MỤC LỤC
2.1. Xây dựng móng nông trên cạn 2
2.2. Xây dựng móng nông ở nơi có nước mặt 9
2.3. Thi công dưới nước 14
Bài Giảng Thi Công Cầu Chương 2
ThS. Trần Nhật Lâm Trang 2
CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG MÓNG NÔNG MỐ TRỤ CẦU
2.1. Xây dựng móng nông trên cạn
2.1.1. Hố móng đào trần
Đào trần không chống vách- Đối với đất tương đối tốt, chiều sâu hố móng thấp thì có thể đào hố móng
mà không dùng các biện pháp chống đỡ. Vách hố được tính toán dựa trên
lí thuyết cân bằng tới hạn và tùy thuộc vào thiết bò thi công cũng như
kích thước hố móng.
- Đối với hố móng đào trần các công tác đào đất, xây dựng móng phải tiến
hành khẩn trương tránh thấm ẩm làm sụt lở vách hố móng, cần phải dự
kiến nước mưa chảy vào trong hố móng.
- Đối với đất sét pha cát và sét nếu có khả năng thấm ẩm sau mưa thì độ
dốc thành hố móng không được quá 1:1. Còn đối với đất cát pha sét và
đá hột đã quá ẩm thì nhất thiết không được đào trần không gia cố vách
chống. Khi thi công đào trần xong toàn bộ hoặc 1 phần hố móng, nếu
thấy mái dốc bò thấm ẩm có thể đề ra các biện pháp chống.
Hình 2.2
. Bố trí các thanh chống ngang
Dùng kết hợp thép hình và ván lát ngang để gia cố.
Bài Giảng Thi Công Cầu Chương 2
ThS. Trần Nhật Lâm Trang 4
Hình 2.3
. Phương án kết hợp thép hình và ván lát ngang
Dùng ván lát đứng để gia cố hố móng
Hình 2.4
. Vách chống thành hố móng bằng ván lát đứng
- Phương pháp tính toán ván lát gia cố hố móng
Bài Giảng Thi Công Cầu Chương 2
ThS. Trần Nhật Lâm Trang 5
Mục tiêu chủ yếu là xác đònh được kích thước tiết diện của ván lát
cũng như khoảng cách của các thanh chống trong hệ thống ván lát gia
cố hố móng.
Tải trọng cơ bản tác dụng lên vách chống là áp lực đẩy ngang của đất,
bao gồm áp lực chủ động và bò động. Ngoài áp lực do trọng lượng bản
thân của đất gây ra còn có áp lực ngang do tải trọng tạm thời bố trí
trên lăng thể phá hoại (vật tư, thiết bò, máy móc hoặc đất đá…).
b) Hố móng gia cố bằng vòng vây cọc ván
- Trường hợp mực nước ngầm cao hơn đáy hố móng, đất dễ bò sạt lỡ, thành
- Vòng vây cọc ván bê tông cốt thép:
Cọc ván BTCT thường chỉ dùng để thi công móng trong trường hợp
tường cọc ván được dùng kết hợp là một bộ phận của công trình hoặc
làm tường cừ cố đònh để bảo vệ móng. Vì thế ít dùng làm các vòng
vây cọc ván tạm thời.
Hình 2.7
. Các loại tiết diện ngang của cọc ván BTCT
Bài Giảng Thi Công Cầu Chương 2
ThS. Trần Nhật Lâm Trang 7
- Tính toán vòng vây cọc ván thép
Vòng vây cọc ván thường được tính toán cường độ và ổn đònh theo bài
toán phẳng với một mét dài.
Áp lực ngang của đất và nước tác dụng cả 2 bên tường cọc ván phải
được tính toán tương ứng với từng bước thi công.
Tương ứng với từng trường hợp: vòng vây cọc ván không có văng
chống, có một tầng thanh chống, nhiều tầng thanh chống
2.1.2. Hút nước trong hố móng
- Trong suốt quá trình xây dựng móng luôn luôn được làm khô, chỉ trong
trường hợp nước trong móng quá lớn mới thi công trong điều kiện có
nước. Tùy theo hệ số thấm của đất, độ sâu đào móng, cao độ mực nước
ngầm, điều kiện thi công ta có thể làm khô hố móng bằng phương pháp
hút nước trực tiếp, hoặc bằng phương pháp hạ mức nước ngầm trong cả
khu đất thuộc phạm vi hố móng.
a) Phương pháp hút nước trực tiếp
- Điều kiện áp dụng: nước trong hố móng chủ yếu là nước ngầm thấm qua
vách hoặc đáy hố móng, đất sét không nứt nẻ, trong đất rời nhưng có gia
cố bằng vòng vây cọc ván đóng sâu vào lớp đất không thấm nước.
- Lựa chọn hình thức hút nước: nếu Q<0.06m
- Đất đào được lấy lên phải được vận chuyển đi xa khỏi phạm vi hố móng,
không chất tải xung quanh hố móng gây nguy hiểm cho hố móng và cản
trở thi công.
- Hố móng có thể đào bằng thủ công hoặc bằng cơ giới hoặc kết hợp cả 2,
một số thiết bò sử dụng để đào hố móng:
Bài Giảng Thi Công Cầu Chương 2
ThS. Trần Nhật Lâm Trang 9
Hình 2.9
. Các sơ đồ, thiết bò đào hố móng
a) Băng chuyền b) Máy đào gầu thuận c) Máy đào gầu nghòch
d) Gầu quăng e) Gầu ngoạm
2.2. Xây dựng móng nông ở nơi có nước mặt
- Những chỗ có nước mặt như sông, suối, lòng hồ…, khi đó phải dùng vòng
vây tạm để ngăn nước mặt đảm bảo cho việc thi công, trong xây dựng
móng mố trụ cầu ở nơi có nước mặt người ta thường sử dụng các loại
vòng vây ngăn nước như sau:
Vòng vây đất
Vòng vây đá hộc
Vòng vây bao tải cát
Vòng vây cọc ván gỗ đơn
Vòng vây cọc ván gỗ kép
Vòng vây hỗn hợp
Vòng vây cọc ván thép
Vòng vây thùng chụp
Vòng vây bê tông
a) Vòng vây đất, đá
- Vòng vây đắp đất: dùng khi mức nước không sâu lắm (h<2-3m), đất được
Hình 2.13
. Vòng vây đá hộc
- Vòng vây bao tải đất: được dùng khi mực nước không sâu, đất rời được
đựng trong bao tải xếp thành vòng vây ngăn nước, vòng vây này tương tự
các loại vòng vây đất khác.
b) Vòng vây đất và cọc ván
- Kết hợp đất và cọc ván để giảm khối lượng đất đắp, có 2 loại: vòng vây
có 1 lớp cọc ván và loại có 2 lớp cọc ván.
c) Vòng vây cọc ván thép
- Là loại được dùng phổ biến trong thi công, có nhiều ưu điểm, tùy theo
điều kiện thi công, độ sâu đáy hố móng, điều kiện đòa chất thủy văn mà
ta chọn các loại vòng vây khác nhau.
- Vòng vây cọc ván đơn: chòu lực đơn độc như mọt dầm công xon, thường
chỉ sử dụng với cột nước thấp. Để cải thiện điều kiện làm việc cho cọc
ván thường dùng các tầng văng chống ngang
Bài Giảng Thi Công Cầu Chương 2
ThS. Trần Nhật Lâm Trang 12 Hình 2.14
. Vòng vây cọc ván đơn
- Vòng vây cọc ván kép: cũng giống như vòng vây hỗn hợp, thường dùng
khi hố móng quá rộng.
Bài Giảng Thi Công Cầu Chương 2
ThS. Trần Nhật Lâm Trang 14
2.3. Thi công dưới nước
a) Điều kiện thi công dưới nước
- Thi công dưới nước được chọn khi: khối lượng thi công không lớn, không
lặp lại nhiều lần, trong nước sâu, vòng vây rất tốn kém.
- Điều kiện đòa chất thủy ăn không thuận lợi, giải pháp để đảm bảo cho
công trình an toàn tốn kém và khó khăn.
b) Đào đất trong hố móng
- Thường dùng gầu ngoạm, thao tác bằng cần trục đứng trên dàn giáo,
phao nổi hoặc xà lan.
c) Đổ bê tông dưới nước
- Chất lượng khó đảm bảo, xi măng có xu hướng bò rửa trôi, các thành
phần hạt bò tách rời, thâm nhập nước từ bên ngoài không kiểm soát được.
Do đó lớp bê tông đổ dưới nước cũng chỉ dùng để bòt đáy hố móng trong
vòng vây. Có nhiều phương pháp khác nhau:
- Phương đổ thủ công: dùng các túi nhựa hoặc bao tải, đáy thắt dây thừng
dễ dàng tháo và đổ vào vò trí đã đònh trước. Nếu nước thấp có thể đổ bê
tông theo cách dồn nước.
- Phương pháp thùng mở đáy: thùng chứa đầy BT tươi, cẩu hạ xuống tới
đáy hố móng, mở đáy thùng đổ bê tông ra ngoài.
- Phương pháp rút ống thẳng đứng: là phương pháp cơ bản và thường dùng
nhất khi đổ bê tông trong nước, theo nguyên tắc: bê tông tươi trong phễu
và ống dẫn tụt xuống liên tục trong hố móng ngập nước dưới áp lực bản
thân của bê tông, ống chỉ được di chuyển thẳng đứng và miệng đáy ống
luôn ngập trong khối bê tông vừa đổ.
Nếu hố móng rộng phải bố trí nhiều ống cách nhau 2,5-5m, đó là cự ly
giới hạn “chảy” của bê tông theo hướng ngang để không sinh ra vữa xi