ĐỀ TÀI
Tìm hiểu kỹ thuật ương nuôi ấu trùng Cá
Chim Vây Vàng (Ttrachinotus blochii
Lacepède, 1801) trong bể xi măng
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Địch Thanh
Sinh viên thực hành : Nguyễn Công Thạch
i
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám Hiệu Trường Đại học
Nha Trang, quí thầy cô, cán bộ giảng dạy Khoa Nuôi trồng Thủy sản đã giảng dạy
truyền đạt kiến thức trong suốt 4 năm qua giúp tôi hoàn thành chương trình học và
hiểu biết về nghề nghiệp của mình. Đã cho phép tôi được ngiên cứu về đề tài để làm
luận án tột nghiệp.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Địch Thanh, người đã trực
tiếp hướng dẫn tôi ngiên cứu cũng như trong quá trình thực hiện công việc. Vì lần
đầu tiên nghiên cứu đề tài khoa học làm luận án tôt nghiệp nên gặp nhiều khó khăn
cũng như thắc mắc, thầy là người tháo gỡ, giải quyết, giải đáp ở nhiều vấn đề để tôi
hoàn thành đề tài.
Xin cảm ơn kỹ sư Phạm Xuân Nam, người phụ trách kỹ thuật chính ở trại thực
nghiệm của trường, người đã chỉ dạy những kinh ngiệm vô cùng quí báu cũng như sự
giúp đỡ tận tình cho tôi bên cạnh thầy hướng dẫn chính. Tôi đã học được nhiều kinh
nghiệm từ anh và rút ra những vấn đề cần hoàn thiện mình.
Tôi cũng muốn gởi lời cảm ơn đến đến tất cả bạn bè, gia đình, những người
đã giúp đỡ ủng hộ tôi để đợt thực tập đạt kết quả.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn, chúc quí thầy cô, bạn bè và gia đình, chúc cho
mọi sự tốt đẹp sẽ đến, sự thành công trong công việc, chúc thầy cô gặt hái được nhiều
thành công trong công tác giảng dạy.
Sinh Viên
iii
1. Tổng quan về trại………………………………………….….……………17
1.1.Nguồn nước cấp và quá trình xử lý…………………...………………17
1.2 Quá trình xử lý nước thải……………………………………………..17
1.3 Thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất…………………………..18
2. Chuẩn bị gây nuôi các nguồn thức ăn tươi sống…………………………….18
2.1Qui trình nuôi tảo ( Chloropsis occulata)…………….…………..………..19
2.2 Qui trình ương nuôi luân trùng……………………………………………22
3. Chuẩn bị bể ương đem trứng về ấp…………………………………….……...23
3.1 Chuẩn bị bể ương……………………………………………………….…23
3.2 Đóng bọc, vận chuyển trứng……………………………………….….…..24
3.3 Ấp trứng……………………………………………………………..…….24
4. Chăm sóc quản lý bể ương………… …………………………………………25
4.1 Mật độ ấu trùng ương…………………………...………………………….25
4.2 Thức ăn, chế độ và cách cho ăn………………………………...…………..25
4.2.1 Thức ăn………………………...………...…………………………….25
4.2.2 Cấp tảo……………………..…………………………………………..26
4.2.3 làm giàu luân trùng và cho ăn……………….……….… …………….27
4.2.4 Phương pháp ấp làm giàu và cho ăn Artermia …….……………...……27
4.3 Thức ăn tổng hợp và cách cho ăn……………………….…………….……30
4.4 Si phông thay nước, xỷ lý hóa chất……………………………...………….31
4.5 Chế phẩm mazal ……………………..…………………………………… 32
4.6 Vệ sinh bể ương……………………………………………………………33
4.7 Theo dõi cá yếu tố môi trường……………………………………………..33
4.7.1 Độ mặn…………………………………...…………………………….33
4.7.2 Ảnh hưởng cửa nhiệt độ ……………………………………………….34
4.7.3 Ảnh hưởng của pH……………………………………….…………….34 5
Phân cỡ, sang thưa…………………………..………………………………….34
6 Phòng trị bệnh……………………….………………………………………….35
7 theo dõi tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống……………………..…..…………….35
Hình 3.10 Si phông, thay nước cho bể ương……………………….…….………32
Hình 3.11 Hình ảnh cá chim Vây Vàng qua các ngày tuổi……………………….36
Hình 3.12 Tốc độ tăng trưởng của cá qua các giai đoạn ương nuôi……..……….38
vii
CÁC KÍ HIỆU THUẬT NGỮ DÙNG TRONG BÁO CÁO
NTTS: Nuôi trồng thủy sản.
L: chiều dài toàn thân.
ppt: Part Per Thousand ( phần ngàn ).
ppm: Part Per Million (phần triệu hay mg/l).
HUFA: Acid béo có 4-6 nối đôi và ít nhất mạch C lớn hơn 20.
Khối lượng tăng tuyệt đối: Là khối lượng đạt tối đa trong 1 khoảng thời đơn vị gian
(ngày, tháng, năm).
Cá phân đàn: Trong đàn cá giữa những con có sự chênh lệch nhau về kích thước
(gấp 2 - 3 lần).
% : Phần trăm..
µm : Micromet.
0
C : Độ C.
LUX : Đơn vị đo cường độ ánh sang.
mm : Milimet.
L : lít.
h: giờ.
viii
MỞ ĐẦU
Với diện tích lãnh thổ trải dài theo vĩ tuyến bắc nam, phía tây tiếp giáp hoàn
toàn với biển hình thành nên bờ biển dài 3260km. Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt
đới gió mùa, có nhiều vũng vịnh kín gió, đầm phá rộng lớn. Đây là đặc điểm thuận
lợi để ngành NTTS phát triển. Song song với việc khai thác đánh bắt nguồn lợi là
nuôi trồng và bảo vệ. Khi khai thác đánh bắt giảm xuống thì nuôi trồng yêu cầu phải
(Ttrachinotus blochii Lacepède, 1801) trong bể xi măng.
Mục tiêu đề tài : Tìm hiểu qui trình ương nuôi ấu trùng, làm hoàn thiện kỹ thuật
trong sản xuất giống nhân tạo.
Để thực hiện mục tiêu trên đề tài triển khai các nội dung sau.
i) Hệ thống bể ương, mật độ ương.
ii) Các loại thức ăn và cách cho ăn.
iii) Quản lý môi trường bể ương.
-Thay nước.
- Si phông.
- Theo dõi môi trường.
iv) Theo dõi tốc độ sinh trưởng.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nhưng do Cá Chim Vây Vàng là một đối tượng
mới được đưa vào ngiên cứu, thời gian thực tập hạn chế nên đề tài không tránh khỏi
thiếu sót. Rất mong được đóng góp của thầy cô cùng các bạn để đề tài được hoàn
chỉnh hơn.
Nha Trang tháng 09 năm 2009.
SV thực tập
Nguyễn Công Thạch.
Chương I : TỔNG QUAN
1.Tình hình nuôi cá biển trên thế giới.
2
Từ những năm 70 của thế kỹ XX. Nghề nuôi cá biển đã bắt đầu phát triển với
những đối tượng tiên phong và vẫn tiếp tục phát triển cho đến nay như : Cá Mú, Cá
Giò , Cá Cam, cá Măng, Cá Tráp, Cá Đù Đỏ. Đạt giá trị sản lượng cao, từ những năm
80 đến 90 đã sinh sản thành công trên 40 loài, trong đó 20 loài đạt trình độ sản xuất
hàng loạt cung cấp giống cho nghề nuôi thương phẩm.
Theo thống kê của FAO giai đoạn từ năm 1988 - 1997 số lượng cá nước mặn và
cá nược lợ trên toàn thế giới hàng năm tăng lên 10%. Năm 1997 sản lượng đạt 2 triệu
tấn, trị giá 8 tỷ USD trong đó sản lượng cá hồi Đại Dương chiếm ưu thế đạt 640.000
nuôi chính đang có triển vọng và là nguồn thu ngoại tệ chính tại Đài Loan ( M.Ssu,
và ctv20001).
Australia có lịch sử nghề nuôi cá biển trên 2 thập kỷ qua và đã đạt được những
thành tựu đáng kể. Đối tượng nuôi chính Cá Hồi Đại Dương (Atlantic salmon) và Cá
Ngừ Vây Xanh (Southern Bluefin Tuna) với sản lượng 12.000 tấn, đạt khoảng 150
triệu UDS hàng năm. Ngoài ra một số loài Cá Hồi (Oncorhynchus mykiss), Cá Hồng
(Pagrus auratus), Cá Tráp Đen cũng đang được nuôi lồng trên biển với sản lượng đạt
11,8 tấn năm 1998 (Gooley và ctv, 2000) với tốc độ phát triển hiện nay, dự kiến đến
năm 2010 Australia có thể đạt 2,5 tỷ UDS từ nghề nuôi cá công nghiệp, trong đó
nghề nuôi cá Hồi chiếm 1 tỷ UDS và cá Ngừ chiếm 300 triệu UDS (Husey,1999).
Có thể khẳng định rằng NTTS phát triển rất sớm ở các nước trên thế giới, hiện nay
và cũng như trong tương lai sự phát triển bền vững và nhanh chóng sẽ là ngành
không thể thiếu trong phát triển kinh tế nói chung.
2. Tình hình nuôi ở Việt Nam.
Ngành NTTS Việt Nam nói chung được đánh giá là đã phát triển nhưng chưa
tương xứng với tiềm năng hiện có của quốc gia. Riêng về cá biển chỉ mới đóng góp 1
phần (< 1%) so với tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Nguyên nhân chủ yếu là chúng
ta chưa tập trung ngiên cứu đối với các đối tượng nước mặn. Nghề nuôi cá biển ở
nước ta hiện nay đang mang tính chất thu gom và giữ sống trong lồng nhằm nâng cao
chất lượng sản phẩm để xuất khẩu. Có nhiều đối tượng có giá trị kinh tế hiện nay
4
đang được nuôi, dù đã ngiên cứu sản xuất giống nhưng số lượng chưa nhiều, chưa
đáp ứng đủ nhu cầu đầu vào cho quá trình nuôi, nhiều loài phải nhập ngoại, chưa có
qui trình nuôi cụ thể cho từng loài.
Nghề nuôi cá biển ở nước ta bắt đầu hình thành và phát triển vào những năm 90
của thế kỹ XX với nhiều đối tượng như : Cá Mú , Cá Chẽm, Cá Măng, Cá Chình, Cá
Chẽm Mỏ Nhọn và cả Tôm hùm, Trai ngọc. Nghề nuôi cá cảnh cũng được biết đến
( L.A.Tuấn 1998. Trích). Những khu vực nuôi chủ yếu là những vùng biển Quản
Ninh, dọc theo bờ biển miền trung từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận, Bà Rịa Vũng
Tàu và một số tỉnh tây nam bộ.
nước lợ. Chính phủ Việt Nam cũng đã có những chính sách khuyến khích ngiên cứu
cho ngành, tạo điều kiện để ngành phát triển mạnh hơn nữa vào thời điểm hiện tại và
trong tương lai. Tạo ra một sự phát triển bền vững, hoàn thành một chu trình sản xuất
khép kín từ khâu bố mẹ, con giống, thức ăn tạo ra sản phẩm cuối cùng là chất lượng
cá thương phẩm đạt chất lượng cao. Những ngiên cứu đã mở ra một triển vọng cho
sự phát triển ngành trong tương lai tạo ra một sự tương xứng với tiềm năng hiện và
sự thuận lợi của nước ta.
3. Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sản xuất giống Cá Chim Vây
Vàng (Trachinotus blochii)
3.1 Hệ thống phân loại
6
Ngành: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Carangidae
Giống: Trachinotus
Loài: Trachinotus blochii (Lacepède, 1801)
Tên tiếng việt: cá Chim Vây Vàng, cá Sòng Mũi Hếch, cá Chim Trứng [5]
Tên Tiếng Anh: Snub-noes pompano
Longfin pompano[1].
3.2. Đặc điểm và hình thái nhận dạng
Cơ thể hơi tròn, cao và bề bên dẹp chính giữa lưng hình vòng cung. Trên đường
bên vẩy sắp xếp khoảng 135-136 cái, chiều dài so với chiều cao 1,6 - 1,7 lần, so với
chiều cao đầu 3,5 - 4 lần, cuống đuôi ngắn và dẹp, đầu nhỏ chiều cao đầu lớn hơn
chiều dài, môi tù về phía trước. Lỗ mũi mỗi bên 2 cái gần nhau, lỗ mũi trước nhỏ
hình tròn, lỗ mũi sau to hình bầu dục.
Miệng nhỏ xiên, xương hàm trên lồi, hàm trên và dưới có răng nhỏ hình lông,
răng phía sau dần thoái hóa, lưỡi không có răng, rìa phía trước xương nắp mang hình
cung tương đối to, rìa sau cong. Bộ phận đầu không có vẩy, cơ thể có nhiều vẩy tròn
nhỏ dính dưới da. Vây lưng thứ 2 và vây hậu môn có vẩy, phía trước đường bên hình
8
vũng, vịnh, cửa sông. Cá trưởng thành sinh trưởng tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ từ
22-28
0
C, là loài sống rộng muối 3 - 33‰. Dưới 20‰ cá sinh trưởng nhanh, trong
điều kiện độ mặn cao tốc độ sinh trưởng chậm lại. Nhu cầu hàm lượng ôxy hòa tan >
2,5 mg/L. Theo Potonetal (1989) cá trưởng thành sống ở vùng cát hoặc gần vùng rạn
san hô, độ sâu ít nhất 7 m. Ngoài ra cá giống thường thấy sống ở vùng cát hoặc gần
vùng đất cát sét (Borut Forlan, 2004).
3.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Chim Vây Vàng là loài cá ăn tạp thiên về động vật, có thể kiếm thức ăn ở
trong cát, cá trưởng thành có thể bắt những động vật vỏ cứng như : Ngao, cua, ốc.
Giai đoạn cá giống thức ăn là động vật phù du và động vật đáy, chủ yếu là luân trùng
(Rotifer), ấu thể Copepoda, Artemia. Cá con ăn tôm cá nhỏ, hai mảnh vỏ nhỏ. Thức
ăn chính của cá trưởng thành là : Các loại tôm, cá nhỏ. Trong điều kiện ương nuôi cá
dài 2 cm thức ăn là cá tạp xay nhỏ, tôm tép băm nhỏ. Cá trưởng thành ăn tôm nhỏ và
thức ăn công nghiệp hoặc toàn thức ăn công nghiệp trong nuôi thương phẩm . Trong
điều kiện môi trường nước bình thường Cá Chim Vây Vàng có cường độ bắt mồi
thay đổi theo nhiệt độ nước (Lâm Cẩm Tôn, 1995). Những động vật thân mềm sống
ở cát và các loài động vật không xương sống khác là thức ăn tự nhiên chính của loài
này (Bianchi.G, 1985).
Theo Nur. Muflich Juniyanto, Syamsul Akbat and Zakimin (2008), thức ăn cho
các giai đoạn được sử dụng như sau : Giai đoạn nuôi vỗ cá bố mẹ được cho ăn cá tạp,
hỗn hợp thức ăn viên, vitamin E và vitamin tổng hợp. Khẩu phần cho ăn 3-5% khối
lượng thân. Ấu trùng được cho ăn thức ăn tươi sống (luân trùng, Artemia) và thức ăn
tổng hợp. Luân trùng được cho vào ngày thứ 3 đến ngày 14 lượng từ 5 - 15 con/mL,
cho ăn 1 ngày 3 lần (sáng, trưa, chiều). Từ ngày thứ 10 thức ăn viên được bổ sung
vào với luân trùng cỡ hạt 200 - 300 µm. Artemia được đưa vào ngày thứ 14 với mật
độ 0,25 con/mL. Đến ngày 15 dừng cho ăn luân trùng và lượng thức ăn viên được
tăng dần cứ 1-2
tuyển chọn cá bố mẹ có khối lượng từ 2 - 6 kg, từ 3 trở lên.
Sức sinh sản tuyệt đối của Cá Chim Vây Vàng đạt 40-60 vạn trứng/cá cái. Theo
Nur. Muflich Juniyanto, Syamsul Akbat and Zakimin (2008) cho sinh sản Cá Chim
Vây Vàng với tỷ lệ đực cái là 1:1, kích thích bằng hormone. Sử dụng kết hợp HCG
250 IU/kg và Fibrogen 50 IU/kg cá cái thành thục, liều lượng tiêm cá đực bằng 1/2 cá
10
cái và tiêm 2, khoảng cách giữa các lần là 24 giờ, cá thường đẻ trứng sau khi tiêm lần
2 từ 12 – 24 giờ, khoảng 60 - 70% lượng trứng trong buồng trứng, đường kính trứng
thụ tinh khi trương nước: 0,8 – 0,85 mm [10].
4. Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo Cá Chim Vây Vàng trên thế
giới và Việt Nam
Ở Đài Loan, (1986): Lâm Liệt Đường đã thu gom 126 con cá Chim Vây Vàng, kích
cỡ không đồng đều nuôi chung với nhau. Năm 1989 bắt đầu thực nghiệm cho sinh
sản nhân tạo, qua 5 lần tiêm kích dục tố thì có 4 đợt đẻ, tổng số trứng thụ tinh là 500
vạn. Qua nhiều hình thức thực nghiệm ương nuôi cuối cùng thu được 38,6 vạn
giống, kích cỡ 2-3 cm. Đây là lần đầu tiên sinh sản nhân tạo cá Chim Vây Vàng thành
công (Lê Phúc Tổ, 2005).
Năm 1993 Trung tâm chuyển giao công nghệ ĐH Trung Sơn kết hợp với Trạm
Nghiên cứu Thủy sản Quảng Đông - Trung Quốc cho sinh sản thành công cá Chim
Vây Vàng, ương nuôi ấu trùng trong bể xi măng với quy mô nhỏ. Đến năm 1998,
Trung tâm kết hợp với công ty trách nhiệm hữu hạn giống thủy sản Thắng Lợi - Hải
Nam Trung Quốc thành công sản xuất giống nhân tạo trên quy mô lớn, ương nuôi ấu
trùng trong ao đất.
Hiện nay, Trung tâm phát triển biển Batam (Indonesia) đã thành công việc cho sinh
sản nhân tạo cá Chim Vây Vàng. Đã chủ động nguồn giống và không phụ thuộc vào
nguồn giống từ tự nhiên.Tỷ lệ nở 65-75%, tỷ lệ sống từ lúc nở đến 22 ngày tuổi đạt
20-25%[10].
Ở Việt Nam, năm 2006 Trại Nuôi trồng Thuỷ sản Thực nghiệm Yên Hưng
( Trường Cao đẳng Thuỷ sản Bắc Ninh) đã nhập công nghệ sản xuất giống cá Chim
Vây Vàng từ Trung Quốc đã đạt được kết quả như sau: Tỷ lệ đẻ trung bình 87,5%, tỷ
phòng trị
bệnh
Kết luận và đế xuất ý kiến
Kết quả nghiên cứu và thảo
luận
12