Tổng quan về một giải pháp điều khiển cho hệ thống chuyển động tàu điện cao tốc Hà Nội - Pdf 12

Tổng quan về một giải pháp điều
khiển cho hệ thống chuyển động tàu
điện cao tốc Hà Nội
Tóm tắt:
Bài báo trình bày tổng quát về quy hoạch mạng lưới đường sắt đô thị Hà Nội (MetroHN)
và đặc trưng của nó. Mạng lưới đường sắt đô thị Hà Nội có 5 tuyến. Giai đoạn đầu tiên
xây dựng 77,05km tuyến đường sắt đôi, khổ 1,435m đi trên cao, mặt đất và dưới ngầm.
Mạng lưới đường sắt đô thị Hà Nội là hệ thống vận tải hiện đại có mức độ tự động hoá
cao. Đoàn tàu có 4-6 toa, buồng lái hai đầu. Toa kéo được trang bị động cơ điện dị bộ,
điều khiển theo nguyên lý VVVF, vận hành dưới lưới điện 750V DC.

Hình 1: Sơ đồ mạng lưới đường sắt đô thị của thành phố Hà Nội
Phát triển loại hình vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) một cách tiện lợi, an toàn
và chạy theo đúng lịch trình là hướng đi đúng đắn ở các thành phố lớn. Song song với
việc này, chúng ta cần có các biện pháp để hình thành thói quen cho người dân sử dụng
phương tiện VTHKCC. Khi thị phần sử dụng phương tiện VTHKCC của người dân tăng
cao, tức khắc sẽ kéo theo giảm ùn tắc và tai nạn giao thông, giảm ô nhiễm môi trường,
nhất là tại các nút giao thông “trung tâm” hay vào giờ cao điểm. Và một trong những loại
hình VTHKCC có hiệu quả cao, tiện lợi nhất đó là hệ thống chuyên chở METRO [1].
Ở Việt Nam, Chính phủ rất chú trọng đến việc xây dựng và phát triển loại hình VTHKCC
bằng đường sắt. Nhiều dự án đường sắt đô thị đã được nghiên cứu ở các thành phố lớn
như Đà Nẵng, Tp.Hồ Chí Minh và Hà Nội. Ngày 01/8/2008, Thủ đô Hà Nội chính thức
được mở rộng địa giới hành chính lên gần 3345 km2. Việc mở rộng lần thứ ba này đã
khẳng định sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đến sự phát triển của Thủ đô.
Cùng với sự kiện này, một đề án quy hoạch mạng lưới đường sắt đô thị của Thủ đô đã
được lập nên. Bản quy hoạch này đảm bảo tính kế thừa, hiện đại và khả năng mở rộng
trong tương lai.
MetroHN sẽ đóng vai trò chính trong VTHKCC với tốc độ cao và năng lực vận chuyển
lớn. MetroHN bao gồm các trục chính và trục nhánh. Đối với các trục chính, sử dụng loại
hình vận chuyển đường sắt nhẹ LRT (Light Rail Transit), tàu điện ngầm (Metro). Tại các
trục nhánh, tùy theo đặc điểm của khu vực sẽ áp dụng phương thức vận chuyển khác

Tuyến số 4 có dạng vòng tròn, kết nối với các tuyến còn lại và gắn kết với các dự án phát
triển đô thị. Trước mắt xây dựng tuyến số 4 là tuyến xe buýt nhanh, trong tương lai sẽ
phát triển thành tuyến đường sắt đô thị hoàn chỉnh;
Tuyến số 5 có chức năng kết nối trung tâm thành phố Hà Nội với các khu đô thị dọc theo
hành lang Láng - Hòa Lạc. Tuyến này trong tương lai sẽ kết nối với Trung tâm công nghệ
cao Hoà Lạc và các khu đô thị phía Tây thành phố.
Trước tiên, xây dựng ba tuyến metro có mật độ lưu thông lớn, đó là tuyến số 1, tuyến số 2
và tuyến số 3. Các tuyến này được xây dựng cùng nhau theo từng phân đoạn. Mỗi tuyến
có depot và trung tâm điều hành riêng. Sau khi hoàn thành, các tuyến sẽ liên kết với nhau
tạo thành một mạng lưới hoàn chỉnh. Các tuyến vận hành dưới sự điều phối của trung tâm
quản lý và điều hành đường sắt đô thị Thủ đô. Các tuyến metro được xây dựng dựa trên
công nghệ tiên tiến, hiện đại và có mức độ tự động hoá cao. Chính vì vậy, việc chọn lựa
và đưa ra giải pháp cho hệ thống điều khiển chuyển động tàu điện cao tốc tại Thủ đô Hà
Nội là công việc rất quan trọng. Kinh nghiệm ở các nước phát triển cho thấy, hệ thống
điều khiển tàu điện cao tốc sẽ phải cập nhật mới sau 3-5năm, do sự gia tăng của mật độ
hành khách, sự phát triển của công nghệ mới, … để mang lại sự chuyển động êm ái, an
toàn, nhanh chóng và tiện lợi nhất cho hành khách.

Hình 2: Cấu trúc hệ thống điều khiển chuyển động tàu điện cao tốc
Qua nghiên cứu các hệ thống metro trên thế giới [3-6], tác giả đưa ra cấu trúc của hệ
thống điều khiển chuyển động tàu điện cao tốc Hà Nội (HĐCT) như trình bày trong hình
2
HĐCT đảm bảo quá trình tự động vận chuyển hành khách một cách an toàn tuyệt đối và
“êm ái” nhất. Một quá trình tự động vận chuyển bao gồm các giai đoạn: khởi động, chạy
đà, chọn lựa chế độ lái tàu trên khu gian - là khoảng cách giữa hai nhà ga, hãm khi có
giới hạn tốc độ, hãm dừng tại sân ga, đóng - mở cửa tàu, thu thập và xử lý thông tin về
quá trình chạy tàu. Nhiệm vụ cơ bản của HĐCT là điều khiển các đoàn tàu chạy đúng
theo bảng thời gian đã quy định với độ chính xác cho trước khi được bù nhiễu. Trong
trường hợp không được bù nhiễu, HĐCT sẽ thực hiện điều chỉnh lại bảng thời gian, sau
đó thực hiện điều khiển chuyển động các đoàn tàu chạy theo bảng thời gian đã hiệu

(TĐT). Để đảm bảo hoàn tất khối lượng công việc trên, người ta sử dụng các thiết bị kỹ
thuật tiên tiến nhất - nòng cốt là các vi xử lý có tốc độ cao - cho HĐCT. Sự sắp đặt các
thiết bị trong HĐCT có thể khái quát như hình 4

Hình 4: Bố trí các thiết bị trong HĐCT
Việc chọn lựa và bố trí các thành phần trong hệ thống điều khiển chuyển động tàu điện
cao tốc Hà Nội dựa trên kinh nghiệm xây dựng hệ thống metro ở các nước phát triển như
Nga, Đức, Nhật, … Nó phải đảm bảo các điều kiện cần thiết sau:
n Phân vùng hệ thống thành các module chức năng, cho phép phát triển song song và dần
dần giới thiệu các cấp độ khác nhau của hệ thống tự động hóa;
n Thực hiện thiết kế kiểu module của hệ thống con [5];
n Sử dụng các module điều khiển trên tàu thông dụng nhưng vẫn đảm bảo an toàn chạy
tàu, ví dụ, những cốt mốc tín hiệu đo đường và ngắm hãm trước ga, … [5];
n Loại bỏ một số điểm khiển trong chương trình tăng tốc và hãm dừng sẽ giảm bớt đáng
kể khi vận hành chạy tàu;
n Sử dụng điểm/cột mốc đánh dấu trên đường ray để phát hiện tàu đi qua trên cơ sở phản
xạ góc và thu phát hồng ngoại lắp trên tàu [4];
n Chọn phương thức điều khiển tàu theo thời gian thực dựa trên thiết bị lắp đặt trên tàu để
thực hiện thời gian chạy theo lịch trình và đảm bảo năng lượng tiêu thụ tối thiểu ở chế độ
lực kéo;
n Sử dụng thuật toán điều khiển thích nghi khác nhau với các điều kiện thực tế của
MetroHN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status