều kiện để biểu thị
sức khỏe chung của đất. Những yếu tố đó có thể quan hệ trực tiếp tới đất, hoặc là
liên quan đến cái gì đó ảnh hưởng tới đất, như cây trồng và nước. Một số tiêu chí về
chất lượng đất như sau:
Đất Tính chất hóa học:
- Độ chua
- Khả năng hấp thụ dinh dưỡng (dung tích hấp thụ)
- Hàm lượng muối
Tính chất vật lý:
- Độ khổng
- Hạt kết bền trong nước
- Sức giữ ẩm
Tính chất sinh học:
- Lượng và loại chất hữu cơ
- Số lượng, loại hình, và chức năng của vi sinh vật
- Hoạt tính sinh học
- Hoạt động của enzym
Bảng I.6. Đặc tính một số loại đất "có vấn đề"
Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam, 2000
Những loại đất đang khỏe trở thành yếu
Vì có sự khác nhau khá lớn giữa đất miền núi và đất đồng bằng nên các tiêu chí đánh
giá đất khoẻ, đất yếu giữa chúng cũng có sự khác biệt.
Điển hình cho nhóm đất vốn rất khỏe có thể nhanh chóng trở thành đất có vấn đề
(sức khỏe yếu dần đi, thậm chí đất bị "chết" không thể tái sử dụng được) là nhóm
đất đỏ vàng - feralít ở vùng núi và trung du. Đất rừng sau khi khai hoang, nếu không
tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp canh tác chống xói mòn thì chỉ sau 3 - 5 năm đã
trở thành đất có vấn đề, thể hiện ở năng suất cây trồng giảm dần rồi tiến tới bỏ hóa
theo chế độ du canh. Phân tích các chỉ tiêu biểu thị chất lượng đất như độ chua, các
chất dinh dưỡng đa lượng (N, P, K), trung lượng như Ca, Mg, S, và các chất vi lượng
đều giảm so với đất rừng sau khi khai phá đến khoảng 15 - 25%.
Đất phù sa sông Hồng là đất trồng lúa lý tưởng nhất, thế mà qua quá trình thâm
canh, sử dụng đất không hợp lý đã làm cho nhiều vùng đất bị thoái hoá tới mức
không còn những đặc tính điển hình của đất phù sa như: tỷ lệ sét giảm xuống còn
dưới 13%, hàm lượng hữu cơ khoảng 1%, đạm tổng số 0,08%, lân tổng số 0,07%,
canxi và magiê 2 - 4 mili đương lượng, pH khoảng 4,5. Phục hồi các loại đất này khá
tốn kém, mất thời gian, mà khó mang lại kết quả mong muốn.
Như vậy, trong quá trình canh tác luôn luôn diễn ra hai quá trình thục hoá và thoái
hoá, xét về mặt độ phì nhiêu, hay tăng sức sản xuất hoặc giảm sức sản xuất của đất,
xét về mặt sử dụng. Sự thục hoá làm cho những tính chất đất tự nhiên vốn dĩ không
thích hợp với cây trồng được cải thiện, đất tơi xốp hơn, bớt chua, giảm độc tố, tăng
khả năng hấp thu trao đổi, cung ứng đủ dinh dưỡng dễ tiêu cho cây,
Ngược lại với thục hoá là quá trình thoái hoá, theo đó các yếu tố thuận lợi cứ giảm
dần, đất nghèo kiệt đi đến hoàn toàn mất sức sản xuất với những cây trồng nhất
định. Có cải tạo cũng vô cùng tốn kém và trong trường hợp xấu nhất phải bỏ hoá.
Như vậy, thành tạo đất là quá trình rất lâu dài,
thảm rừng là ít nhất. Sau khi phá rừng để trồng
cây ngắn ngày trên cùng độ dốc do độ che phủ
khác nhau thì lượng đất bị xói mòn cũng khác nhau (Bảng I.7).
Bảng I.7. Lượng đất bị xói mòn và mật độ che phủ
Nguồn: Thái Phiên
Như vậy, đất trồng chè xẻ rãnh theo đường đồng mức lượng đất mất chỉ 3 - 5
tấn/ha; trong khi để đất trống trọc không có cây che phủ lượng đất bị xói mòn tăng
gấp 5 - 10 lần, thậm chí gấp 20 - 30 lần so với đất được cây che phủ.
Vì vậy, ta có thể quy việc chống xói mòn bảo vệ đất vào hai yếu tố cơ bản là: tạo lớp
phủ thực vật cho đất và ngăn cản tốc độ dòng chảy mặt khi mưa. Giọt nước mưa trực
tiếp rơi xuống mặt đất có sức công phá (bắn toé) rất mạnh làm phá vỡ cấu trúc đất,
các hạt đất to sẽ bị tách rời ra thành các hạt nhỏ và dễ bị nước cuốn trôi đi. Khi mưa
nước rất đục là do các hạt nhỏ lơ lửng này.
Tục ngữ có câu "Nước chảy đá mòn", nói lên sức mạnh của nước. Cứng như đá mà
còn phải chịu mòn huống hồ là mềm như đất. Các nhà khoa học dự tính rằng, trong
điều kiện tự nhiên để hình thành một lớp đất mặt dày khoảng 2,5cm từ đá biến
thành đất trồng trọt phải mất 300 năm. Trong điều kiện canh tác đất bị xáo trộn làm
cho đất thoáng hơn nên thời hạn hình thành đất có thể rút ngắn lại khoảng 30 năm.
Như vậy, ngưỡng đất bị xói mòn có thể chấp nhận được là khoảng 1,8 tấn/ha.năm
(N. Hudson, 1985). Thế mà chỉ trong khoảng thời gian ngắn một vài năm với cường
độ mưa lớn đã làm trôi đi lớp đất mặt ấy. Quả thật là một sự hoang phí của cải thiên
nhiên đã ban tặng cho loài người!
Thực tế cho thấy, nếu tuân thủ các biện pháp ngăn cản tốc độ dòng chảy như làm
ruộng bậc thang, tạo các bờ cản bằng các băng cây xanh, băng cỏ, bờ đá để ngăn
cản dòng chảy đều có thể giảm bớt lượng đất bị xói mòn và giữ ẩm cho cây trồng.
Các biện pháp đó đã ngăn cản được tốc độ dòng chảy mặt.
Xói mòn đất được chia ra thành: xói mòn mặt, xói mòn rãnh, trong đó có những rãnh
xói mòn to thành các đường mương thoát nước và xói mòn rãnh nhỏ. Xói mòn mặt
mưa kéo dài từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 10 năm 1992, với lượng mưa 1.333mm.
Đặc biệt chỉ trong 5 tiếng đồng hồ lượng mưa tới 320mm. Mực nước lên nhanh tới
10m/giờ, tốc độ dòng chảy cao nhất là 7m/giây. 17 làng dọc bờ sông bị thiệt hại, 29
người chết, của cải bị cuốn trôi, tính ra thiệt hại tới 5 tỷ đồng.
Lũ quét và trượt đất thường xảy ra ở vùng thượng nguồn các sông suối nhỏ bé, núi
dốc và thung lũng hẹp, núi đá, lớp phủ thực vật thưa thớt, tầng đất mỏng, dòng chảy
mặt tích luỹ nhanh.
Nguồn: Nguyễn Địch Dĩ, 2003Tình trạng chung trên đất dốc, nhất là ở vùng núi cao, khoảng 1/3 diện tích phía trên
dốc thường có lớp đất mỏng dưới 10 - 30cm thậm chí các tảng đá lớn nhỏ xen lẫn đất
mà một số người thường nói "do đá mọc lên". Qua thời gian canh tác không hợp lý,
lớp đất mặt bị trôi xuống phía chân đồi núi làm cho độ phì đất không đồng đều, năng
suất cây trồng phía trên dốc thường thấp hơn phía dưới dốc do độ màu mỡ của đất
giảm sút.
Quan sát nhiều vùng du canh theo kiểu đốt nương làm rẫy, chọc lỗ bỏ hạt ta thấy rất
nhiều đá lộ ra ngoài đất. Đốt rẫy thường được tiến hành vào đầu mùa mưa nên nếu
bị những trận mưa đầu mùa với cường độ mạnh thì phần lớn đất và dinh dưỡng bị
trôi đi và đá cứ thế nhô ra. Hậu quả trong toàn quốc đã có trên nửa triệu ha đất xói
mòn, trơ sỏi đá.
Đất suy dinh dưỡng
Hàng năm sản lượng cây trồng đã lấy đi từ đất một lượng chất dinh dưỡng lớn hơn
rất nhiều so với lượng chất dinh dưỡng được bù lại thông qua bón phân, tuần hoàn
hữu cơ và hoạt động của vi sinh vật. Ngoài ra, lượng dinh dưỡng trong đất còn mất
đi do xói mòn đất. Trong nhiều trường hợp lượng chất dinh dưỡng mất đi do xói mòn
còn lớn gấp nhiều lần so với lượng dinh dưỡng do cây lấy đi.
Ví dụ, cây sắn được trồng trên các loại đất đồi có độ phì nhiêu thấp. Lớp phủ thực vật
của cây sắn trong mùa mưa rất kém, tối đa chỉ khoảng 50 - 60%. Trong điều kiện
2
O = 0,05% để quy
ra lượng phân bón tương đương thì thiệt hại do xói mòn là rất lớn (Bảng I.9).
Bảng I.9. Ước tính thiệt hại tối thiểu do xói mòn trên đất dốc
Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam, 2000
Giả thử, ở nước ta chỉ có 10 triệu ha đất bị xói mòn với lượng đất mất đo bình quân
là 10 tấn đất/ha.năm, thì hàng năm đã mất đi một lượng dinh dưỡng cho cây trồng
tương đương với giá trị phân bón phải mua là 10 triệu ha x 60.000 đồng/ha = 600 tỷ
đồng. Đó là chưa tính lượng dinh dưỡng mất đi do rửa trôi, do nước thấm theo chiều
sâu.
Trong thực tế, thiệt hại về xói mòn đất còn lớn hơn nhiều. Số liệu theo dõi trên đất
phiến thạch dốc khoảng 15
o
tại Hoà Sơn, Lương Sơn, Hoà Bình sau 6 năm canh tác
cây ngắn ngày trên đất canh tác không áp dụng các biện pháp chống xói mòn, tổn
thất tính bằng tiền như sau:
• 4.757kg hữu cơ, tương đương với 23 tấn phân chuồng x 100.000đ/t =
2.300.000đ
• 141kg N tương đương với 313kg urê x 2.500đ/kg = 783.000đ
• 245kg P
2
O
5
tương đương với 1531kg phân lân Văn Điển x 1.000đ =
1.531.000đ
• 313kg K
2
O tương đương với 521kg KCl x 2.000đ/kg = 1.043.000đ
Ví như ở Inđônêxia, hoạt động chống thoái hoá đất và rừng tập trung ưu tiên ở 39
lưu vực theo quy hoạch tổng thể dài hạn 25 năm. Chương trình quản lý tổng hợp lưu
vực được phát triển với sự tham gia của các cơ quan có liên quan, và sẽ được thực
hiện tại 12 lưu vực ưu tiên. Chương trình cải thiện đất và rừng thoái hoá nhằm phục
hồi 1,9 triệu ha rừng và 4,9 triệu ha đất thoái hoá theo hư
ớng sử dụng đất bền vững,
như định canh cho 500.000 gia đình đang du canh.
Các nước khác trong khu vực, trong đó có Việt Nam cũng đang thực hiện kế hoạch
quản lý các lưu vực nhỏ ở các địa phương với sự tham gia của người dân. Rất nhiều
nơi, các lưu vực nhỏ là đơn vị lập kế hoạch và thực hiện theo quy hoạch tổng thể của
quốc gia trong sự phát triển của lưu vực.
Nguồn: Alan G. Brown, 1997
Đất vùng đồng bằng
Nhiều người lầm tưởng rằng, đất đồng bằng là những đất tốt, không hoặc rất ít
những "đất có vấn đề", nhưng trong thực tế trên đất bằng phù sa trồng lúa cũng xảy
ra nhiều vấn đề làm suy thoái và ô nhiễm đất ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông
nghiệp. Một trong những vấn đề đó là quá trình đất bị nhiễm mặn.
Ở ven biển về mùa khô do mức nước bị cạn, nếu không có các công trình ngăn mặn
hợp lý, khi thủy triều lên nước biển tràn theo sông xâm nhập vào đất liền. Về mùa
mưa bão nước biển có thể tràn vào đất liền làm đất nhiễm mặn. Thật vậy, ở nhiều
tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 1999 đến nay đã bị xâm nhập mặn
nặng. Các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh có tới 80.000ha đất nông nghiệp bị
nhiễm mặn. Ở Đà Nẵng đầu năm 2001, do sông đổi dòng chảy làm cho nước mặn
xâm nhập sâu vào trong đất liền, làm hàng trăm ha đất bị nhiễm mặn, thậm chí gây
mặn hoá cả nguồn nước sinh hoạt (độ mặn tăng 7 lần so với trước đây). Ở Đồng
bằng sông Hồng trong mùa khô sự xâm nhập mặn cũng trở nên phổ biến đã ảnh
Khung I.17. VÙNG PHÈN NẶNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Đồng Tháp Mười là vùng đất phèn và trũng có diện tích 697.000ha. Sản lượng lúa 20
năm qua tăng hơn 5 lần từ 0,57 triệu tấn lên 2,93 triệu tấn. Tuy nhiên, vẫn còn
9,3% diện tích thuộc loại phèn nặng còn nhiều khó khăn. Vụ Đông Xuân, nhờ sau
mấy tháng ngập lụt, đất được rửa phèn nên năng suất đạt khá cao (4,9tấn/ha),
ngược lại vụ Hè Thu thiếu nước ngọt, đất bốc phèn nên năng suất thấp hơn nhiều
(2,4 tấn/ha). Một số cơ cấu cây trồng phổ biến trên vùng phèn nặng (tiểu vùng ngập
sâu và tiểu vùng ngập nông) như sau:
Cơ cấu cây trồng
% diện tích vùng ngập
sâu
% diện tích vùng ngập
nông
Lúa Đông Xuân - Hè Thu 42,0 7,3
Lúa Đông Xuân - đay Hè
Thu
3,4 3,2
Lúa Đông Xuân - bỏ hóa 25,4 40,0
Khoai mỡ 1,3 3,4
Tràm 23,1 dứa (6,3)
Nguồn: Nguyễn Văn Thạc, Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam
, 2002
Ở Đồng bằng sông Hồng, đã có thời kỳ người nông dân chỉ chú ý bón phân đạm,
nhưng năng suất vẫn thấp. Khi bón phân cân đối hữu cơ, đạm, lân, kali và các
nguyên tố dinh dưỡng khác, đặc biệt đối với các giống lúa mới, họ đã thu được năng
suất cao và ổn định. Người nông dân đã hiểu ra rằng "cho đất ăn nhiều nhưng không
đủ chất".
gia. Dòng sông hùng vĩ này không những cho ta cá tôm, điều kiện dễ dàng trong
giao thông vận tải thuỷ mà còn cho ta vựa thóc khổng lồ, vì cặn phù sa đã đem lại
cho đất một nguồn bổ sung phì nhiêu, một kho vàng vô giá. Bạn đọc hãy tưởng
tượng: về mùa khô, trong 1m3 nước sông chỉ chứa 10 - 20g cặn phù sa; đến mùa lũ
lụt, lượng cặn này lên tới 400 - 500g. Hàm lượng các chất dinh dưỡng tăng lên rõ rệt
do các khoáng hoà tan ở thượng nguồn chảy về: cứ một lít nước sông trung bình
chứa 2,4mg đạm và 0,6mg lân ở dạng hoà tan. Chỉ tính riêng lượng đạm hoà tan đó,
trong khối nước tràn ngập 2 triệu ha đồng bằng đã lên tới 48.000 tấn đạm nguyên
chất, tương đương với 10 vạn tấn urê hay 25 vạn tấn đạm sunphát. Ngoài ra, trong
1,5 tỷ m
3
cặn phù sa này còn chứa biết bao nhiêu lân, canxi và magiê, vì cứ mỗi kg
phù sa có 1,5mg lân, 16mg canxi và 3mg magiê. Loại đất được hình thành trên cặn
của hệ thống sông này là đất phù sa. Trải qua hàng chục vạn năm, đất phù sa được
hình thành và hàng năm nước lụt lại bồi thêm lớp phù sa mới. Trong số gần 4 triệu
ha đất tự nhiên thì 2 triệu ha được hình thành trong môi trường nước ngọt. Sự phân
bố và tính chất đất tuân thủ một số quy luật sau:
- Do lũ lụt tràn xuống từ phía Bắc, nên đất phía Bắc có một lớp dày phù sa mới đầu
nguồn, hạt thô; lụt tới sớm và nước cũng rút đi sớm hơn. Miền hạ lưu, sản phẩm bồi
tụ mịn nên đất nặng hơn. Trong cùng một vùng, đất ở ven sông có địa hình cao hơn
đất xa sông, nên dễ thoát nước hơn và cũng vì vậy, chất hữu cơ ít hơn; các hạt cát
và limon lắng đọng ngay ở ven sông nên đất có thành phần cơ giới nhẹ. Ở vùng xa
sông, đất trũng, thấp và bị úng nước nhiều hơn, nên giàu chất hữu cơ, thành phần cơ
giới nặng vì các hạt sét di chuyển đến đó mới lắng đọng xuống.
Thuỷ lợi - bài toán thiên niên kỷ đối với sử dụng đất ở Đồng bằng sông Cửu Long:
Việt Nam có 2 triệu ha đất phèn, trong đó tới 1,8 triệu ha phân bố ở Đồng bằng sông
Cửu Long. Đây là vốn đất rất quý, nếu chúng ta biết "tính chúng và hiểu chúng”,
giống như một cô gái xinh đẹp nhưng lại rất bướng bỉnh”. Nếu như ở đất phù sa ngọt
của Đồng bằng sông Hồng, để tăng hiệu quả sử dụng đất bà con nông dân thường
quy luật tự nhiên của diễn biến lũ, nên kiểm soát lũ có phần thái quá nhiều công
trình ép lũ và cản trở dòng chảy của lũ làm cho lũ nghiêm trọng hơn, gây thiệt hại
nhiều hơn trong những trận lũ lớn. Công bằng mà nói, hệ thống công trình ngăn lũ
tràn qua biên giới vào Tứ giác Long Xuyên và thoát lũ về vịnh Thái Lan có thể có
những điều chỉnh nhất định, nhưng về cơ bản là đúng, có tác dụng tích cực, thiết
thực, đã được kiểm chứng qua trận lũ năm 2000. Do đó cần tập trung đầu tư hoàn
tất nhanh các hạng mục công trình còn lại để phát huy tác dụng tốt hơn cho các trận
lũ lớn tiếp theo. Đặc biệt, một hệ thống công trình chức năng như vậy ngăn lũ tràn
qua biên giới và thoát lũ cho vùng Đồng Tháp Mười trên thực tế vẫn còn là bài toán
chưa giải. Cũng nhờ có những giải pháp thuỷ lợi mà Đồng bằng sông Cửu Long đã có
điều kiện để chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Hiện nay hai vụ lúa:
Đông Xuân và Hè Thu đang là bộ phận chủ lực của sản xuất lúa gạo ở vùng lũ trên
nền đất phèn vốn rất khó tính. Vụ Đông Xuân là vụ ăn chắc có năng suất, chất lượng
và hiệu quả nhất nên ổn định diện tích. Vụ Hè Thu thiếu vững chắc hơn so với vụ
Đông Xuân, nhất là vụ Hè Thu trên những chân ruộng lũ về sớm và ngập sâu, rất
bấp bênh, nên thu hẹp. Để phù hợp với điều kiện sinh thái và có điều kiện thâm
canh, thay vào đó bằng cây trồng, vật nuôi khác, như nuôi cá, tôm trong hệ thống
canh tác lúa - cá hoặc tôm. Những mô hình:
Lúa + cá; lúa + tôm nước ngọt; lúa + tôm nước lợ đang phát triển rất nhanh, hứa
hẹn nhiều triển vọng. Còn ở những vùng ngập sâu, không thích hợp với cây lúa hiện
đang được trả dần đất đai cho cây tràm (Melaleuca) kết hợp với thủy sản tự nhiên và
dự trữ điều tiết nước. Ở vùng ngập nông thích hợp với cây ăn trái, cây công nghiệp,
người nông dân trong cơ chế thị trường đã và đang thấm dần câu châm ngôn: "Nhất
Ảnh I.25. Cồn cát ở Ninh Thuận
canh trì, nhì canh viên, ba canh điền", xây dựng hệ thống bờ bao kiên cố chống lũ
triệt để bảo vệ vườn cây và nuôi tôm, cá. Cây ăn trái có giá trị khai thác tài nguyên
đất cao, nếu kết hợp với thuỷ sản trong vườn cây thì hiệu quả kinh tế còn cao hơn
nhiều so với trồng lúa.
cửa, ruộng vườn của nhân dân. Vùng cát ven biển đang tiếp tục mở rộng do các hiện
tượng: cát bay, cát chảy và cát nhảy. Cả ba dạng di chuyển cát này làm cho mặt đất
luôn luôn bị xáo trộn, trung bình tới độ sâu 35cm, cây trồng bị vùi lấp, không sống
được trên cát. Do đó, muốn cải tạo vùng đất cát thành đất trồng trọt được phải có ba
yếu tố: cát phải ổn định không bị xáo trộn; cát có độ ẩm thích hợp và cát phải có
lượng dinh dưỡng nhất định. Bởi vậy, cần phối hợp đồng bộ ba giải pháp sau: biện
pháp thuỷ lợi, biện pháp lâm nghiệp và biện pháp nông nghiệp (Hình I.6).
Diện tích đất cát biển chưa được sử dụng
còn rất lớn, khoảng 30 - 40%, nhân dân ta từ lâu đã biết lựa chọn những loại cây
trồng thích ứng với vùng đất này, bao gồm:
- Cây lấy gỗ và cây ăn quả: phi lao là loại cây có tính chống chịu cao, có thể phát
triển ngay ở những vùng có đụn cát di động để chống cát bay và cũng có tác dụng
giữ cát lại khi cát theo sóng tràn vào bờ. Không phải là cây họ đậu nhưng phi lao có
thể cố định 58,5kg đạm/ha.năm từ khí trời vì rễ của chúng có nốt sần. Thường phi
lao được trồng xen với các loại cây thân gỗ khác như bạch đàn, xoan, cây bông gòn,
và các loại cây thấp như dứa dại, cỏ hương bài (cỏ Vetive), các loại cây có củ như
khoai lang, sắn, Quảng Bình là nơi nạn cát di động xảy ra mạnh nhất. Từ lâu, nơi
này đã có lâm trường chuyên trồng rừng phi lao chống cát di động.
Vùng này cũng có thể trồng các loại cây ăn quả như đào lộn hột (cây điều), xoài, dừa
và các loại cây ăn quả khác như mít, hồng, na, cam, chanh, nhãn,
- Các loại cây trồng ngắn ngày: lạc, vừng, kê, các loại cây hoa màu ngắn ngày
(khoai lang, sắn, ngô, thuốc lá, đậu xanh, khoai tây), các loại rau, dưa hấu,
Gần đây, việc nuôi tôm sú trên bãi cát ven biển ở các tỉnh Nam Trung Bộ đã và đang
phát triển mạnh. Ví dụ, ở Ninh Thuận năm 2000 có 5ha nuôi tôm trên cát với sản
lượng 15 tấn tôm thì năm 2001 đã tăng lên 120ha với sản lượng là 500 tấn. Đến hết
năm 2003 diện tích nuôi tôm ở 12 tỉnh ven biển miền Trung đã tăng lên 1.072ha với
sản lượng 4.709 tấn. Tuy nhiên, do không có quy hoạch, và kỹ thuật nuôi, nên nhiều
vấn đề môi trường nảy sinh như diện tích rừng phòng hộ ven biển giảm sút, mặn hóa
và suy giảm, ô nhiễm nước ngầm ngọt.