Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng Trachinotus blochii Lacepède 1801 tại trại thực nghiệm trường Cao đẳng Thuỷ Sản-Yên Hưng- Quảng Ninh - Pdf 68

Mở đầu
Nghề nuôi cá biển ở Việt Nam có từ lâu đời nhưng chưa phát triển mạnh bởi thị
trường và con giống không chủ động (con giống phụ thuộc chủ yếu vào nguồn giống tự
nhiên). Từ 1990 đến nay nghề nuôi cá biển có xu thế tăng nhanh, dọc biên giới từ Móng Cái
đến Hà Tiên vùng biển nào cũng có cơ sở thu gom và nuôi giữ cá biển. Khu vực Hải Phòng,
Quảng Ninh là nơi có số lượng bè cá nhiều nhất, tính đến giữa năm 1995 số lượng bè nuôi ở
khu vực này lên tới vài chục chiếc với tổng số khoảng 300 - 400 ô lồng. Khu vực biển miền
Trung, từ Đà Nẵng đến Bình Thuận có khoảng 200 lồng và khu vực Đông Tây Nam Bộ có
trên 100 ô lồng. Ngoài hình thức nuôi lồng bè trên biển còn phát triển cả nuôi trong ao đầm
nước lợ một số đối tượng có giá trị kinh tế như cá song, vược, cá bống bớp, cá tráp, cá
măng, cá dìa….
Theo đánh giá của FAO nghề nuôi cá lồng biển của Việt Nam còn non trẻ so với các
nước trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, chúng ta có đầy đủ tiềm năng để phát triển
nghề này. Việt Nam có bờ biển dài 3260 km với nhiều eo vịnh, vùng triều rộng lớn tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển NTTS nước mặn, lợ đặc biệt là nghề nuôi cá biển. Vì vậy nếu
được đầu tư đúng mức, ngư dân và các cơ sở sản xuất tiếp nhận được kỹ thuật nuôi tiên tiến
và dã chủ động sản xuất nhân tạo giống cá biển thì nghề nuôi cá lồng biển của Việt Nam sẽ
có những bước nhảy vọt, tạo việc làm và tăng thu nhập cho đông đảo ngư dân vùng ven
biển, đem lại nguồn hàng xuất khẩu lớn cho đất nước.
Việc chọn đối tượng nuôi có ý nghĩa rất quan trọng trong nghề nuôi cá biển, đối
tượng nuôi phải có giá trị kinh tế cao, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong
và ngoài nước, đặc biệt là phải chủ động nguồn giống: cả về số lượng, chất lượng và tính
mùa vụ.
Đối với miền Bắc nước ta, ở khu vực Quảng Ninh, Hải Phòng và một số khu vực ven
biển trong vùng Vịnh Bắc Bộ, ngư dân và một số cơ sở sản xuất chủ yếu nuôi các đối tượng:
cá song, cá giò, cá hồng, cá tráp vây vàng, cá vược, cá hồng mỹ. Đây là những đối tượng có
giá trị kinh tế cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, thị trường tiêu thụ rộng , dễ nuôi hợp với qui
mô hộ gia đình cũng như nuôi công nghiệp. Trong đó cá song, cá hồng, cá vược được xem
như là đối tượng nuôi rộng rãi hơn cả về số lượng và phân bố vùng nuôi bởi vì những đối
tượng này có giá trị kinh tế cao, tiềm năng về thị trường rãi rộng , đặc biệt những loài cá này
1

Phần 1: TỔNG LUẬN
1.1. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển trong nước và thế giới
1.1.1. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển trên thế giới
Cá biển là loại thực phẩm có giá trị được thị trường ưa chuộng, một số loài cá biển có
hàm lượng acid béo cao, đặc biệt là hàm hàm lượng DHA và EPA rất cần thiết cho con người.
Trong vài thập kỷ gần đây, nghề nuôi cá biển trên thế giới đã có những bước phát
tiến nhảy vọt. Một số quốc gia có nền công nghiệp khai thác cá hiện đại đã chuyển sang
nuôi biển và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng như Nauy, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài
Loan... Việc chuyển hướng từ khai thác sang nuôi trồng đã đánh dấu một bước chuyển biến
quan trọng trong việc chủ động tạo ra nguồn thực phẩm cung cấp cho xã hội, cải thiện cuộc
sống của con người, giảm dần sự lệ thuộc vào tự nhiên.
Nuôi trồng hải sản còn là phương án hữu hiệu đảm bảo cân bằng sinh thái góp phần
bảo vệ môi trường nếu như được tổ chức và kiểm soát trong phạm vi nuôi bền vững. Khi
nhu cầu tiêu dùng về các loại hải sản được đáp ứng, áp lực khai thác từ tự nhiên sẽ giảm đặc
biệt là những đối tượng hải sản quý hiếm. Đây sẽ là điều kiện để đảm bảo cho đa dạng sinh
học và sự cân bằng sinh thái tự nhiên. Tuy nhiên, việc phát triển nuôi trồng hải sản tuỳ tiện,
thiếu sự quản lý và tổ chức một cách khoa học có thể dẫn đến những tác động xấu tới môi
trường sinh thái và đa dạng sinh học. Vấn đề ô nhiễm môi trường những tác động nguồn gen
và đa dạng sinh học...có thể sẽ trở thành những hiểm hoạ nếu như con người không nhận
thức được và xem xét một cách nghiêm túc.
Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá biển có một lịch sử nghiên cứu khá dài. Theo
Wongsomnuk và Manevonk (1973) đã có báo cáo đầu tiên về những thành công trong
nghiên và sản xuất giống đại trà cá vược (Lates calcarifer) từ những năm giữa thập kỷ 1970
ở Thái Lan. Từ đó sản xuất giống nhân tạo cá biển ngày càng được phát triển rộng rãi ở Úc
và các nước châu á khác như Trung Quốc, Đài loan, Nhật Bản, Indonesia… ở cá đối (Mugil
sp.), báo cáo đầu tiên trong việc vuốt trứng và cho thụ tinh được ghi nhận vào năm 1936 bởi
Sanzo và 1938 bởi Belloc. Việc kích thích cá đẻ nhân tạo chỉ được báo cáo đầu tiên vào năm
1969 bởi Yashous. Năm 1973, Liao đã tổng kết những kết quả sản xuất giống cá này ở Đài
Loan từ những năm 1963 - 1973. Từ đó, sản xuất giống cá đối cũng đã tiếp tục được hoàn
thiện và ứng dụng ở một số nước.

2002 2.626 Luu, 2002
1.1.2. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển ở Việt Nam
Đối với những loài cá nước ngọt, khả năng sản xuất giống trong những năm gần đây
để cung cấp cho ngư dân và các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản được coi như tương đối thành
công và đã đáp ứng được nhu cầu về con giống cho nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt của nước
ta (cả nước có 400 trại sản xuất cá giống). Mặt khác, đối với những loài cá nước mặn thì
việc tìm hiểu đặc điểm sinh học (sinh sản, tập tính sống, phân bố, nhất là các điều kiện sinh
4
sản ...) của đối tượng để đưa vào sản xuất là vô cùng khó khăn và phức tạp, có khi phải mất
nhiều năm liền, tốn kém về nhân lực và tiền của.
Ở nước ta, trước đây hầu hết nguồn cá giống cung cấp cho nghề nuôi lồng bè trên
biển, chủ yếu là dựa vào khai thác ngoài tự nhiên bằng cách bẫy hoặc dùng lưới; vì vậy
nguồn cung cấp giống chưa được chủ động, hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên và khả
năng đánh bắt của các ngư dân, chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chất lượng và tính
thời gian của con giống cho nghề nuôi cá lồng bè trên biển cả ở qui mô gia đình và qui mô
công nghiệp. Mặt khác, việc khai thác giống tự nhiên vượt quá khả năng tái tạo quần đàn đã
đến mức báo động. Theo điều tra của (Đoàn Văn Đẩu 1998) cho thấy sản lượng cá giống
khai thác đã có dấu hiệu suy giảm. Hơn nữa giống khai thác tự nhiên thường không đảm bảo
về mặt chất lượng và số lượng cũng như mùa vụ nuôi.
Từ năm 1993 viện Nghiên cứu Hải sản - Hải Phòng đã tiến hành nghiên cứu sinh sản
nhân tạo một số loài cá biển có giá trị kinh tế : cá song, cá giò, cá hồng và cá tráp. Năm 1994
- 1995 tại viện Nghiên cứu Hải sản - Hải Phòng bước đầu đã cho sinh sản được cá song, cá
giò, cá hồng và cá tráp, nhưng tỷ lệ sống của cá bột đến cá giống còn rất thấp. Năm 1999
Viện Nghiên cứu Hải sản thành công trong sinh sản nhân tạo cá giò, đã cung cấp trên 10.000
cá giống cỡ 10 -15cm cho ngư dân và một số cơ sở sản xuất nuôi lồng trên biển của Quảng
Ninh, Hải Phòng. Kết quả nuôi đạt rất tốt, cá sinh trưởng nhanh đạt 300 - 400gam/3 tháng
nuôi, tỷ lệ sống cao, ít bệnh tật. Năm 2002 Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thuỷ sản I đã nhập
công nghệ và sản xuất thành công giống cá song tại Cát Bà (Hải Phòng). Đây là kết quả
bước đầu rất đáng được trân trọng, bởi nó đã hé mở một khả năng tạo hàng loạt con cá song
giống bằng con đường sinh sản nhân tạo, góp phần thúc đẩy nghề nuôi biển phát triển một

Giống: Trachinotus
Loài: Trachinotus blochii (Lacepède 1801)
Tên tiếng Việt: cá chim vây vàng
Tên tiếng Anh: snub-nose pompano
Trachinotus ovatus (non Linnaeus, 1758)
Trachinotus fuscus (Cuvier, 1832)
(Nguồn: trang web của FishBase)
Cá chim vây vàng Trachinotus blochii Lacepède 1801 phân bố ở biển miền Nam
Nhật Bản, Tây Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương. Vùng biển nhiệt đới và Á
nhiệt đới, vùng biển Đông Nam Á và vùng biển Tây Châu Phi. Ở Trung Quốc chúng phân
6
bố vùng biển Đông Hải, Nam Hải, Hoàng Hải, vùng biển Quảng Đông, Quảng Tây, Hải
Nam, Phúc Kiến. Cá Chim vây vàng cũng đã tìm thấy ở vùng biển nước ta.
1.2.2. Đặc điểm hình thái và nhận dạng
Cơ thể hơi tròn, cao và bề bên dẹp chính giữa lưng hình vòng cung. Vây lưng I, V -
VI. I.19 - 20. Vòng mông II, I. 17- 18, vây ngực 19, vây bụng 15, vây đuôi 17. Trên đường
bên vẩy sắp xếp khoảng 135 – 136 cái, chiều dài so với chiều cao 1,6 - 1,7 lần, so với chiều
dài đầu 3,5 - 4 lần, cuống đuôi ngắn và dẹp, đầu nhỏ chiều cao đầu lớn hơn chiều dài.
Xương ở chính giữa bề lưng của đầu rõ ràng, chiều dài của đầu so với môi dài 5,1- 6,2 lần,
so với đường kính mắt 3,9 - 4,3 lần, môi tù phía trước hình cắt cụt đường
K
Hình 1: Hình dạng cá Chim vây vàng
kính mắt dài hơn môi 1,2 - 1,6 lần. Mắt vị trí về phía trước nhỏ, màng mỡ mắt không phát triển,
lỗ mũi môi bên 2 cái gần nhau, lỗ mũi trước nhỏ hình tròn, lỗ mũi sau to hình bầu dục.
Miệng nhỏ xiên, xương hàm trên lồi, hàm trên và hàm dưới có răng nhỏ hình lông,
răng phía sau dần thoái hoá, lưỡi không có răng, rìa phía trước xương nắp mang hình cung
tương đối to, rìa sau cong. Xương nắp mang phía sau trơn, màng nắp mang tách rời, tia
mang 8- 9 cây tia mang ngắn, sắp xếp thưa 5 + 7 – 8 đoạn cuối của tia mang phía trên và
dưới có một số thoái hoá, bộ phận đầu không có vảy, cơ thể có nhiều vẩy tròn nhỏ dính vào
dưới da. Vây lưng thứ 2 và vây hậu môn có vẩy, phía trước đường bên hình cung cong tròn

bệnh đốm trắng, bệnh ngoài da, cá tráp đen, tráp vây vàng bệnh về mang chết hàng loạt còn
cá chim vây vàng vẫn bình thường không chịu ảnh hưởng. Việc vận chuyển dễ dàng, cá nuôi
ở lồng lưới có thể chuyển vào bể xi măng vẩy của cá không dễ bị bong ra, khả năng vận
chuyển không dễ bị tổn thương, khả năng chịu đựng tốt. Trong điều kiện ương nuôi cá con
không ăn thịt lẫn nhau.
1.2.4. Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
1.2.4.1. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá chim vây vàng là loài cá ăn thịt, đầu tù, miệng ở phía trước bành ra 2 bên. Cá
hương có răng nhỏ, cá trưởng thành răng thoái hóa. Cuống mang ngắn và thưa đặc điểm này
khiến cá có thể dùng đầu tìm kiếm thức ăn ở trong cát, cá trưởng thành có thể bắt mồi sinh
vật vỏ cứng như ngao, cua, vỏ ốc... Giai đoạn cá bột thức ăn là các loài phù du sinh vật và
8
các động vật đáy, chủ yếu là ấu thể copepoda. Cá con ăn các loại đa mao, các loài hai mảnh
vỏ nhỏ. Cá trưởng thành thức ăn chính là các loài tôm, cá nhỏ... Trong điều kiện nuôi cá dài
2cm, thức ăn là cá tạp xay nhỏ, tôm tép xay nhỏ, cá trưởng thành ăn tôm cá băm nhỏ pha
thức ăn công nghiệp. Cho ăn vào thời gian buổi sáng hoặc trước hoàng hôn, có thể sử dụng
máy tự động cho ăn. Trong điều kiện môi trường nước bình thường cá chim vây vàng có hệ
số bắt mồi thay đổi theo nhiệt độ nước.
Bảng 2. Quan hệ giữa hệ số bắt mồi của cá chim vây vàng và sự thay đổi nhiệt độ nước
(theo Lâm Cẩm Tôn (1995).
Nhiệt độ
nước (t
0
C)
Dao động 15 - 18 18 - 20 21 - 23 22 - 25 23,6 - 26,4 26,2 - 28,1 27,2 - 28,2
TB
17,0 18,6 21,2 23,6 25,8 27,0 28,0
Hệ số bắt
mồi (%)
Dao động 1,2 - 1,9 1,5 - 4,2 2,3 - 5 4 - 11 9,4 - 16 8,8 - 15 8,2 - 17

nhựa (polyethylene cannula) có đường kính 1mm. Đưa ống hút trứng vào trong ống dẫn
trứng khoảng 6- 7cm và hút trứng vào ống khi rút ống ra. Trứng tròn, sáng, rời và đều nhau,
đường kính trứng cần đạt đến kích thước từ 0,4 - 0,5mm. Các hạt noãn hoàng phân bố đều,
không còn khoảng cách giữa noãn hoàng và nang trứng.
Tiêu chuẩn cá đực: Cho sẹ đặc màu trắng tan nhanh trong nước khi vuốt hoặc hút
bằng ống silicon có đường kính 1mm.
Trong quá trình nuôi vỗ định kỳ 15 ngày kiểm tra mức độ thành thục của tuyến sinh
dục một lần để có biện pháp cho đẻ kịp thời
1.2.7. Cá bố mẹ thành thục cho đẻ
Cá bố mẹ thành thục cho đẻ: chọn cá cái thành thục, sử dụng kết hợp 2 phương pháp
chọn ngoại hình và thăm trứng.
- Cá đực tiến hành dùng ống nhựa mềm để hút tinh dịch ra ngoài, nếu thấy tinh màu
trắng sữa, đặc, tan nhanh trong nước là tốt hoặc vuốt nhẹ thấy sẹ đặc có màu trắng sữa chảy
ra và dễ tan trong nước. ống nhựa mềm có đường kính = 1mm để thăm trứng.
- Cá cái: Dùng ống thăm trứng để hút trứng kiểm tra nếu thấy trứng tròn đều, màng
trứng rõ ràng, nhân hơi lệch về phía cực động vật thì có thể chọn cho cá đẻ. Nếu trứng chưa
căng tròn đều, dính lại với nhau và có màu xanh nhạt chứng tỏ trứng còn non.
Phần 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
10
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu - đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Trại thực nghiệm nuôi trồng Thuỷ sản Quảng Ninh - Trường Cao đẳng Thuỷ sản.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu.
Cá Chim vây vàng Trachinotus blochii Lacepède 1801.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu.
Từ tháng 30/7/2007 đến tháng 10/11/2007
2.2. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
2.2.1. Phương pháp tiếp cận
- Căn cứ vào các tài liệu, các nguồn thông tin trong và ngoài nước có liên quan đến
đối tượng nghiên cứu như: những thông tin tiếp cận được thu thập từ những tài liệu được

Cá bố mẹ được tuyển chọn có trọng lượng từ 2 – 6kg, tuổi từ 3
+
trở lên, cá khỏe
mạnh, không bị xây xát, không bị bệnh, sắc tố cá bình thường, hoạt động linh hoạt, được
nuôi vỗ trong lồng có kích thước là 3x3x3 m, kích thước mắt lưới lồng nuôi là 5cm. Tỷ lệ
đực cái là 1:1, mật độ 3 – 5kg/m
3
.
Kiểm tra mức độ thành thục của cá thường được tiến hành trước 1 tuần trước khi cá
đẻ nhằm:
- Quyết định thời điểm cá đẻ thích hợp.
- Chỉ có cá bố mẹ có tuyến sinh dục thành thục ở mức độ nhất định mới có thể dục đẻ.
Tiêu chuẩn chọn cá cái cho sinh sản: trứng lấy kiểm tra bằng dụng cụ là ống hút
nhựa (polyethylene cannula) có đường kính 1mm. Đưa ống hút trứng vào trong ống dẫn
trứng khoảng 6- 7cm và hút trứng vào ống khi rút ống ra. Trứng tròn, sáng, rời và đều nhau,
đường kính trứng cần đạt đến kích thước từ 0,4 - 0,5mm. Các hạt noãn hoàng phân bố đều,
không còn khoảng cách giữa noãn hoàng và nang trứng.
Tiêu chuẩn cá đực: Cho sẹ đặc màu trắng tan nhanh trong nước khi vuốt hoặc hút
bằng ống silicon có đường kính 1mm.
Đến mùa sinh sản (tháng 4 - 10) tập trung vào tháng 4 - 6. định kỳ 15 ngày kiểm tra
mức độ thành thục của cá bố mẹ một lần bằng cách lấy trứng thông qua thăm trứng, kiểm tra
tinh dịch của cá đực. Thông qua kết quả kiểm tra, xác định mức độ thành thục, thời gian
thành thục và để tiến hành cho sinh sản nhân tạo.
2.2.2.3. Phương pháp cho cá đẻ
12
- Cho cá đẻ tại lồng: có thể tích 27 m
3
. Kích dục tố được sử dụng ở đây là LRH-A
hoặc HCG chuyên dùng cho cá biển do Trung Quốc sản xuất hoặc dùng biện pháp sinh thái
là kích nước để cho sinh sản.

, nước dùng để ấp là nước biển
lọc sạch, yêu cầu râm mát, chiều cao bể là 1m.
2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Tổng số cá thành thục
* Xác định tỷ lệ thành thục: = x 100%
Tổng số cá đưa vào nuôi vỗ
Tổng số cá tham gia đẻ trứng
* Xác định tỷ lệ đẻ: = x 100%
Tổng số cá cái đưa vào cho đẻ

Tổng số trứng thụ tinh
13
* Xác định tỷ lệ thụ tinh: = x 100%
Tổng số trứng cá đẻ ra

Tổng số cá mới nở
* Xác định tỷ lệ nở: = x 100%
Tổng số trứng thụ tinh
- Tính giá trị trung bình:
+ Trong đó X giá trị trung bình của cá trong lần kiểm tra (khối lượng (g), chiều
dài(mm))
+ Xi: là giá trị về chiều dài hoặc khối lượng của cá thể thứ i trong lần kiểm tra.
+ n: là độ lớn của mẫu (Số cá thể của mẫu trong lần kiểm tra).
Tất cả các số liệu thu thập được xử lý dựa trên phần mềm thống kê sinh học Excel.

14
n
1
X


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status