Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
1
Đề tài:
“Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người
dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhiên”
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
2 Lời Nói Đầu
Ngày nay những nghiên cứu về lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên nhằm tạo cho
máy tính khả năng hiểu giao tiếp được bằng ngôn ngữ tự nhiên với con người đã
không chỉ còn là lý thuyết nữa mà đã đi vào xây dựng rất nhiều ứng dụng có hiệu
quả.Hơn nữa quá trình ứng dụng này còn có sự kết hợp giao thao của các nghành
chuyên môn khác nhau trong lĩnh vực tin học,có các kỹ thuật ứng dụng lập trình
logic,giao diện người dùng vào lĩnh xử lý ngôn ngữ tự nhiên.Vì vậy em chọn đề
tài “Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
4
Mục lục
Lời nói đầu 1
Mục lục 2
Phụ lục 3
PHẦN 1:TỔNG QUAN VỀ VIỆC ỨNG DỤNG XỬ LÝ NGÔN TRONG
THỰC TIỄN 4
1.1.Giới thiệu 4
1.2. Đặt vấn đề 5
1.2.1.Mục đích của đề tài 5.
4.1.2.1.Quan hệ ngữ nghĩa giữa các anchor(liên kết) 40
4.1.2.2.Thiết kế logic 51
4.2.Cài đặt chương trình mô phỏng 65
4.2.1.Công cụ ngôn ngữ 65
4.2.2.Mã hoá chương trình 68
PHẦN 5: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 94
5.1. Đánh giá kết quả 94
5.2.Hướng phát triển 95
Các tài liệu tham khảo 96
Phụ Lục
Danh mục các hình vẽ 3
Hình 2.1: Mô hình trao đổi giữa CSDL và người dùng qua giao diện NNTN 7
Hình 2.2:Kiến trúc của một giao diện ngôn ngữ tự nhiên 9
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
6
Hình 2.3:Mô hình kiến trúc của WYSIWYM 16
Hình 2.4 : Mô hình hoạt động của một hệ thống WYSIWYM 17
Hình 3.1: Kiến trúc chung của một hệ QA 20
Hình 3.2:Tiến trình tương tác giữa người dùng và giao diện CLEF (trạng thái 1) 25
Hình 3.3:Tiến trình tương tác giữa người dùng và giao diện CLEF (trạng thái 2) 26
Hình 3.4:Tiến trình tương tác giữa người dùng và giao diện CLEF (trạng thái 3) 28
Hình 3.5:Tiến trình tương tác giữa người dùng và giao diện CLEF (trạng thái 4) 29
Hình 3.6:Tiến trình tương tác giữa người dùng và giao diện CLEF (trạng thái 5) 30
Hình 3.7:Tiến trình tương tác giữa người dùng và giao diện CLEF (trạng thái 6) 31
Hình 3.8: Minh hoạ quá trình mở rộng văn bản 32
Hình 3.9:Tiến trình tương tác giữa người dùng và giao diện CLEF (trạng thái 7) 34
PHẦN 1:TỔNG QUAN VỀ VIỆC ỨNG DỤNG XỬ LÝ
NGÔN NGỮ TỰ NHIÊN TRONG THỰC TIỄN
Dẫn nhập:phần này sẽ giới thiệu chung về chủ đề của đồ án,lý do xuất phát
từ nhu cầu của thực tiễn và hướng nghiên cứu khoa học liên quan đến đồ án.
1.1.Giới thiệu
Ngày nay việc sử dụng máy tính đã trở nên hết sức phổ biến.Công nghệ thông
tin đã đi vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.Máy tính trở thành công cụ
đắc lực của nhiều người hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau,nhất là trong việc
lưu trữ và xử lý một khối lượng dữ liệu chuyên ngành khổng lồ và không ngừng
tăng lên từng ngày.Máy tính giống như các công cụ khác là “cánh tay nối dài”, “tư
duy nối dài” của con người vì nó có thể đảm nhiệm những chức năng mà con
người tỏ ra khiếm khuyết,những năng lực mà con người cảm thấy khó khăn thì
máy tính lại chiếm ưu thế chẳng hạn như khả năng tính toán của con người dựa
trên hệ nhị phân là rất chậm so với khả năng tính toán của computer dựa trên hệ
nhị phân hay là bộ nhớ của con người không thể nào so sánh được với dung lượng
khổng lồ của các bộ nhớ máy tính.Song không phải vì vậy mà máy tính không có
sự hạn chế.Việc máy tính tỏ ra có nhiều ưu thế hơn con người ở một số lĩnh vực là
do nguyên lý hoạt động của máy tính khác với nguyên lý hoạt động của con
người.Chính điều này cũng là nguyên nhân của những hạn chế của máy tính,rõ
ràng là máy tính cũng thua con người trong nhiều lĩnh vực.Do đó để có thể phát
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
9
huy hiệu quả được các khả năng của con người và tận dụng hết khả năng của máy
tính đòi hỏi phải có sự “phối hợp” người và máy.Thực chất của quá trình phối hợp
này là con người sẽ chuyển giao những chắc năng mà con người còn “yếu” sang
phân của ngôn ngữ máy và máy có thể “hiểu” được.Nói chính xác là máy tính có
thể xử lý được đầu vào dạng ngôn ngữ tự nhiên và trả lại đầu ra cũng ở dạng ngôn
ngữ tự nhiên.Các bước trung gian này được đảm nhiệm bởi các chương trình ứng
dụng xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Hiện nay các ứng dụng này đang rất phát triển theo
nhiều nhánh khác nhau.Một trong các nhánh đó là các ứng dụng giao diện ngôn
ngữ tự nhiên.Công việc xây dựng các ứng dụng này thuộc về đội ngũ những người
lập trình,các kỹ sư tri thức.Vì những lý do đó, là một sinh viên ngày tin học nên
người nghiên cứu chọn đề tài tập trung vào một hướng nghiên cứu về lĩnh vực xây
dựng giao diện ngôn ngữ tự nhiên như một bước đi để tiếp cận với ngành khoa học
nhiều triển vọng này.
1.2. Đặt vấn đề
1.2.1.Mục đích của đề tài :
Đề tài này nhằm nghiên cứu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng dựa trên cơ
chế phản hồi ngôn ngữ tự nhiên.
Nói đến giao diện người dùng tức là nói đến phần chương trình của ứng dụng sẽ
trao đổi tương tác trực tiếp với người dùng,nó là cơ chế trung gian trong quan hệ
giữa người dùng với ứng dụng và xa hơn nữa là máy tính.Thông thường hiện nay
phổ biến các loại giao diện người dùng đồ hoạ mang tính trực quan cao thuận tiện
cho việc sử dụng của người dùng tuy niên nó vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đặt
ra cho con người khi phải tiếp cận và xử lý những loại dữ liệu phức tạp có nội
dung tri tức chuyên sâu,những ưu điểm của các đặc trưng đồ hoạ không thể nào
giải quyết được vấn đề này vì với loại giao diện đồ hoạ thông thường con người
vẫn phải giao tiếp với máy tính theo những cách có vẻ hơi “cứng nhắc” do phải
khuôn mẫu theo những định dạng sẵn có, đó là những “chuẩn của máy” chứ không
phải là “chuẩn của con người” vì cái gần gũi và thông dụng nhất của con người
trong mọi quá trình giao tiếp vẫn là ngôn ngữ tự nhiên,một thứ công cụ bẩm sinh
của con người.Chính vì vậy hướng nghiên cứu của đề tài này là đi xa hơn một
bước trong việc xây dựng giao diện người dùng đồ họa bằng cách đưa ngôn ngữ tự
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
phản hồi ngôn ngữ tự nhiên,nội dung của giao diện này được hiểu là giao diện xây
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
12
dựng có dạng frame giống như các giao diện đồ hoạ thông thường tuy nhiên trên
giao diện có các câu ngôn ngữ tự nhiên gọi là các feedback text người dùng có thể
tương tác với giao diện dựa vào các feedback text này,sau mỗi lần người dùng
thao tác trên feedback text thì giao diện sẽ phản hồi lại người dùng một feedback
text mới có nội dung cụ thể và chi tiết hơn nội dung feedback text mà người dùng
vừa tác động vào.
b)Tiến hành cài đặt một chương trình mô phỏng có tính chất thử nghiệm để minh
hoạ một mô hình giao diện có dạng đã đề cập.Các yếu tố người dùng tức là những
thông tin,dữ liệu mà người dùng thực hiện trao đổi với giao diện này là về lĩnh vực
chẩn đoán chăm sóc và điều trị bệnh ung thư.
Những nội dung cụ thể về cách tiến hành cũng như kỹ thuật xây dựng sẽ được
đề cập cụ thể hơn ở những phần sau theo hướng đi từ khái quát đến chi tiết . PHẦN 2:CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Dẫn nhập:phần này sẽ trình bày tổng hợp các kiến thức mang tính lý thuyết
có liên quan đến đồ án đặt cơ sở cho việc tìm hiểu kỹ thuật và cài đặt chương
trình mô phỏng ở các phần sau.
2.1.Giao diện ngôn ngữ tự nhiên(Natural language interface)
14
Các ý tưởng sơ khai về xử lý ngôn ngữ tự nhiên được hình thành từ rất sớm
vào khoảng những năm 1900 và được đề xuất biểu diễn ngôn ngữ tự nhiên bằng
suy diễn toán học sử dụng logic.Những nghiên cứu này được công bố bởi Frege và
Russell, Wittgenstein .Họ đề xuất rằng ngôn ngữ tự nhiên là một hệ thống hình
thức có thể xử lý tự động. Các ứng dụng xử lý ngôn ngữ tự nhiên được ra đời từ
vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ 20,hầu hết chúng đều bị giới hạn bởi các cơ sở
dữ liệu và các ứng dụng hết sức đặc thù, đáng kể nhất là hệ thống LUNAR, đó là
một giao diện ngôn ngữ tự nhiên cho cơ sở dữ liệu về những phân tích hoá học từ
những mẫu đá trên mặt trăng.LUNAR là một máy hữu hạn trạng thái đầu trong đó
dữ liệu đầu vào có thể phân tích được.Nó làm việc khá hiệu quả và tạo ra được sự
quan tâm đối với lĩnh vực sử lý ngôn ngữ tự nhiên.Nó làm cho các nhà nghiên cứu
có chung một niềm tin rằng những nghiên cứu về xử lý ngôn ngữ tự nhiên mới
những mức hạn chế vừa đủ là khả thi và sớm trở thành giao diện chuẩn đối với các
máy tính.Một nhà nghiên cứu tại IBM năm 1978 đã nói rằng “ máy tính có thể
hiểu được ngôn ngữ tự nhiên trong một tương lai không xa”.Tuy nhiên thời gian
đã chứng minh kết luận của ông ta không đúng.
Mặc dù các nhà khoa học đã dành rất nhiều thời gian cho những nghiên cứu
trong các thập kỷ vừa qua đặc biệt là các ứng dụng trong những hệ thống thương
mại tuy nhiên những giao diện ngôn ngữ tự nhiên (NLI)thực sự có tính ứng dụng
cao trong thực tế lại không phải là nhiều.Có vẻ như các công ty không tin tưởng
lắm vào giao diện ngôn ngữ tự nhiên và họ không đủ thông tin và sự đảm bảo về
lợi ích khi đầu tư cho những ứng dụng giao diện kiểu này.Một trong những lý do
để họ không tin cậy vào giao diện ngôn ngữ tự nhiên-NLI là hiện đang phổ biến
một loại giao diện thể hiện ưu thế vượt trội của mình là giao diện dựa trên
form.Tuy nhiên liệu đó có phải là lý do chính đáng hay không ,hay chẳng lẽ giao
diện ngôn ngữ tự nhiên-NLI lại không có lợi ích gì.
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
sang dạng SQL và trả lại kết quả từ CSDL
Nếu nhìn từ góc độ chức năng xử lý công việc thì hệ thống xây dựng dựa trên hai
công việc (mode)
Xây dựng giao diện ngôn ngữ tự nhiên (constructing NLF) cho một CSDL
về lĩnh vực cụ thể (công việc của người thiết kế-the designer ’s mode)
Đặt câu truy vấn (query processing) đây là công việc của người dùng cuối
(end-user ’ s mode)
Với khả năng kinh nghiệm của mình các chuyên gia thiết kế có thể tạo ra được
một NLF trong vòng vài giờ làm việc tập trung và dựa trên đó xây dựng những hệ
NLF tin cậy với đầy đủ tính năng trong vòng vài ngày
Trường hợp thứ hai (second mode) quan tâm tới đa số người dùng đại chúng (mass
user) và được dựa trên NLF đã được thiết kế từ trường hợp đầu (first mode) cần
thực hiện truy vấn những thông tin cần thiết từ CSDL và biểu diễn các kết quả trả
về từ CSDL
Rất nhiều các loại giao diện ngôn ngữ tự nhiên cho CSDL đã được phát triển
trong suốt 30 năm qua. Đặc điểm chung của các hệ thống này là phạm vi áp dụng
của các phương pháp kỹ thuật là rất lớn.Trở ngại chung của các hệ thống này
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
17
thông thường các hệ thống chỉ có thể hiểu được một tập rất nhỏ các ngôn ngữ tự
nhiên.Chúng thường không rõ ràng đối với những đối tượng người dùng bình
thường,do các cấu trúc câu thiếu sự hợp lý và tính trong sáng về ngữ nghĩa ,và đôi
khi hệ thống đưa ra những câu trả lời không có mấy giá trị hay muốn nói là không
thể chấp nhận được.Ở khía cạnh tích cực thì ngôn ngữ tự nhiên vượt trội hơn nhiều
so với SQL về tính diễn cảm(expressive) do đó nó trở nên dễ dàng hơn trong việc
hỏi những câu phức tạp sử dụng ngôn ngữ tự nhiên hơn là cũng hỏi với nội dung
đó nhưng sử dụng ngôn ngữ CSDL.Các truy vấn đơn bằng ngôn ngữ tự
Chẳng hạn câu “phòng nào không có một lập trình viên nào”.Rất may mắn là độ
dài các câu trong ngôn ngữ tự nhiên không quá dài và chúng ta có thể diễn đạt
những câu hỏi một cách ngắn gọn.Dĩ nhiên là các câu hỏi như vậy phải có khả
năng diễn đạt sang dạng ngôn ngữ truy vấn hình thức(formal query language) như
SQL ,chúng sẽ phức tạp hơn và rất buồn tẻ nếu người dùng phải tự viết các câu
SQL
Một ưu điểm khác của giao diện ngôn ngữ tự nhiên-NLI là khả năng hỗ trợ diễn
đạt các câu tĩnh lược hay các câu có chứa những nội dung lặp lại.
Tuy nhiên với tất cả những ưu điểm như trên nhưng chúng vẫn không thực sự tỏ
ra vượt trội trong các ứng dụng hiện thời là vì sao?Có một vài điều cần nghiên cứu
thêm, mặc dù vậy Walker và Whittaker đã kết luận rằng giao diện ngôn ngữ tự
nhiên sẽ trở nên hiệu quả hơn các hệ thống dựa trên menu.Các nhà nghiên cứu
giao diện ngôn ngữ tự nhiên muốn thu được thông tin từ nhiều mức khác nhau, đặc
biệt là khi các có sự kết hợp các biểu thức ngôn ngữ thành một tổ hợp.Chúng
thường được sử dụng để nối hai tập hợp với nhau để tạo ra một tập mới có khả
năng xử lý tốt hơn tương tự như trong SQL.Các nhà nghiên cứu muốn kết hợp
những ưu điểm sẵn có trong SQL với khả năng diễn đạt những câu truy vấn phức
tạp bằng những cách đơn giản của giao diện ngôn ngữ tự nhiên NLI do đó họ thích
sử dụng giao diện ngôn ngữ tự nhiên -NLI hơn là các giao diện dựa trên
menu.Mặc dù ngày nay có rất nhiều lỗi trong các hệ NLI nhưng những nhà nghiên
cứu đều cho rằng lợi ích của NLI đem lại chỉ là về mặt lý thuyết mà còn có ích
trong những ứng dụng hàng ngày
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
19
2.1.2.Nhược điểm (Disadvantage) của giao diện ngôn ngữ tự nhiên
Hiện nay các giao diện ngôn ngữ tự nhiên chỉ có thể mô tả một phần giới hạn,một
bộ phận nhỏ trong ngôn ngữ tự nhiên,trong khi đó thì ngôn ngữ tự nhiên lại quá
thống.Sự hạn chế ở đây không phải là sự hạn chế về tính năng của giao diện mà là
sự hạn chế về miền ngôn ngữ tự nhiên cần xử lý theo nguyên tắc “chia để trị” phân
định các lĩnh vực hẹp hơn để xây dựng loại giao diện này. Để xây dựng giao diện
bằng ngôn ngữ tự nhiên hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận .Có hai huớng tiếp cận
chính là dựa trên cú pháp và dựa trên ngữ nghĩa.
Cách tiếp cận dựa trên cú pháp (syntatic-based approach):Các câu truy
vấn sẽ được Parse(ngắt khúc và phân tích) để xây dựng các cấu trúc cú
pháp (syntactic structure) sau đó sẽ dịch sang ngôn ngữ truy vấn CSDL
(database query language)
Cách tiếp cận dựa trên ngữ nghĩa(semantic-oriented approach):theo
cách tiếp cận này thì các câu truy vấn sẽ được chuyển thành các vị từ
(predicates) của một ngôn ngữ truy vấn CSDL mà không cần dựa vào các
cấu trúc cú pháp (without building its syntactic structure).Bằng cách này
các thành phần ngữ nghĩa và ứng dụng của quá trình giao tiếp giữa người
và máy sẽ đơn giản hơn về mặt ngữ cảnh
Trong số các cách tiếp cận xây dựng giao diện ngôn ngữ tự nhiên hạn chế thì kỹ
thuật WYSIWYM được đánh giá là một kỹ thuật hết sức hiệu quả,kỹ thuật này
được biết đến như một phương pháp xây dựng giao diện người dùng với cơ chế
phản hồi ngôn ngữ tự nhiên.
2.3.Kỹ thuật WYSIWYM editing
Kỹ thuật WYSIWYM được Richard Power đề xuất lần đầu tiên vào năm 1998 là
một cách tiếp cận dựa trên ngữ nghĩa như vậy. Lý do chọn cách tiếp cận này là vì
đây là cách phát triển giao diện có hầu hết các ưu điểm của giao diện ngôn ngữ tự
nhiên mà lại có ít nhược điểm nhất,thay vì xây dựng một giao diện ngôn ngữ tự
nhiên theo hướng tiếp cận dựa trên cú pháp ta sẽ xây dựng một giao diện ngôn ngữ
tự nhiên hạn chế (quasi Nl interface) dựa trên ngữ nghĩa.
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
22
Các hiển thị trực quan trong một word processor thể hiện toàn bộ cả bốn mức
này.Sự khác biệt của các mức thông tin trên tương ứng với ba cách mà người dùng
user có thể tương tác với một hệ thống (authoring system) dựa trên ba loại đặc
điểm
Các đặc trưng có thể điều khiển trực tiếp (Directly controlled
features): Có những đặc trưng người dùng (user) có thể tác động trực tiếp
bằng các thao tác cơ bản (atomic actions).Ví dụ trong một word processor
các thao tác cơ bản mà người dùng có thể thực hiện được như chèn hoặc
xoá một ký tự,thao tác này được xếp ở mức vị tự (graphemic level)
Các đặc trưng thông dịch (Interpreted feature): Một đặc trưng thông
dịch có thể được biến đổi một cách không trực tiếp, Các tác động của người
dùng có thể được dịch (interpreting) sang các tác động ở mức thấp hơn.Ví
dụ với word processor thì các đặc trưng cú pháp và ngữ nghĩa có thể nhận
được từ việc dịch (interpreting) chuỗi ký tự .Không một chương trình nào
có thể sử dụng các đặc trưng cú pháp hoặc ngữ nghĩa được mã hoá bằng
các chuỗi ký tự trừ phi nó có khả năng parse (ngắt khúc và phân tích) để
hiểu được ngôn ngữ.Như thế các đặc trưng ngữ nghĩa được mã hoá trong tài
liệu có thể chỉ có giá trị đối với con người.
Các đặc trưng thể hiện (Presentational features): Các đặc trưng này
được đưa ra bởi chương trình nhằm hiển thị các đặc trưng khác cho người
dùng.Ví dụ các đặc trưng đồ hoạ trong một word processor,các đặc trưng
này sẽ không thể được dịch(interprete) từ mức điều khiển (controlled level)
nhưng có thể nhận được từ mức này (controlled level) .Chẳng hạn một bộ
công cụ soạn thảo text editor chỉ có thể ghi các chuỗi ký tự thì phải đưa
thêm vào các đặc trưng đồ hoạ (kích thước,font chữ) để có thể in ra và hiển
thị trên màn hình
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
từ một danh sách những từ (words) hoặc cụm từ (phrase) cho phép mở rộng câu
Tìm hiểu kỹ thuật xây dựng giao diện người dùng với cơ chế phản hồi ngôn ngữ tự nhi
ên
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn Trung Thành-HTTT-K46
24
hiện tại (current sentence).Bằng cách này người dùng có thể không được phép
thao tác trực tiếp trên những chuỗi ký tự nhưng các cấu trúc ngôn ngữ (linguistic
structure) được mã hoá theo những cách tin cậy từ một miền nhỏ của ngôn ngữ
(sub-language) mà editor có thể parse (ngắt khúc và phân tích ) các chương chình
có thể đưa ra được những thông tin đáng tin cậy về mặt ý nghĩa (meaning)
4. WYSIWYM Editing .Người dùng có thể thao tác ở mức ngữ nghĩa hay tri thức -
controls the semantic(or knowledge) level bằng việc chọn ra các khái niệm mở
rộng (conceptual exetensions) của nghĩa hiện tại (current meaning) từ một pop-up
menu.Toàn bộ các đặc trưng khác đều được trình bày sẵn do đó người dùng
không thể thao tác trực tiếp trên các từ vựng (wording).Chương trình sẽ không làm
nhiệm vụ phân tích (parsing) hoặc dịch các đặc trưng nào vì đây là mức cao nhất
(higest level-knowledge) nên người dùng có thể điều khiển trực tiếp mà không
cần các đặc trưng phải được thông dịch (interpreted features). 2.3.2. Kiến trúc WYSIWYM
Thông thường có hai cách để xây dựng một cơ sở tri thức (KB) bằng các ngôn
ngữ lệnh hoặc bằng việc thao tác trực tiếp .WYSIWYM (What You See Is What
You Meant) là một kỹ thuật mới trong việc tạo ra và biểu diễn tri thức bằng cách
tương tác với một văn bản hồi đáp dạng ngôn ngữ tự nhiên(NL feedback
text),trong mỗi đoạn feedback text có chứa hai loại tri thức,một loại được cố định
sẵn và một loại có thể có nhiều lựa chọn cho quá trình mở rộng văn bản .
Nhiều ứng dụng trí tuệ nhân tạo yêu cầu các thông tin phải được diễn đạt dưới
dạng những biểu diễn tri thức đã được hình thức hoá.Hệ chuyên gia là một ví dụ