ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG - Pdf 12



ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG

ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG
Gastropoda

Động vật thân mềm chân bụng là một nhóm loài nhuyễn thể có vỏ. Nhóm loài này chủ
yếu là các loài ốc biển và bào ngư. Một số loài ốc nhỏ như ốc mút (Cerithidium), ốc đĩa
(Nerita),… thường sống trong đáy bùn cát hoặc cát sỏi, vùng hạ triều, độ sâu 1 – 2m nước.
Những loài khác có kích thước lớn hơn như bào ngư (Haliotis), ốc xà cừ (Turbo), ốc hương
(Babylonia areolata),… thường sống ở vùng biển tương đối sâu, từ 8m đến 50m. Đa số các loài
ốc biển có giá trị kinh tế cao, vỏ của chúng được sử dụng làm đồ mỹ nghệ rất đắt giá. Một số loài
có giá trị thực phẩm được khai thác và sử dụng thường này và là những đối tượng xuất khẩu có
giá trị cao.


hương sinh sản, nhằm tái tạo nguồn lợi, gia tăng sản lượng khai thác, đảm bảo nguồn cung cấp
bền vững cho xuất khẩu.
Để nâng cao sản lượng ốc hương cho mục tiêu xuất khẩu, nhóm nghiên cứu Tiến sĩ
Nguyễn Thị Xuân Thu thuộc Trung tâm nghiên cứu Thủy sản III Nha Trang đã áp dụng thành
công quy trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi ốc hương thương phẩm. Quy trình đã đoạt giải
thưởng Sáng tạo Khoa học công nghệ Việt Nam (VIFOTEX).
Hình thức khai thác : Theo truyền thống, ngư dân ở Bình Thuận khai thác ốc hương
bằng cách làm rập 1 tầng hoặc 3 tầng, đường kính rộng 25 cm, với lưới có mắt 25mm cố định
trên khung sắt để trống phía trên. Một giàn rập liên kết với nhau trên một dây dài, mỗi rập cách
nhau 1m. Buộc mồi vào giữa rập, thả chìm xuống đáy ở các bãi có ốc phân bố. Dùng mồi cá chai
muối để nhử, sau 12 – 24 giờ tạo mùi hấp dẫn cho ốc vào rập ăn. ở Thanh Hoá hay Nghệ An,
ngư dân thường dùng mồi bằng rắn biển, năng suất đánh bắt cao. Mắt lưới hiện nay được mở
rộng 30 - 35mm để hạn chế việc khai thác ốc nhỏ, nhằm bảo vệ nguồn lợi tự nhiên.

Nuôi
Công trình nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương
phẩm ốc hương là công trình nghiên cứu đầu tiên và hoàn chỉnh về một đối tượng xuất khẩu có
giá trị của Việt Nam.
Công trình nghiên cứu và ứng dụng sản xuất đưa ốc hương từ đối tượng hoang dã tự
nhiên trở thành đối tượng nuôi thuỷ sản xuất khẩu đang mở ra triển vọng phát triển một nghề
nuôi mới cho nhân dân các tỉnh ven biển miền Trung. Công trình đã được giải thưởng sáng tạo
Khoa học - Công nghệ Việt Nam 2001 và bước đầu đã được áp dụng ở nhiều nơi trong cả nước,
mang lại hiệu quả kinh tế. Hiện nay, ốc hương đang được nuôi ở các tỉnh miền Trung như Khánh
Hoà, Phú Yên, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Bình Thuận và Thừa Thiên Huế.
Hình thức nuôi : Có 4 loại hình nuôi ốc hương thương phẩm, đó là nuôi trong bể xi măng,
ao đất, lồng hoặc đăng, tuỳ theo điều kiện tự nhiên.
Thời gian nuôi : Tuỳ theo điều kiện môi trường nuôi và quá trình quản lý chăm sóc, 5 - 6
tháng (nuôi trong ao đất, đăng hoặc lồng), 5 - 7 tháng (nuôi trong bể xi măng)
Kích cỡ thu hoạch ốc hương thương phẩm là 90 – 150 con/kg.
Hình thức thu hoạch : đặt bẫy, lặn bắt đối với nuôi đăng, lồng, hoặc bắt bằng tay đối với

Hải Dương học Nha Trang và Trung tâm Nghiên cứu Thuỷ sản III (nay là Viện Nghiên cứu nuôi
trồng thuỷ sản III) do Tiến Sỹ Lê Đức Minh chủ trì.
Hình nuôi bào ngư : Có 3 hình thức nuôi bào ngư thương phẩm gồm nuôi lồng trong bể
xi măng, nuôi lồng treo bè ngoài biển, nuôi thả đáy trên bãi đá, rạn san hô dọc bờ biển.
Thời gian nuôi 9 - 10 tháng, bào ngư đạt kích thước thương phẩm 5 – 6 cm
Cỡ thu hoạch : 30-35 con/kg.
Giá trị kinh tế :
Bào ngư vành tai có vỏ nhỏ, khối thịt rất lớn, khối thịt có thể nặng 150g. Thịt và vỏ bào
ngư vành tai có giá trị xuất khẩu cao. Vỏ bào ngư là một vị thuốc làm sáng mắt.
Nhiều người còn gọi là thạch quyết minh, nghĩa là chất đá làm sáng mắt.
Dạng sản phẩm : Chế biến tươi, làm khô, đóng hộp 2. ii) Bào ngư chín lỗ
Tên tiếng Anh : Ear Abalon, Variously Colored
Abalone
Tên khoa học : Haliotis diversicolor Reeve, 1846
Tên tiếng Việt: Bào ngư chín lỗ, Cửu khổng

Bào ngư chín lỗ có ở vùng biển ấm Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Vì mỗi chiếc vỏ
của bào ngư có một hàng từ 7 đến 13 lỗ thông với khoang áo nhưng thường là 9 lỗ nên có tên
gọi là “Cửu Khổng”, 9 lỗ như chín ô cửa sổ, mở ra thông với môi trường nước bao quanh, đó là
chỗ để cho bào ngư thở. Bào ngư chín lỗ thường sống ở ven bờ biển độ sâu 5 - 20m nước, nơi
có sóng gió, đáy đá, độ mặn cao từ 30-32 ‰. Bào ngư sinh trưởng chậm. Thức ăn chủ yếu là
rong câu hoặc rong mơ. Gai đoạn ấu trùng thức ăn là các loại tảo đáy, khi cá thể kết giai đoạn
biến thái, chúng dùng chân bám chặt vào đá và bò chậm chạp đi kiếm mồi.
Ở Vịnh Bắc Bộ, thời gian sinh sản của bào ngư có 2 vụ : tháng 4 – 5 và tháng 10 – 11.
Tuổi thành thục 1 năm trở lên, cỡ thành thục 25 – 40 g/con. Lượng trứng mỗi lần đẻ 450.000
vạn/kg.
Đặc điểm hình dạng: Bào ngư có hình dạng vỏ hình vành tai, có 3 tầng xoắn ốc. Bắt đầu từ mép

Năn
g
lượn
g
Nướ
c
Prôtêi
n
Lipi
t
Gluci
d
Tr
o
Can
xi
Phosph
o
Sắ
t
A B1 B2 P
P

Kcal g mg mg

Bào
ngư
tươi
120 68,6 20,5 0,9 7,4 2,
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status