Ảnh hưởng của thức ăn và độ mặn đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng ( trachinotus blochii lacepde, 1801) tại vĩnh hòa nha trang - Pdf 22

i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh nỗ lực học tập và nghiên cứu của bản thân,
tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ , động viên của các tập thể và cá nhân.
Qua đây, tôi xin bày t ỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ
nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Bộ môn Hải sản, đã tạo những điều kiện thuận lợi về kiến
thức chuyên môn và cơ sở vật chất cho tôi thực hiện đề tài này.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin chân th ành cảm ơn Th.S Nguyễn Địch Thanh đã
định hướng nội dung và tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi
giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá tr ình thực hiện đề tài.
Xin được gửi lời cảm ơn tới Th.S Lục Minh Diệp, Th.S Ngô Văn Mạnh, KS Đoàn Xuân
Nam đã hướng dẫn và cho tôi những lời khuyên chân thành. Xin gửi lời cảm ơn tới các bạn
sinh viên K48, K49, K50 thực tập tốt nghiệp và làm việc tại trại thực nghiệm bộ môn Hải sản
– Vĩnh Hòa – Nha Trang đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, xin dành sự biết ơn đặc biệt đến gia đình, những người thân và bạn bè đã
luôn động viên, cổ vũ và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập và thực
hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
ii
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu … …1
1. Tổng quan tài liệu …… 3
1.1 Tình hình nghề nuôi cá biển ở một số n ước trên thế giới và Việt Nam…………3
1.1.1 Tình hình nghề nuôi cá biển ở một số n ước trên thế giới …… 3
1.1.2 Tình hình nghề nuôi cá biển ở Việt Nam …… 7
1.2 Đặc điểm sinh học cá chim vây v àng …… 9
1.2.1 Hệ thống phân loại …… 9
1.2.2 Đặc điểm hình thái …… 9
1.2.3 Đặc điểm phân bố …… 10
1.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng …… 11

4.1 Kết luận …….38
4.2 Ý kiến đề xuất …….38
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
trang
Bảng 1.1 Sản lượng nuôi trồng thủy sản của 10 quốc gia h àng đầu 4
Bảng 3.1 Các thông số môi tr ường thí nghiệm 26
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim 27
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của khẩu phần ăn 36
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh tr ưởng và tỷ lệ sống 34
Bảng 3.5 Thời gian ấu trùng chết toàn bộ ở những nghiệm thức 5 ‰ – 20 ‰ 35
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Cá chim vây vàng 10
Hình 1.2 Bản đồ phân bố của cá chim vây vàng trên thế giới 11
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
Hình 2.2 Sơ đồ khối thí nghiệm ảnh h ưởng của thức ăn 19
Hình 2.3 Sơ đồ khối thí nghiệm ảnh h ưởng của khẩu phần ăn 21
Hình 2.4 sơ đồ khối thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn 23
Hình 3.1 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi thức ăn 28
vi
GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ V À CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Thuật ngữ:
Chuyển đổi thức ăn _Weaning: Luyện ăn cho quen, đây là quá trình một động vật
phụ thuộc trực tiếp hay dán tiếp v ào mẹ của nó (ví dụ túi no ãn hoàng) về thức ăn hay
bảo vệ đến một thời điểm cuối c ùng. Trong nuôi tr ồng thủy sản, thuật ngữ n ày cũng
được dùng liên quan đến giai đoạn chuyển tiếp từ cho ăn thức ăn tươi sống đến cho ăn
thức ăn chế biến đối với cá bột.
Ký hiệu viết tắt:

quả để nuôi cá chim vây vàng là một hướng đi mới có nhiều triển vọng nhằm từng bước sử
dụng hợp lý nguồn t ài nguyên thiên nhiên, đa dạng hóa đối tượng nuôi trồng thủy sản, tạo
việc làm, nâng cao thu nh ập cho người dân và phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương
ven biển như Khánh Hòa…
Cũng giống như các loài cá biển khác trong quy trình sản xuất giống nhân tạo cá chim
vây vàng phải sử dụng một lượng lớn thức ăn tươi sống đặc biệt là Artemia trong giai đoạn
dinh dưỡng ngoài và thức ăn tổng hợp trong quá tr ình ương nuôi từ 30 đến 60 ngày tuổi; cũng
như phụ thuộc vào độ mặn của nước biển để ương nuôi ( > 30‰) đã làm cho giá thành c ủa
con giống sản xuất ra còn cao và chưa chủ động trong sản xuất.
2
Từ những thực tế nêu trên, được sự nhất trí của Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại
học Nha Trang tôi thực hiện đề t ài “Ảnh hưởng của thức ăn và độ mặn đến tốc độ sinh
trưởng và tỷ lệ sống của ấu tr ùng cá chim vây vàng ( Trachinotus blochii Lacepde, 1801)
tại Vĩnh Hòa – Nha Trang”.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định thời điểm chuyển đổi thức ă n, khẩu phần cho ăn và độ
mặn thích hợp nhất để rút ngắ n thời gian sử dụng Artemia, sử dụng hợp lý thức ăn tổng hợp
và nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng trong quá trình ương nuôi.
Đề tài thực hiện với ba nội dung chính:
- Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi thức ăn đến sự sinh tr ưởng và tỷ lệ sống của
ấu trùng cá chim vây vàng.
- Ảnh hưởng của khẩn phần ăn đến tốc độ tăng tr ưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây
vảng từ 30 – 60 ngày tuổi.
- Nghiên cứu tác động của độ mặn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng.
Vì thời gian, kinh nghiệm v à năng lực của bản thân c òn hạn chế, tài liệu tham khảo
không nhiều nên không thể tránh khỏi những thiếu sót khi thực hiện đề t ài này. Kính mong s ự
đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn đọc để báo cáo được hoàn thiện hơn.
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghề nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam.
1.1.1 Tình hình nghề nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới.

3
Việt Nam
703.041
1.198.617
30,6
4
Thái Lan
954.567
1.172.866
10,8
5
Indonesia
914.071
1.045.051
6,9
6
Bangladesh
786.604
914.752
7,8
7
Nhật Bản
826.715
776.421
-3,1
8
Chi Lê
545.655
674.979
11,2

tựu đã đạt được trong nuôi cá biển của một số quốc gia tr ên thế giới.
Trung Quốc là nước có lịch sử nuôi trồng thủy sản lâu đời , tuy nhiên nuôi cá bi ển ở
nước này chỉ mới chú trọng trong những năm 80. Với những bước tiến nhảy vọt, chỉ sau thập
kỷ 90 họ đã có những thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực n ày và trở thành cường quốc có sản
lượng nuôi cá biển số một thế giới. Sau 10 năm Trung Qu ốc đã tăng sản lượng nuôi cá biển
lên 5 lần, từ 101.000 tấn ( năm 1990) l ên 503.000 tấn (năm 1999). Sản lượng cá biển nuôi của
Trung Quốc chiếm 20,5% tổng s ản lượng cá biển nuôi thế giới v à mục tiêu chính của nghề
nuôi cá biển của nước này là phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa [13]. Kỹ thuật sản xuất giốn g cá
biển nhân tạo ở Trung Quốc đ ã được bắt đầu từ những năm 1950 v à thực sự phát triển mạnh
vào những năm 1980. Tính đến năm 2000, Trung Quốc đ ã sản xuất thành công con giống
nhân tạo của 54 loài thuộc 24 họ cá biển với số l ượng lớn đáp ứng cho nhu cầu nuôi th ương
phẩm. Số lượng sản xuất hàng năm khoảng 10 tỷ con giống cá biển các loại v à tập trung chủ
yếu vào các loài có giá tr ị kinh tế như cá mú (Epinephelus spp), cá hồng (Lutjanus spp),
yellowfin puffer (Takifugu xanthopterus ), large yellow croaker ( Pseudosciaena crocea ),
Japanese sea perch ( Lateolabrax japonicus ), Japanese flounder ( Paralichthys olivaceus ), cá
đù đỏ (Sciaenops ocellatus), cá tráp đỏ (Pagrus major), cá chẽm (Lates calcarifer), cá đối
(Mugil cephalus), cá măng (Chanos chanos)[8].
Na Uy là cường quốc nuôi cá biển nổi tiếng trong 2 thập kỷ vừa qua v à là nước xuất
khẩu cá biển nuôi số 1 thế giới. Từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ tr ước, Na Uy đã xác
định nuôi cá biển xuất khẩu là mũi nhọn của kinh tế đất n ước. Mọi nguồn lực kinh tế v à trí tuệ
được tập trung cho lĩnh vực n ày. Họ đã chọn cá hồi Đại Tây Dương là đối tượng ưu tiên phát
triển. Sau 20 năm, Na Uy đ ã đạt tới đỉnh cao trong công nghệ về nuôi cá biển. Người ta còn
đánh giá cao rằng, mô hình nuôi cá biển trong lồng của Na Uy l à mô hình nuôi của thế kỷ này.
Để đạt được 420 nghìn tấn cá biển nuôi và giá trị 1,35 tỷ USD (năm 2000), Na Uy đã kiên trì
phấn đấu trong suốt 20 năm. Các mô hình nuôi cá bi ển ở Na Uy là nuôi trong lồng đơn hình
tròn là chính, ngoài ra còn nuôi trong các l ồng hình chữ nhật xếp thành từng khối hay nuôi
5
trong bể bê tông xây ở sát bờ biển. Điều đáng chú ý là mặc dù nuôi cá ở quy mô công nghiệp
tập trung cao độ, nh ưng về cơ bản vẫn giữ được độ trong sạch cho môi tr ường nước biển ở
các khu vực nuôi tập trung. Đây l à điều rất đáng quan tâm. Ngo ài ra, trong suốt 20 năm nuôi

6
nhất khu vực Địa Trung Hải và dẫn đầu châu Âu về sản xuất cá vược. Hiện nay, Hy Lạp có
220 cơ sở sản xuất cá vược.Trong đó, gần một nửa tự sản xuất đ ược con giống nhân tạo. Tất
cả các cơ sở sản xuất đều là tư nhân và là thành viên c ủa “Liên hiệp nuôi trồng hải sản Hy
Lạp”. Nuôi cá vược xuất khẩu nhanh chóng trở th ành lĩnh vực sản xuất mũi nhọn của nghề cá
Hy Lạp. Xuất khẩu đạt 140 triệu USD năm 1997. Chính kết quả n ày đã thúc đẩy phong trào
nuôi cá Vược xuất khẩu lan ra nhanh chón g khắp các nước quanh khu vực Địa Trung Hải. Hy
Lạp vốn không có truyền thống về nuôi cá biển nhưng nhờ tiếp cận kỹ thuật sản xuất con
giống rất tiến bộ của Pháp, Italia, Anh, NaUy, Nhật Bản trong lĩnh vực nuôi cá biển, n ên Hy
Lạp nhanh chóng nắm bắt được các thành tựu mới này. Chỉ sau thời gian ngắn, họ đã thành
công trong khâu cho cá sinh s ản nhân tạo, sản xuất đ ược cá giống có chất l ượng cao. Còn thiết
bị lồng nổi và các máy móc khác họ nhập khẩu của Nhật Bản, NaU y. Công nghiệp nuôi cá
biển phát triển nhanh chóng trở th ành lĩnh vực sản xuất lớn của Hy Lạp. Năm 2000, Hy Lạp
đưa sản lượng nuôi cá biển lên 79 nghìn tấn giá trị 491 triệu USD, trở th ành hiện tượng mới
trong lĩnh vực nuôi cá biển không chỉ ở châu Âu m à còn trên phạm vi thế giới. Thành công
của Hy lạp đã thúc đẩy nghề nuôi cá biển trong tất cả các quốc gia ven Địa Trung Hải. Ngay
những quốc gia Hồi giáo rất thờ ơ với hải sản cũng phát triển mạnh nghề nuôi cá biển trong
lồng khắp xung quanh Địa Trung Hải. Mục tiêu của Hy Lạp là nuôi cá biển xuất khẩu với hơn
70% sản lượng được xuất khẩu sang Italia, Pháp, Đức, Tây Ban Nha [13].
Ở Australia, nuôi trồn g thủy sản phát triển khá nhanh. Các đối tượng cá biển nuôi
chính là cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar), cá ngừ vây xanh (Thunnus maccoyii), cá chẽm
(Lates calcarifer); gần đây một số đối tượng mới được phát triển nuôi nh ư: cá mulloway
(Argyrosomus japonicus ), cá tráp đỏ (Pagrus auratus), cá cam (Seriola lalandi) và cá mú
(Epinephelus coioides, Cromileptes altivelis ); hệ thống nuôi cá biển chủ yếu ở Australia là
lồng nổi, ao và nuôi nước chảy. Sản lượng cá biển năm 2000 của n ước này đạt gần 20.000 tấn,
giá trị trên 170 triệu USD. Tuy nhiên nuôi lồng trên biển hiện cũng đang gặp một số khó khăn
về kiểm soát địch hại như: hải cẩu, cá mập và sứa…[8].
Ở Indonesia các đối tượng cá biển có giá trị kinh tế cao nh ư cá mú cọp (E.
fuscoguttatus) và cá mú chuột đang được tập trung đầu tư nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo
và nuôi thương ph ẩm. Hiện nay, nguồn giống cá mú sản xuất ra h àng năm không những đủ

kích thước thương phẩm rồi xuất sang Nhật Bản. Thức ăn tinh cũng đem từ Nhật Bản sang.
Gần đây, Đài Loan cũng đem kỹ thuật hiện đại nuôi cá song, cá mú trong lồng nổi sang thực
hiện ở vùng biển Bà Rịa - Vũng Tàu. Do thị trường Hồng Kông, Trung Quốc v à Nhật Bản có
nhu cầu cao về cá sống rạn san hô, phong tr ào nuôi cá lồng trên biển gần đây phát triển ào ạt ở
vùng biển Quảng Ninh và Cát Bà (Hải Phòng). Theo số liệu đã công bố, riêng tỉnh Quảng
8
Ninh đã có 1.200 lồng nuôi cá biển. Phong trào nuôi cá chình trong l ồng gần đây phát triển
rầm rộ ở tỉnh Phú Yên [13].
Theo Nguyễn Trọng Nho và ctv (2000) số lượng lồng nuôi trên biển tăng gấp 10 lần.
Năm 1998 có trên 10.000 l ồng, trong đó hơn 6000 được đặt ở ven biển Nha Trang v à Vịnh Hạ
Long chiếm diện tích xấp xỉ khoảng 150 ha. Số lượng cá và động vật thân mềm đạt 540 tấn,
giá trị hơn 1 tỷ đồng. Hầu hết các lồng n ày do tư nhân quản lý [9].
Năm 1994, Viện Hải Dương Học đã ngiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản v à
sản xuất thành công giống nhân tạo 2 loài cá ngựa : Cá Ngựa Đen (Hippocampus kuda ) và Cá
Ngựa 3 chấm (H . trimaculatus)[6].
Năm 1994 -1995, Viện Nghiên Cứu Hải Sản – Hải Phòng đã nghiên cứu sản xuất
thành công giống cá Mú Mỡ (Epinphelus tauvina), Cá Mú Đen (Epinphelus malabaricus ) tại
Vịnh Hạ Long. Kết quả sau 3 tháng ương nuôi đạt chiều dài 13 cm tương ứng với khối lượng
50g [5].
Năm 2001, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sả n I đã nghiên cứu cho sinh sản nhân
tạo thành công loài Cá Giò ( Rachycentron canadum ) [5].
Năm 2002 -2004, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Thủy sản _ Nha Trang
đã nghiên cứu sinh sản nhân tạo, ương giống và nuôi thương phẩm thành công 2 loài : C á
chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) và Cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis
Cuvier&Valencienes, 1828 ) [ 8;9;11].
Năm 2008 – 2009, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang đã nghiên
cứu sinh sản nhân tạo th ành công hai đối tượng cá biển mới là cá hồng bạc ( Lutjanus
argentimaculatus) và cá chim vây vàng ( Trachinotus blochii ). Điều này đã mở ta một hướng
đi mới cho nghề nuôi cá biển của Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng nh ằm đa dạng
hóa đối tượng nuôi.

đầu có màu xanh xám. Ở những cá thể trưởng thành thỉnh thoảng có màu vàng cam đặc biệt
trên cơ thể nhất là vùng miệng và nửa sau của thân. Phần đầu không có vảy, cơ thể có nhiều
vảy nhỏ dính vào dưới da [ 5;17;19 ].
Công thức vây: D.V – VI, I + 18 – 19; A.II, I + 16 – 17; P.I + 17 – 18; G.R 6 – 7 + 8 – 9
10
Phía trước đường bên có hình cung khá l ớn, trên đường bên vảy không có gờ. Vây
lưng thứ 1 hướng về phía trước, gai bằng và có 5 – 6 gai ngắn. Ở cá giống giữa các gai có
màng liền nhau, cá trưởng thành màng thoái hóa thành nh ững gai tách rời nhau. Vây l ưng thứ
2 có 1 gai và 19 – 20 tia vây, phần trước của vây kéo dài hình lưỡi liềm. Tia vây dài nhất gấp
chiều dài của đầu 1,2 – 1,3 lần. Vây hậu môn có 1 gai v à 17 – 18 tia vây, phía trước có hai gai
ngắn. Vây hậu môn và vây lưng thứ 2 hình dạng giống nhau, màu cam sẫm. Vây ngực tương
đối ngắn, rộng, màu tối đen. Đuôi xẻ thùy, vây đuôi hình lưỡi liềm. Lưng màu xanh xám,
bụng trắng bạc, mình không có vân đen, vây lưng màu ánh b ạc, rìa vây màu tro đen, vây hậu
môn hơi vàng, vây đuôi màu tro.
Hình 1.1 Cá chim vây vàng
1.2.3 Đặc điểm phân bố.
a. Phân bố theo vùng địa lý.
Cá chim vây vàng phân b ố rộng khắp các vùng biển nước ấm, giới hạn trong vùng
biển nhiệt đới và cận nhiệt đới 32
0
N – 32
0
S [17]. Chúng sống ở vùng biển mở và tìm thấy ở
Ấn Độ Dương, các vùng biển khác của Thái B ình Dương, Indonesia, từ phía nam Nhật Bản
tới phía bắc Australia , phía đông của cảng Samoa Tonga và quần đảo Murshall [ 17].
Cá chim vây vàng còn phân b ố nhiều ở Trung Quốc, Đ ài Loan, Philippine. Ở Trung
Quốc, chúng phân bố nhiều ở v ùng biển Đông Hải, Hoàng Hải, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải
Nam, Phúc Kiến [20].
Ở nước ta cũng tìm thấy cá chim vây vàng ở vùng biển phía Bắc [ 5].
b. Phân bố theo vùng sinh thái.

Cá chim vây vàng là loài cá ăn tạp thiên về động vật, có thể kiếm thức ăn ở trong cát,
cá trưởng thành có thể bắt những động vật vỏ cứng như : ngao, cua, ốc. Khi mới nở ấu tr ùng
cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Giai đoạn cá giống thức ăn chủ yếu là luân trùng (Rotifer),
ấu thể Copepoda, Artemia . Thức ăn chính của cá trưởng thành là các loại tôm cá nhỏ phù hợp
với cỡ miệng của chúng . Trong điều kiện ương nuôi, thức ăn của cá giai đoạn sau khi ăn
Artemia là cá tạp xay nhỏ, tôm tép băm nhỏ hoặc thức ăn viên công nghiệp. Cá nuôi thương
phẩm trong ao đất hay lồng b è được cho ăn chủ yếu l à cá tạp hoặc thức ăn công nghiệp . Ở
điều kiện môi trường nước bình thường cá chim vây vàng có cường độ bắt mồi thay đổi theo
nhiệt độ nước [5;17].
12
1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng.
Cá chim vây vàng là loài sinh trư ởng nhanh, ít bệnh tật, ph ù hợp với điều kiện khí hậu
nhiệt đới nóng ẩm của n ước ta. Cá trưởng thành có kích thước tương đối lớn, nhìn chung
chiều dài có thể đạt 45 – 60 cm. Cá sinh trư ởng tốt trong điều kiện nuôi b ình thường, một năm
có thể đạt 0,7 – 1,2 kg. Từ năm thứ hai trở đi mỗi năm trọng l ượng tuyệt đối là 1 kg. Trương
Bang Kiệt (2001) thực nghiệm nuôi ở ao với cá 0
+
tuổi, thời kỳ đầu sinh tr ưởng chậm cá dài
2,6 cm trọng lượng 0,52 g, qua 192 ng ày nuôi đạt chiều dài 9,9 cm, trọng lượng 20,53 g. Bình
quân ngày trọng lượng tăng 0,6 g, ở cỡ cá th ương phẩm trung bình ngày đạt gần 20 g ở cỡ cá
200 g [5] .
1.2.6 Đặc điểm sinh sản.
Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác nhau là khác
nhau. Ở Trung Quốc cá bắt đầu sinh sản từ tháng 4 – 9, trong khi tại Đài Loan lại có thể cho
cá sinh sản nhân tạo từ tháng 3 đến tháng 10. Ở nước ta cá chim vây v àng có thể sinh sản
quanh năm. Quá trình sinh sản của cá chim vây vàng cũng tuân theo chu kỳ trăng hàng tháng
như nhiều loài cá biển khác.
Tuổi và kích thước thành thục lần đầu của cá chim vây vàng ngoài tự nhiên tương đối
muộn, cá thành thục ở tuổi 5
+

giống nhân tạo cá chim vây vàng tại Trung tâm phát triển thủy sản Kota Kinabalu - Malaysia.
Bước đầu thu được một số kết quả khả quan khi đ ã cho sinh sản thành công và ương nuôi
được ấu trùng cá chim vây vàng trong bể [17].
Ở Indonesia cá chim vây vàng không phải là một đối tượng mới với ngư dân vì trong
vùng biển của Indonesia lo ài cá này có rất nhiều. Trong những năm gần đây khi giá cá chim
vây vàng trên thị trường dao động trong khoảng 6 USD/ kg th ì nhiều người dân tập trung vào
nuôi đối tượng vốn có trong tự nhi ên này. Ở Trung tâm Phát triển Nuôi trồng Sinh vật biển
Batam, việc cho sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng đã có những thành công nhất định.
Người ta tiến hành nuôi vỗ cá bố mẹ trong các bể với tỷ lệ 1:1, cho ăn cá tạp, thức ăn tổng
hợp, bổ sung thêm các loại Vitamine, khoảng 3% - 5% khối lượng cơ thể. Cá bố mẹ được
tiêm HCG (2500UI/kg) và fibrogen (50UI/kg), sau 3 ngày cá đ ẻ 60% - 70%, tỷ lệ nở 65% -
70%. Sau 21 ngày chăm sóc tỷ lệ sống của ấu trùng là 20% - 25% [17]. Ấu trùng cá chim vây
vàng được ương trong các bể có dung tích 6m
3
với mật độ ấu trùng ương là 20 con/ lít nư ớc.
Các thông số môi trường nước được duy trì ổn định (pH: 7,4 - 7,8, DO: 4 - 6ppm, nhiệt độ
nước: 29 - 31
o
C, độ mặn: 30 - 32‰…), thức ăn sử dụng là tảo Nanochloropsis sp., luân
trùng, Artemia. .Sau 35 ngày ương nuôi ấu trùng cá có thể đạt được kích thước 3,4 cm, nếu
quá trình chăm sóc tốt tốc độ tăng trưởng có thể đạt 1mm/ ng ày. Tỷ lệ sống của ấu trùng dao
động trong khoảng 20 - 25%.
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước:
Năm 2004 Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Bắc Bộ đ ã nhập cá hương nuôi
lên cá giống.
14
Năm 2005 Viện nghiên cứu Thủy sản I triển khai đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu đặc
điểm sinh học, kỹ thuật nuôi th ương phẩm và tạo đàn cá hậu bị năm loài cá biển kinh tế”
trong đó có cá chim vây vàng.
Năm 2006 Trường Cao đẳng Thủy sản đ ã nhập công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá

(1968), có những nghiên cứu tác động của việc giảm nhiệt độ tr ên một số đối tượng cá thuộc
giống Trachinotus, thấy có dấu hiệu của sự căng thẳng bắt đầu khi nhiệt đ ộ giảm xuống con
12.2
0
C. Nhiệt độ tối thiểu cho cá trong thí nghiệm l à 10
0
C, và tối đa là 38
0
C. Tuy nhiên, trong
giai đoạn cá giống nhỏ, cá có thể chịu đ ược nhiệt độ cao hơn nữa. Gilbert (1986) đ ã khẳng
định cá có thể sống đ ược ở môi trường 45
0
C [27]. Với cá chim vây vàng, trong thực tế sản
15
xuất tại các trại sản xuất nhi êt độ thích hợp cho sự phát triển của cá trong giai đoạn ấu trùng là
khoảng 22 – 28
o
C [5].
1.4.2 Độ mặn
Độ mặn ảnh hưởng đến khả năng điều h òa áp suất thẩm thấu của cá nói ri êng và thủy
sinh vật nói chung. Mỗi loài thủy sinh vật thường chỉ sống ở những giới hạn độ mặn thích
hợp. Tuy nhiên cá chẽm (Lates calcarifer) là loài rộng muối cho nên chúng có th ể sống và
sinh trưởng bình thường trong thủy vực có độ mặn dao động từ 0 – 35 ‰ và khả năng đó
thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể cá [11].
Độ mặn có ảnh hưởng đến tốc độ sinh tr ưởng của cơ thể cá. Khi độ mặn biến đổi, một
phần năng lượng tiêu tốn vào quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu. Tuy nhiên sự ảnh hưởng
này không giống nhau giữa các loài cá biển, cá chẽm khi nuôi trong các thủy vực có độ mặn
thấp sinh trưởng và phát triển nhanh hơn so với ở nơi có độ mặn cao; trong khi đó cá đối
thường sinh trưởng kém ở vùng nước ngọt và độ mặn thấp trong khi sinh tr ưởng tốt ở các
vùng nước lợ, lợ mặn và nước mặn (có thể lên tới trên 70‰)[24].

sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá.
1.5 Chuyển đổi thức ăn ở cá.
“Weaning”: Luyện ăn cho quen, đây là quá trình một động vật phụ thuộc trực tiếp
hay dán tiếp vào mẹ của nó (ví dụ túi no ãn hoàng) về thức ăn hay bảo vệ đến một thời
điểm cuối cùng. Trong nuôi tr ồng thủy sản, thuật ngữ n ày cũng được dùng liên quan đến
giai đoạn chuyển tiếp từ cho ăn thức ăn t ươi sống đến cho ăn thức ăn chế biến đối với cá
bột [7].
Trong sinh sản nhân tạo các loài cá biển thức ăn sử dụng cho giai đoạn đầu của
quá trình ương nuôi là các loài t ảo đơn bào: Nannochloropsis sp, Chlorella sp, ; luân
trùng, Copepoda; Moina; Artemia;… . Tuy nhiên, sự chuẩn bị thức ăn sống cho cá
thường không chủ động, tốn thời gian , chất lượng của thức ăn nhiều khi không đảm bảo,
chi phí cao và điều này thường thấy trong sản xuất. Hơn nữa, không một loại thức ăn
sống đơn thuần nào có thể cung cấp đầy đủ c hất dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu để vật nuôi
sinh trưởng tối đa. Việc kéo d ài thời gian sử dụng thức ăn sống cho cá con sẽ làm cho
giá cá giống trở nên đắt hơn và điều này gây bất lợi cho người sản xuất giống v à người
nuôi cá. Bởi vậy, việc sử dụng thức ăn nhân tạo để dần thay thế cho thức ăn sống ở giai
đoạn này có ý nghĩa to lớn đối với ng ười sản xuất nói ri êng và ngành nuôi nói chung vì
nó làm giảm bớt áp lực về kinh tế cho con ng ười, đồng thời nâng cao tỷ lệ sống trong
sản xuất cá giống [ 7].
Sự chuyển đổi thức ăn th ường bắt đầu khi ấu tr ùng cá hoàn chỉnh quá trình biến thái,
chuyển sang giai đoạn hậu ấu tr ùng, khi mà chức năng của dạ dày đã hoạt động, sự tiêu hóa dạ
dày đã bắt đầu. Thời điểm này cá có thể sử dụng, tiêu hóa thức ăn tổng hợp mà không có bất
cứ một trở ngại nào. Giai đoạn này lượng thức ăn sống cũng giảm dần. Thực tế l à cá càng lớn
17
thì chuyển đổi thức ăn càng dễ. Thông thường với cỡ cá 50-250 mg, thức ăn chuyển đổi có
kích cỡ 0,3 mm [ 3].
Nghiên cứu của Curnow (2005) khi th ử nghiệm hai loại thức ăn l à Gemma Micro
( Skretting, Úc) và Proton ( INVE, Bỉ) trên cá chẽm đã xác định có thể sử dụng thức ăn
tổng hợp để chuyển đổi cho ấ u trùng cá biển mà vẫn duy trì được tỷ lệ sống và tốc độ
sinh trưởng của cá [15]. Điều này đã mở ra một hướng đi mới trong lĩnh vực nghi ên cứu

mặn đến tốc độ sinh
trưởng và tỷ lệ sống
của ấu trùng cá
chim vây vàng từ
khi mới nở đến 30
ngày tuổi.
Theo dõi các thông số môi trường, các chỉ
tiêu sinh trưởng và tỷ lệ sống.
Đánh giá và kết luận
Thí nghiệm 2
Ảnh hưởng của
khẩu phần ăn đến
tốc độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống của ấu
trùng cá chim từ 30
đến 60 ngày tuổi.
19
2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm.
2.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn đến sinh tr ưởng và tỷ lệ sống
của ấu trùng cá chim vây vàng t ừ khi mới nở đến 30 ng ày tuổi.
Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm 1 .
Hình 2.2: Sơ đồ khối thí nghiệm ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi thức ăn
Bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí trong các xô nhựa có thể tích 100 L , thể tích nước ương trong
xô là 80 L.
- Nguồn nước sử dụng được lọc sạch trước khi đưa vào xô với độ mặn 33 ‰, nhiệt độ
25
0
C, pH 8,2.
- Chế độ sục khí nhẹ được duy trì trong suốt thời gian thí nghiệm .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status