Tài liệu Chương III: Ô nhiễm đất doc - Pdf 10

Chương XIII
Ô NHIỄM ÐẤT

1. Khái niệm về ô nhiễm đất
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, nhiều đô thị và thành phố cũng
được hình thành thì tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Khói thải từ các nhà máy
và các xe cơ giới làm ô nhiễm bầu không khí. Nước thải từ các nhà máy và khu dân cư đô thị làm ô
nhiễm nguồn nước. Khi không khí và nước bị ô nhiễm thì đất cũng bị ô nhiễm.
Trong nông nghiệp, chúng ta đã và đang sử dụng ngày càng nhiều các loại thuốc trừ sâu,
thuốc trừ cỏ và một số phân hoá học, một số trong các loại hoá chất đó cũng có thể gây ô nhiễm
đất. Hàm lượng các chất độc hại đó tích luỹ trong đất tới mức độ nào đó sẽ gây hại cho cây trồng
và vi sinh vật đất, từ đó phá vỡ cân bằng sinh thái giữa đất và các hệ sinh thái khác.
Ô nhiễm đất không những làm giảm khả năng sản xuất của đất mà còn lấy đất làm điểm
xuất phát để ảnh hưởng tới thực vật, động vật và người - một số nguyên tố vi lượng hoặc siêu vi
lượng có tính độc hại tích luỹ lại trong nông sản phẩm từ đó gây tác hại nghiêm trọng đối với
động, thực vật và người.
Ô nhiễm đất còn làm hại đến môi trường khác như nước ngầm, nước mặt, không khí. Ví
dụ, một số chất ô nhiễm có tính hoà tan trong nước, thấm xuống nước ngầm, hoặc có thể bị dòng
nước di chuyển đi nơi khác tạo nên sự ô nhiễm nước trên mặt đất. Gió thổi có thể chuyển chất ô
nhiễm đi xa làm cho diện tích ô nhiễm mở rộng hơn. Bởi vậy, ô nhiễm đất cũng có thể trở thành
nguồn ô nhiễn đối với nước và không khí.
Muốn phòng chống ô nhiễm đất cần tìm hiểu nguồn gốc, số lượng, các dạng, sự di
chuyển, sự chuyển hoá, sự tích luỹ và tiêu tan của các chất gây ô nhiễm.

2. Nguồn gây ô nhiễm
Nguồn gây ô nhiễm đất trước hết là từ nước và không khí, ngoài các chất đặc biệt do núi
lửa phun ra còn có các chất thải trong công nghiệp và sinh hoạt (hơi thải, nước thải, cặn thải,
phân hữu cơ, rác). Tất nhiên, phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, các khoáng sản đang khai
thác, các chất phóng xạ cũng đều là các chất ô nhiễm từ bên ngoài vào đất.
2.1. Tưới nước thải công nghiệp làm ô nhiễm đất
Nông dân dùng nước thải công nghiệp từ các nhà máy ra hoặc nước cống thành phố để

cho sức khoẻ của người và gia súc.
2.3. Các chất phế thải của công nghiệp làm ô nhiễm đất
Các chất thải của các nhà máy và hầm mỏ thường chứa một số kim loại nặng hoặc một số
chất độc dạng hữu cơ và dạng axit, dạng bazơ hoặc các muối khác làm cho đất bị ô nhiễm ở các
kiểu khác nhau. Vấn đề này rất phổ biến ở các thành phố và khu công nghiệp lớn.
2.4. Nông dược và phân bón làm ô nhiễm đất
Các hợp chất clo hữu cơ trong nông dược dễ tồn lưu lại trong đất, nếu sử dụng liều lượng
lớn và liên tục nhiều năm có thể gây ô nhiễm đất. Trong sản xuất phân hoá học, do nguyên liệu
không tinh khiết có thể đem lại một số nguyên tố có hại như công nghiệp sản xuất phân lân liên
tục với số lượng nhiều sẽ làm cho hàm lượng các nguyên tố Cd, As tăng lên gây ô nhiễm đất.
Nếu dùng phân đạm dạng cyanamit canxi (CaCN
2
) có thể tồn lưu trong đất gây hại cho cây
trồng.
2.5. Các chất phóng xạ làm ô nhiễm đất
Các chất phóng xạ tồn tại trong đất thường là K
40
, Ra
87
, C
14
. Hiện nay người ta đã tìm
thấy nhiều nguyên tố khác nhập vào đất nhưng trong đó chỉ có Sn
90
và Cs
137
là hai chất phóng xạ
bền vững ở trong đất, chu kỳ bán huỷ của chúng là 28 và 30 năm. Theo tài liệu của Mỹ thì trong
đất Mỹ Sn
90

Bảng 13.1: Các chất chủ yếu làm ô nhiễm đất và nguồn gốc của chúng
Dạng
Chất ô nhiễm Nguồn gốc chủ yếu
Chất ô
nhiễm
vô cơ
As Nông dược chứa As, H
2
SO
4
, y dược, nước thải công nghiệp
thuỷ tinh
Cd Luyện kim, mạ điện, xưởng thuốc nhuộm, hơi thải chứa Cd
Cu Luyện kim, công nghiệp chế đồ đồng, nông dược chứa chất đồng
Cr Luyện kim, mạ, nước thải xưởng in và nhuộm
Hg Xưởng sản xuất hợp chất có chứa Hg, nông dược chứa thuỷ ngân
Pb Nước thải luyện kim, nông dược
Zn Nước thải luyện kim, xưởng dệt, nông dược chứa Zn, phân lân
Ni Nước thải luyện kim, mạ, luyện dầu, thuốc nhuộm
F Nước thải sau khi sản xuất phân lân
Muối kiềm Nước thải nhà máy giấy, nhà máy hoá chất
Axit Nước thải nhà máy sản xuất H
2
SO
4
, đá dầu, mạ điện
Chất ô
nhiễm
hữu


, của 2 chất sau là 5,7. 10
-24
do đó chất
đầu độc hại hơn 2 chất sau. Bởi vậy, nếu ta bón các muối sunphat sắt nhôm (phèn chua) vào đất
bị ô nhiễm As có thể giải độc As dần dần do nguyên nhân nói trên.
Ðiều cần lưu ý là cùng một loại đất và cùng bón thử một lượng As như nhau nhưng lượng
As tích luỹ trong bột gạo cao hơn trong bột mỳ. Kết quả thí nghiệm ở đất vùng Tân Trạch (Trung
Quốc) cho thấy hàm lượng As
2
O
3
trong rơm rạ cao hơn trong hạt thóc 10 - 20 lần vì vậy cần lưu
ý lúc sử dụng rơm rạ ở vùng đất có ô nhiễm As làm thức ăn cho trâu bò.
3.2. Cadimi (Cd)
Bản thân nguyên tố Cd không độc nhưng hợp chất của nó thì độc hại nhiều. Hàm lượng
Cd trong đất khoảng 0,5 ppm. Ðất Nhật Bản bị ô nhiễm Cd rất nặng, họ quy định nếu đất chứa
dưới 2 ppm là không độc.
Trong đất ô nhiễm các nguyên tố kim loại nặng, hàm lượng Cd có quan hệ với hàm lượng
Zn và Pb, nếu Cd nhiều thì Zn và Pb cũng nhiều.
Tầng đất mặt ở các vùng lân cận nhà máy luyện kẽm có thể chứa 1700 ppm Cd. Cd trong
đất có thể ở dạng hoà tan trong nước (dạng ion và phức chất) và dạng không tan trong nước (dạng
hấp phụ, dạng kết tủa và dạng phức tạp khó tan). Hai dạng này có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ điều
kiện môi trường. Cd gây độc hại cho cây chủ yếu ở dạng hoà tan trong nước.
Trong môi trường chua, độ tan của Cd tăng, độ độc sẽ tăng, trong môi trường kiềm, tạo
thành kết tủa Cd(OH)
2
, vì vậy trong đất có phản ứng cacbonat hoặc đất bón nhiều vôi thì độ độc
hại của Cd sẽ giảm. Ðộ hoà tan của các hợp chất Cd theo thứ tự như sau: hợp chất Cd với S <
hợp chất Cd với OH < hợp chất Cd với cacbonat.
Ðiều kiện oxy hoá khử là yếu tố xúc tiến sự chuyển hoá các hợp chất Cd.

. Trong keo sét, Al trong
khối tám mặt của phiến gipxit có thể trao đổi với Cr
3+
và như thế Cr trở thành nguyên tố cấu tạo
tinh thể keo khoáng. Bởi vậy, Cr trong đất rất khó tan, cây khó hút. Kết quả thí nghiệm trong
chậu của Ðại học Nông nghiệp Triết Giang Trung Quốc về tưới nước nhiễm Cr đã phát hiện 85 -
99% Cr tồn lưu lại trong đất và hầu như toàn bộ nằm trong tầng đất mặt 0 - 5 cm.
Ðộ pH và trạng thái oxy hoá khử của đất có thể làm thay đổi trạng thái hợp chất Cr.
Trong đất trung tính hoặc kiềm Cr
3+
sẽ kết tủa ở dạng Cr(OH)
3
. Khi Eh thấp thì Cr
6+
bị khử thành
Cr
3+
.
Loại cây khác nhau hút Cr
6+
và Cr
3+
cũng khác nhau. Ví dụ cây thuốc lá hút có tính chọn
lọc Cr
6+
, cây ngô không hút Cr
6+
, cây lúa hút cả Cr
6+
và Cr

(PO
4
)
2
ít hoà tan,
cây khó hút vì vậy trong đất có phản ứng cacbonat hoặc trong đất trung tính vấn đề ô nhiễm chì
không đáng kể. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng hấp phụ chì của keo sét cao hơn 2 - 3 lần
hấp phụ canxi. Chất hữu cơ cũng hấp phụ chì mạnh. Vì tính di động của chì kém nên cây bị ô
nhiễm có lẽ do chì trong không khí là chủ yếu.
3.5. Thuỷ ngân (Hg)
Ở Nhật Bản đất bị ô nhiễm thuỷ ngân rất nặng. Từ 1953 - 1967 trên toàn bộ đất canh tác
Nhật Bản đã sử dụng hơn 6800 tấn thuỷ ngân, hàm lượng thuỷ ngân trong gạo từ 0,02 ppm
(1946) tăng lên 0,15 ppm (1966) vì thế ở Nhật bắt đầu ngừng và hạn chế bón thuỷ ngân.
Hợp chất thuỷ ngân vô cơ vào đất có thể bị hút và giữ chặt vì keo sét và keo hữu cơ hấp
phụ thuỷ ngân mạnh, Fe(OH)
3
và Al(OH)
3
có thể hút các anion HgCl
3-
và HgCl
4
2-
. Một số keo có
thể hấp phụ vật lý đối với thuỷ ngân ở dạng phân tử HgCl và Hg
2
Cl
4
. Mặt khác, tác dụng kết tuả
hoá học của thuỷ ngân vô cơ trong đất rất mạnh, tạo thành các hợp chất hydroxyl thuỷ phân,

+
hoà tan trong nước có thể bị cây hút, bởi vậy trong điều kiện đất lúa ngập nước
nếu chứa thuỷ ngân sẽ gây độc cho cây.
Trong đất cạn, lượng thuỷ ngân dễ tiêu rất ít, nhưng sau ngập nước thì thuỷ ngân dễ tiêu
tăng lên, ví dụ một loại đất đá vôi khi khô phân tích Hg dễ tiêu rất ít hoặc không có nhưng sau
ngập nước 7 ngày, Eh giảm xuống 328 mV thì thuỷ ngân dễ tiêu tăng lên 0,05 ppm, sau đó giảm
dần xuống 0,02 - 0,01 ppm, vì thế cây lúa nước bị ô nhiễm thuỷ ngân rõ hơn tiểu mạch.
Theo tiêu chuẩn vệ sinh quy định về hàm lượng Hg trong lương thực không được vượt
quá 0,02 ppm

3.6. Flo (F)
Tuy không phải là nguyên tố kim loại nặng nhưng tính độc hại của nó cũng tương tự.
Vùng không khí bị ô nhiễm flo (F
2
và HF) thì hàm lượng F trong đất tăng. Trong đất cạn có phản
ứng trung tính hoặc kiềm, hợp chất của flo (như CaF
2
) có độ hoà tan rất bé nên cây khó hút.
Trong đất cát và đất chua, F dễ bị cây hút hơn. Kết quả thí nghiệm cho thấy: lúc trong đất chứa
500 ppm F sẽ ức chế cây đậu tằm và cây cà rốt. Cây sống trên đất nhiều F có hàm lượng F trong
các bộ phận cũng khác nhau (rễ > lá > hạt). Nếu bầu không khí nhiễm F sẽ ảnh hưởng rõ đến
cây,
Bảng 13.2: Ảnh hưởng của F ô nhiễm đất và không khí đối với hàm lượng F trong các bộ
phận cây đậu tằm (ppm)
Công thức xử lý Hạt Lá Rễ
Ðất được bón 500 ppm F
Ðất được bón 500 ppm F + ô nhiễm không khí
0
1,5
20

Thuốc trừ sâu dạng lân hữu cơ
Thuốc trừ sâu có gốc ammon
10 - 30
2 - 4
1 - 2
- 0,4
0,02 - 0,2
0,02
Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tồn lưu của nông dược là thành phần cơ giới, hàm lượng
mùn, độ pH, độ ẩm, trạng thái vi sinh vật đất, chế độ canh tác, loại cây trồng Thí dụ nghiên cứu
DDT cho thấy trong điều kiện yếm khí chất này chuyển ra dạng DDD nhanh hơn nhiều so với
khi chuyển ra dạng DDE trong điều kiện hảo khí, đặc biệt nếu bón phân xanh vào thì phân giải
càng nhanh. Từ đó ta thấy rằng với các chế độ canh tác khác nhau thì tính tồn lưu nông dược
cũng khác nhau.
Do tốc độ phân huỷ của DDD và DDE rất chậm cho nên dù đã đình chỉ sử dụng DDT
nhưng chúng vẫn tồn lưu lâu dài ở trong đất. Số lượng nông dược tồn lưu trong đất được gọi là
"tồn dư" tính theo đơn vị mg/kg đất hoặc ppm.
+ Ảnh hưởng của sự tồn tại nông dược
Sau phân giải thì tính độc của một số nông dược càng tăng. Ví dụ thuốc trừ cỏ 2,4,5-T ở
trong đất bị vi sinh vật phân giải tạo thành một số chất có thể gây nên quái thai động vật. Năm
1970 ở Mỹ đã công bố hạn chế sử dụng nông dược này, ở Nhật năm 1965 đã chế ra một loại
rượu chống được bệnh đạo ôn không có hại cho lúa nhưng khi sử dụng rơm rạ đã xử lý bằng
rượu này để ủ phân thì vi sinh vật phân giải và tạo ra hai chất có hại cho cây, vì hai chất đó có
đặc tính hoá học ổn định:
Cl
Cl
Cl
Cl
Cl
CH

giết chết 99% động vật bé ở trong đất, nếu muốn phục hồi phải mất 2 năm. Sau khi dùng nông
dược, các tuyến trùng, vi khuẩn và nấm sẽ giảm số lượng, tuy chúng sẽ được phục hồi nhưng vẫn
ảnh hưởng đến độ màu mỡ của đất đặc biệt là những đất dùng nhiều nông dược và dùng liên tục.
Các nông dược có thể bị các động vật hút giữ lại trong đất ví dụ lượng DDT trong cơ thể
giun đất nhiều gấp 1,18 - 4,86 lần trong đất, nơi nó sống.
Sự biến hoá vi sinh vật, động vật trong đất tất nhiên sẽ gây nên sự biến hoá độ màu mỡ
và chế độ dinh dưỡng trong đất.
* Sự chuyển hóa nông dược trong đất
Nông dược trong đất chuyển hoá theo các con đường sau đây:
+ Bay hơi
Một số nông dược có tính bay hơi như thuốc trừ cỏ (EPTA, CDEA) và thuốc trừ sâu,
chúng bốc hơi ở tầng đất mặt. Tuy nhiên thuốc trừ sâu dạng lân hữu cơ có áp suất bay hơi bé
nhưng nó bốc hơi từ trong đất rất rõ: khi bốc hơi kéo dài và gặp mưa, 2 dòng đối lưu đó sẽ làm
cho phân tử thuốc bay hơi và cuối cùng trở lại mặt đất. Theo tính toán, trên diện tích 1 km
2
mỗi
năm có thể tích luỹ 20 g DDT.
+ Hoà tan, rửa trôi và chảy tràn
Loại nông dược có tính hoà tan mạnh ở trong nước (như 2,4D) dễ di động và rửa trôi ra
khỏi đất gây ô nhiễm nước trên mặt đất và nước ngầm. Nói chung, thuốc trừ cỏ dễ rửa trôi hơn
thuốc trừ sâu và thuốc diệt khuẩn. Nếu loại thuốc nào bị đất hút chặt thì không di chuyển theo
phẫu diện xuống dưới nhưng khi mưa to hoặc sau tưới sẽ theo nước nhập vào mặt đất rồi lắng
xuống cùng bùn, nếu dùng bùn đó bón ruộng thì đất bị ô nhiễm. Nước chảy tràn trên mặt có thể
hoà tan và di chuyển một số nông dược vì vậy sau khi sử dụng nông dược 1 - 2 ngày nếu trời
mưa to thì nước xung quanh vùng đó dễ bị ô nhiễm gây hại cho người và cây.
+ Ánh sáng phân giải
Mặt đất chịu bức xạ của mặt trời, tia tử ngoại có tác dụng phân giải một số thuốc trừ cỏ
và DDT. Tốc độ phân giải thường chậm.
+ Tác dụng hoá học
Thuốc trừ sâu dạng lân hữu cơ bị tiêu tan chủ yếu do tác dụng phân giải theo con đường

Phân đạm chủ yếu là urê, amonisunphat, amonclorua, amoninitrat Phân lân chủ yếu là
superphosphat, tecmophosphat, phosphorit Phân kali chủ yếu là kali clorua, kali sunphat Phân
bón là một trong những yếu tố quan trọng làm tăng năng suất cây trồng, nhưng cũng có những
mặt trái, đặc biệt ở những vùng thâm canh cao bằng phân hoá học, sử dụng không cân đối phân
N, P, K và các loại phân hữu cơ và phân vi lượng khác. Hiện tượng có thể gặp là sự hoá chua của
đất, kết cấu đất bị kém đi, sự tích đọng kim loại nặng (Pb, Cd, Cu, Zn, Ni ) và NO
3
-
, NH
4
+

trong đất, nước.
Sự tồn lưu của phân bón trong đất khác nhau tuỳ thuộc loại phân sử dụng.
+ Ðối với phân đạm: phần lớn phân đạm dễ tan, ngoài phần cây trồng sử dụng, phần còn
lại trong đất tham gia vào các quá trình chuyển hoá khác nhau trong đất và được giữ lại chủ yếu
ở dạng NO
3
-
và NH
4
+
. NH
4
+
được keo đất giữ, trong điều kiện oxi hoá NH
4
+
dễ dàng bị nitrat hoá
để hình thành NO

Ngoài phần P cây hút và một phần nhỏ dễ hoà tan bị mất đi theo dòng chảy, phần lớn lân tồn tại
ở trong đất ở dạng các hợp chất khó tan với Ca, Al và Fe. Ngoài ra, trong điều kiện đất vùng
nhiệt đới chua nhiều, một phần P bị giữ chặt do hấp phụ lý hoá học bởi các keo dương. Ðây
chính là lý do tại sao hàm lượng lân tổng số trong một số loại đất tăng lên nhiều trong những
năm gần đây do bón phân lân liên tục. Tồn dư của P trong đất tuy không ảnh hưởng xấu đến môi
trường, nhưng sự cố định lân quá mạnh của một số loại đất làm giảm hiệu suất sử dụng của phân
lân.
+ Ðối với phân kali: Khác với phân lân, phân kali dễ tan hơn. Tồn dư của kali trong đất
không gây độc cho đất và môi trường. Kali tồn lưu này có thể tồn tại ở trong đất dưới các dạng
khác nhau tuỳ thuộc vào lượng tồn dư và loại đất. Một phần kali tồn lưu có thể hoà tan tồn tại
trong nước, phần kali này dễ bị rửa trôi khỏi đất hoặc dễ dàng được cây hấp thụ. Phần lớn kali
tồn lưu được keo đất hấp phụ ở dạng kali trao đổi hoặc kali nằm sâu trong khe hở giữa các lớp
tinh thể của keo sét. Ðặc biệt các đất có chứa nhiều hydromica sự hấp phụ và cố định kali càng
mạnh. Khác với lân, kali sau khi được đất hấp phụ hoặc cố định trong các khe hở của keo sét có
thể chuyển thành kali dễ hoà tan và kali trao đổi để cung cấp cho cây.
* Sự chuyển hoá của phân bón trong đất
Phân bón trong đất chịu tác động của những chuyển hoá chính sau:
+ Quá trình điện ly, ví dụ sự điện ly của amonisunphat
(NH
4
)
2
SO
4
D 2NH
4
+
+ SO
4
2-

2
CO
3
(NH
4
)
2
CO
3
D 2NH
4
+
+ CO
3
2-
+ Quá trình nitrat hoá
Nitrosomonas
2NH
4
+
+ 3O
2
2NO
2
-
+ 4H
+
+2H
2
O + Q

+
K
+
K
+
+ HCl + CaCl
2
+ Quá trình kết tủa
Ca(H
2
PO
4
)
2
+ Ca(HCO
3
)
2
→ 2CaHPO
4
+ 2H
2
CO
3

5. Tình hình ô nhiễm đất Việt Nam hiện nay
5.1. Ô nhiễm đất do sử dụng phân hoá học
Theo báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 1999, ở Việt Nam, 80% phân bón hoá
học dành cho lúa, lượng NPK bón còn thấp. Năm 1980 toàn bộ phân bón cả nước qui ra đơn vị
dinh dưỡng nguyên chất là 129.000 tấn, đến năm 1998, đỉnh cao của phân hoá học đã dùng (qui

Năm 1997 đã bón 126,1 kg/ha, xấp xỉ mức trung bình của thế giới, nhưng còn thấp hơn
nhiều so với Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Tuy nhiên ở một số vùng thâm canh tăng vụ
cao thì lượng phân bón có thể được sử dụng nhiều hơn.
Tuy chưa gây ra những tác động ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhưng việc bón phân
vô cơ đơn độc liên tục đã ảnh hưởng đến sự chua hoá ở tầng canh tác. Một số vùng sử dụng đạm
nhiều có liên quan với sự tích luỹ NO
3
-
trong nước. Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế, 20% số
giếng khoan ở vùng biển có chứa đến 10 mg NO
3
-
/lít nước, 13,8% số giếng khơi ở vùng đồng
bằng có chứa hơn 7 mg NO
3
-
/lít nước.
5.2. Ô nhiễm đất do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và diệt cỏ
Những loại thuốc chính được sử dụng là: thuốc diệt sâu, diệt cỏ, diệt nấm, diệt chuột, diệt
giun tròn
Thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở nước ta trong những năm qua thuộc 4 nhóm chính:
clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat và pyrethroid, trong đó thuốc nhóm lân hữu cơ trong những
năm gần đây chiếm 60%.
Khối lượng thuốc bảo vệ thực vật ở nước ta sử dụng không nhiều trong vòng 10 năm gần
đây, tính bình quân chỉ đạt 0,3 - 0,4 kg hoạt chất /ha/năm. Năm cao nhất cũng chỉ đạt 0,6 - 0,7 kg
hoạt chất/ha/năm. Năm 1990 dung 0,2 kg hoạt chất/ha/năm. Tuy nhiên, nếu dùng không đúng
vẫn gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí.
Cần rất chú ý vì hiện nay người dân vẫn sử dụng một số loại thuốc mà thế giới đã hạn chế
hoặc cấm sử dụng vì rẻ tiền. Việc sử dụng thuốc chưa tuân thủ chặt chẽ qui chế và qui trình sử
dụng trong khi đó một số loại thuốc có thể tồn tại trong đất khá lâu.

- Nước thải của mỗi công ty đều chứa kim loại nặng vượt quá TCVN 5945/1995 (Tiêu
chuẩn Việt Nam) đối với nước thải công nghiệp loại B. Ở Công ty pin Văn Ðiển Hg gấp 9,04
lần, ở công ty Orion-Hanel Pb gấp 1,12 lần. Các kim loại này có nồng độ đáng kể trong đoạn
sông Tô Lịch và mương Hanel gần cống thải.
- Hàm lượng các kim loại nặng trong trầm tích sông Tô Lịch cao hơn hàm lượng nền
13,88 - 20,50 lần.
+ Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Khang và Nguyễn Xuân Thành (1997), các sông
của nội thành Hà Nội: Kim Ngưu, Tô Lịch và phần cuối của sông Nhuệ (tiếp giáp với sông Tô
Lịch) đều bị ô nhiễm cả về mùi, màu sắc và nhiều chỉ tiêu lý, hoá học khác, ví dụ đối với nước
sông Kim Ngưu có BOD
5
: 50 - 190mg/L, NH
4
+
: 3 - 25mg/L, COD: 90 - 495mg/L, DO: < 1mg/L,
H
2
S: 7 - 11mg/L, cặn lơ lửng: 50 - 200mg/L.
Bảng 13.5. Hàm lượng (ppm) của một số kim loại nặng trong đất gần công ty Orion-Hanel
Kim loại Ðộ sâu, cm ÐR.200 ÐR.1500 ÐL.200 ÐL.1500 ÐR.1
Cu
0 - 20 21,24 18,80 23,02 20,65 20,01
20 - 40 18,22 17,36 17,26 16,14 16,86
Pb
0 - 20 27,93 18,50 26,83 19,02 16,35
20 - 40 21,46 13,77 19,28 14,18 7,47
Zn
0 - 20 43,72 36,65 44,50 37,69 32,25
20 - 40 39,25 32,46 41,02 32,58 28,26
Cd

nay còn phải tạm dùng một số nông dược tồn lưu nhiều như chế phẩm kim loại nặng, cần được
hạn chế phạm vi sử dụng, lượng dùng và số lần dùng. Một hướng mới hạn chế dùng thuốc gây ô
nhiễm là cần mở rộng phương pháp sinh vật phòng trừ kết hợp với phương pháp khác (phòng trừ
tổng hợp).
6.3. Làm sạch hoá đồng ruộng
Dùng vôi và muối phosphat kiềm để khử chua, chuyển phần lớn nguyên tố kim loại nặng
sang hợp chất khó tan từ đó làm giảm nồng độ của chúng trong dung dịch.
Tiêu nước vùng trũng, điều tiết Eh đất làm cho một số nguyên tố kim loại nặng chuyển
sang dạng khó tan.
Luân canh lúa màu có thể xúc tiến phân huỷ DDT.
Cải thiện thành phần cơ giới đất, tăng cường bón phân hữu cơ.
Ðối với đất cát cần nâng cao tính đệm và khả năng hấp phụ để hút các cation kim loại và
nông dươc, áp dụng biện pháp tổng hợp nâng cao độ màu mỡ của đất, tạo điều kiện cho vi sinh
vật hoạt động phân huỷ các nông dược tồn lưu trong đất.
6.4. Ðổi đất, lật đất
Khi đất bị ô nhiễm nặng (như Cd) có thể áp dụng biện pháp đổi đất, lật đất. Ưu điểm của
cách này là cải tạo triệt để nhưng khó thực hiện trên diện tích rộng.
6.5. Thay cây trồng và lợi dụng hấp thu sinh vật
Nếu đất bị ô nhiễm nặng nên thay cây lương thực, cây ăn quả bằng cây hoa, cây cảnh
hoặc cây lấy gỗ. Nếu đất trồng cỏ chăn nuôi thì nên thu hoạch vào thời gian hàm lượng chất độc
thấp nhất.
Ngoài ra có thể trồng những cây không dùng để ăn mà có khả năng hút mạnh các chất có
chứa nguyên tố kim loại nặng. Ví dụ, nếu trồng lúa nước trên đất ô nhiễm 10% Cd phải mất 350
năm mới hút hết Cd, nếu trồng lúa nương (cạn) mất 30 năm, nhưng có loại cây chỉ mất 7 năm là
hút hết. Các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng Cúc vạn thọ (Marigold) có khả năng chịu được
ô nhiễm Cd, Pb.
Gần đây người ta thấy có thể lợi dụng vi sinh vật để chống ô nhiễm. Ví dụ, các nhà khoa
học đã phát hiện được một loài vi khuẩn chuyên ăn dầu mỏ, hễ gặp dầu là ăn ngay và phát triển
nhanh chóng. Sau lúc ăn, chúng phân giải dầu mỏ thành CO
2


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status