nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein, lipid và vitamin d3 trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepède, 1801) giai đoạn giống - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
***************
HUỲNH THƯ THƯ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG PROTEIN,
LIPID VÀ VITAMIN D3 TRONG THỨC ĂN LÊN SINH
TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG
(Trachinotus blochii Lacepède, 1801) GIAI ĐOẠN GIỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHA TRANG, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu thu
được trong báo cáo này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nghiên cứu khoa học nào.

Nha Trang, tháng 11 năm 2012
Học viên

Huỳnh Thư Thư 2

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học cũng như luận văn tốt nghiệp này, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ nhiều tổ chức và cá nhân. Qua đây, tôi xin được
gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, tập thể cán bộ, giảng viên Khoa

Trang
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN 10
1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá chim vây vàng 10
1.1.1. Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái 10
1.1.2. Đặc điểm phân bố và sinh thái 11
1.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng 12
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng 12
1.1.5. Đặc điểm sinh sản 13
1.2. Các nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá biển và cá chim vây vàng 13
1.2.1. Protein 14
1.2.2. Lipid 16
1.2.3. Vitamin 20
1.3. Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới và Việt Nam 23
1.3.1. Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới 23
1.3.2. Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng ở Việt Nam 25
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 27
2.2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 27
2.2.2. Bố trí thí nghiệm 28
2.2.2.1. Hệ thống thí nghiệm 28
2.2.2.2. Thức ăn thí nghiệm 28
2.2.2.3. Nguồn cá giống 29
2.2.3. Bố trí thí nghiệm 30

3.3.1. Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 44
3.3.2. Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên tốc độ sinh trưởng của cá 44
3.3.3. Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên hệ số thức ăn FCR 46
3.3.4. Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên tỷ lệ sống của cá 46
CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 49
4.1. Kết luận 49
4.2. Đề xuất ý kiến 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 61

5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Khẩu phần thức ăn cho cá chim vây vàng 12
Bảng 2.1. Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 1 30
Bảng 2. Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 2 30
Bảng 3. Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 3 31
Bảng 3.1. Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 34
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của protein lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và FCR của cá 70
Bảng 3.3. Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 39
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của lipid lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và FCR của cá 70
Bảng 3.5. Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 44
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của protein lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và FCR của cá 70

6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Đặc điểm hình thái của cá chim vây vàng 10

45
Hình 3.13. Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên khối lượng cuối của cá (We) 45
Hình 3.14. Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên hệ số FCR của cá 46
Hình 3.15. Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên tỷ lệ sống của cá 46
7

DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

DHA: Docosahexaenoic acid
EPA: Eicosapentaenoic acid
FCR: Hệ số thức ăn
IU: Đơn vị quốc tế
SE: Sai số chuẩn
SGR: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng
TB: Trung bình
TLS: Tỷ lệ sống
TN: Thí nghiệm
We: Khối lượng cuối (khối lượng cá khi kết thúc thí nghiệm)
Ws: Khối lượng ban đầu (khối lượng cá khi bắt đầu thí nghiệm)
Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Mỹ, Singapore với giá 5 – 7 USD/kg.
Cá chim vây vàng được sản xuất giống đầu tiên tại Đài Loan vào năm 1989
[89], sau đó công nghệ sản xuất giống lan rộng ra nhiều nước như Trung Quốc,
Indonesia và Việt Nam. Hiện nay, chúng ta đã tiến hành cho sinh sản nhân tạo thành
công cá chim vây vàng [3]. Tuy nhiên, đây là một đối tượng mới, chưa được nghiên
cứu nhiều, đặc biệt là dinh dưỡng cho cá ở giai đoạn giống. Trong khi đó, dinh
dưỡng ở giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá.
Chính vì vậy, việc xác định nhu cầu dinh dưỡng trong giai đoạn giống của cá chim
vây vàng làm cơ sở để sản xuất thức ăn tổng hợp có ý nghĩa thực tiễn cao. Trên thế
giới, một vài công trình nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng có trong thức ăn cho cá
chim được thực hiện, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về hàm lượng vitamin D3
trong thức ăn được công bố.
Hiện nay, chưa có thức ăn công nghiệp dùng riêng cho đối tượng nuôi này.
Người nuôi cá chim thường dùng thức ăn của các loại cá khác như: cá chẽm, cá giò
hay sử dụng cá tạp làm nguồn thức ăn chính. Cá tạp là nguồn thức ăn tương đối sẵn
có ở địa phương. Tuy nhiên, nguồn thức ăn này có thể trở nên khan hiếm và đắt đỏ
vào những ngày biển động. Bên cạnh đó, kỹ thuật cho ăn và chăm sóc quản lý kém
cũng có thể làm cho một lượng lớn thức ăn bị thất thoát và kéo theo đó nó có thể

9

gây ra các vấn đề về ô nhiễm nghiêm trọng cho vùng nước. Vì vậy, việc nghiên cứu
nhu cầu dinh dưỡng của cá chim để làm cơ sở cho việc sản xuất thức ăn công
nghiệp là cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên và được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng
Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của hàm lượng protein, lipid, vitamin D3 trong thức ăn lên sinh trưởng và
tỷ lệ sống của cá chim vây vàng Trachinotus blochii (Lacepède, 1801) giai đoạn
giống” nhằm cung cấp thêm thông tin về nhu cầu dinh dưỡng của cá chim cũng như
cơ sở cho việc sản xuất thức ăn công nghiệp cho loài cá này.

loại như sau [72]:
Ngành: Chordata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Carangidae
Giống: Trachinotus
Loài:(Trachinotus blochii Lacepède, 1801) Hình 1.1: Đặc điểm hình thái của cá chim vây vàng
Nguồn: http://eol.org/pages/212401/overview
Tên tiếng Việt: Cá chim vây vàng, cá song mũi hếch,…
Tên tiếng Anh: Snubnose pompano
Đặc điểm hình thái:
Khi còn nhỏ, cá chim vây vàng có dạng hình trứng, khi trưởng thành cơ thể
hình bầu dục và dẹp, mõm rộng tròn. Hai hàm với dải răng cưa nhỏ; lưỡi không
răng. Trên đường bên vẩy sắp xếp thành hàng có khoảng 135 – 136 cái, chiều dài
so với chiều cao 1,6 – 1,7 lần [13].
Đầu cá nhỏ, chiều cao của đầu lớn hơn chiều dài đầu. Cuống đuôi ngắn và
dẹp. Chiều dài của đầu so với môi 5,1 – 6,2 lần, so với đường kính mắt 3,9 – 4,3 lần.

11

Hốc mắt hẹp phía trước, màng mỡ mắt không phát triển. Miệng tù và chếch, xương


Hình 1.2 : Bản đồ phân bố của cá chim vây vàng trên thế giới
Nguồn: http://www.discoverlife.org/

12

1.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá chim vây vàng ăn tạp thiên về động vật, cường độ bắt mồi của cá mạnh,
đặc biệt là lúc chiều tối. Cá mới nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng [13]. Giai đoạn
nhỏ thức ăn chủ yếu là động vật phù du như luân trùng, Copepoda, khi cá lớn hơn
bắt đầu ăn được các loài tôm, cá nhỏ và mảnh vụn hữu cơ. Thức ăn ưa thích của cá
trưởng thành ngoài tự nhiên là các loài động vật không xương sống như: động vật
thân mềm và giáp xác [30, 42].
Trong điều kiện nuôi, ở giai đoạn cá con, ngoài sinh vật phù du (tảo, luân trùng
và ấu trùng Artemia), người ta còn sử dụng các loại thức ăn tổng hợp để ương nuôi cá.
Giai đoạn nuôi thương phẩm, các loại thức ăn tổng hợp và cá tạp được sử dụng chủ yếu
tùy theo điều kiện từng vùng nuôi. Chế độ cho ăn trong quá trình ương cá chim vây
vàng được cho ở bảng 1.1 [3].
Bảng 1.1. Khẩu phần thức ăn cho cá chim vây vàng
Ngày tuổi

Loại thức ăn Số lần cho ăn
(lần/ngày)
Mật độ
thức ăn
1 – 17 Tảo 2 20 – 25 L/m
3

2 Luân trùng 1 5 – 10 con/L
3 – 17 Luân trùng 2 – 4 10 – 20 con/L

[29, 31].
1.1.5. Đặc điểm sinh sản
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của cá chim vây vàng ngoài tự
nhiên còn nhiều hạn chế. Mùa vụ và bãi đẻ được xác định dựa vào thời gian và địa
điểm thu ấu trùng. Ở các vùng biển phía Đông và Nam nước Mỹ, mùa vụ sinh sản
từ tháng 2 đến tháng 9 [29]. Ở các vùng nhiệt đới mùa vụ sinh sản có thể diễn ra
quanh năm [14]. Ở Trung Quốc, mùa vụ sinh sản của cá chim vây vàng diễn ra từ
tháng 4 đến tháng 9, trong khi tại Đài Loan có thể kéo dài đến tháng 10 [45]. Ấu
trùng có thể thu được ở gần bờ hoặc ngoài khơi xa, thường ở những vùng cách bờ
hơn 24 km [29, 30]. Quá trình sinh sản của cá chim vây vàng không tuân theo chu
kỳ trăng hàng tháng như nhiều loài cá khác. Tuổi và kích thước thành thục lần đầu
của cá chim vây vàng ngoài tự nhiên tương đối lớn, cá thành thục ở tuổi 7
+
- 8
+
. Tuy
nhiên, cá có thể thành thục ở tuổi 3
+
trong điều kiện nuôi khi đạt khối lượng 1,8 -
2,5 kg [45].
So với nhiều loài cá biển khác như cá mú, cá chẽm, cá măng, cá chim Florida,
sức sinh sản của cá chim vây vàng thấp hơn. Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối
của cá chim vây vàng thường dao động từ 0,4 – 0,6 triệu trứng/cá cái và 888 – 131
trứng/g cá cái. Khi kích thích sinh sản bằng hormone, số lượng trứng đẻ lần đầu có
thể chiếm 60 - 70% lượng trứng trong buồng trứng. Trứng của cá chim vây vàng là
loại trứng nổi, sau khi được thụ tinh, trứng sẽ nổi trong môi trường nước nhờ giọt
dầu. Đường kính trứng sau khi trương nước khoảng 0,80 – 0,85 mm. Những trứng
không được thụ tinh sẽ chìm xuống đáy và chết. Trong sinh sản nhân tạo, sức sinh
sản tương đối có thể dao động từ 880 – 131 trứng/g cá cái.
1.2. Các nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá biển và cá chim vây vàng

để duy trì các chức năng sống tối thiểu để tồn tại. Trái lại, nếu thức ăn được cung
cấp quá nhiều protein thì protein dư không được cơ thể hấp thụ để tổng hợp protein
mới mà sử dụng để chuyển hóa thành năng lượng hoặc thải ra ngoài. Hơn nữa, cơ
thể còn phải tốn năng lượng cho quá trình tiêu hóa protein dư thừa, vì thế sinh
trưởng của cơ thể giảm [4].
Nhu cầu protein của cá giai đoạn giống cao hơn so với cá ở giai đoạn trưởng
thành, đối với các loài cá khác nhau thì nhu cầu protein trong thức ăn cũng khác

15

nhau. Thông thường những loài cá dữ có nhu cầu protein cao hơn những loài cá
hiền, cá hanh đỏ (Chrysophrys major) và cá bơn sao (Pleuronectes platessa) 50 -
55%, cá mú chuột (Cromileptes altivelis) và cá vược mõm rộng (Micropterus
salmoides) 40 – 45%, trong khi, cá nheo (Lactalurus punctatus) chỉ từ 32 – 36 %,…
[88].
Nhu cầu protein ở cá có sự thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển với xu
hướng chung là giai đoạn còn non và thành thục sinh dục nhu cầu cao hơn liên quan
đến việc xây dựng cấu trúc các cơ quan trong cơ thể cũng như tạo các sản phẩm
sinh dục [4]. Hàm lượng protein trong thức ăn của cá chim Florida thương phẩm
thường ở mức 40% [79] trong khi giai đoạn giống thường tối thiểu 45% [50].
Nghiên cứu về ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trên cá chim vây vàng (T.
ovatus) giai đoạn giống, Wang và CTV [84] nhận thấy, tốc độ sinh trưởng của cá tỷ
lệ thuận với sự gia tăng của hàm lượng protein trong thức ăn (33, 37, 41, 45 và 49%)
ở cùng một hàm lượng lipid (6,5 hoặc 12,5%) nhưng lại thấp hơn ở hàm lượng lipid
cao hơn. Hàm lượng protein trong thức ăn từ 45 và 49% cho tốc độ sinh trưởng cao
hơn và hệ số FCR thấp hơn so với hàm lượng protein 33, 37 và 41%. Hiệu quả sử
dụng thức ăn cũng cao hơn khi gia tăng hàm lượng protein từ 33 đến 41%. Nghiên
cứu cũng chỉ ra rằng, hàm lượng protein và lipid thích hợp ở cá chim vây vàng là 45
– 49% và lipid 6,5%.
Khả năng tiêu hóa protein:

sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn cao hơn trong ương cá giò giống [54].
Thiếu hụt các axít amin thiết yếu trong khẩu phần ăn làm giảm tốc độ sinh trưởng,
chuyển giai đoạn, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm sức đề kháng, gây dị hình
xương sống, đục thủy tinh thể,… ở nhiều loài cá [19, 48, 64, 68].
1.2.2. Lipid
Vai trò của lipid:
Lipid có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể sinh vật nói chung và cá nói
riêng. Lipid là nguồn cung cấp năng lượng tốt nhất cho động vật thủy sản. Lipid có
khả năng chia sẻ vai trò năng lượng và chuyển hóa với các thành phần protein và
carbohydrate đã được chứng minh trên nhiều loài cá. Do đó, khi bổ sung lượng lipid
thích hợp sẽ giảm nhu cầu protein ở cá. Triglyceride là thành phần chủ yếu của lipid
cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của động vật thủy sản tồn tại dưới dạng
glycogen và mỡ dự trữ trong gan, cơ và mô mỡ [4].
Lipid còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình cấu tạo và hoạt hóa các
enzyme, đặc biệt là thành phần phospholipid. Phosphatidyl choline có khả năng hoạt

17

hóa enzyme glucose 6 phosphatase và adenogentriphosphatase. Ngoài ra, lipid là thành
phần chính của nhiều hormone steroid. Lipid tham gia vào quá trình cấu trúc màng tế
bào, đặc biệt là lipid phân cực hay phospholipids. Cấu trúc màng tế bào 2 lớp, đầu ưa
nước và kỵ nước, cùng với những phân tử protein xuyên màng, đóng vai trò quan trọng
trong việc vận chuyển các chất qua màng tế bào [4].
Ngoài ra, lipid còn hỗ trợ hấp thu các lipid khác và vận chuyển vitamin.
Phospholipids giữ vai trò quan trọng trong sự vận chuyển và hấp thụ lipid và tham
gia vào các quá trình chuyển hóa chất dinh dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật.
Phospholipid đóng vai trò như chất nhũ tương hóa giúp các acid béo, muối mật và
các chất hòa tan trong chất béo được hấp thu một cách dễ dàng. Lipid còn là dung
môi hòa tan các vitamin tan trong dầu như: A, D, E, K và hydrocarbon. Do đó,
trong khi hấp thu và vận chuyển trong cơ thể, lipid cũng mang theo các chất hòa tan

các loài cá biển khác được thực hiện khá đầy đủ, đặc biệt là cá giò. Nhiều nghiên
cứu trên loài cá này cho thấy, hàm lượng lipid 10 hay 15% cho tốc độ sinh trưởng,
phát triển và tỷ lệ sống cao hơn so với mức lipid 5, 20 hay 25% [41, 85]. Tuy nhiên,
Chou và CTV. [21] lại không thấy được sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng và hệ số
chuyển đổi thức ăn khi cho cá giò ăn với các mức lipid 6, 9, 15 và 18%. Nguồn lipid
khác nhau cũng ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá giò, trong
đó, nguồn lipid từ dầu colza cho tốc độ sinh trưởng thấp hơn so với nguồn lipid từ
mỡ lợn, dầu bắp, dầu đậu nành và dàu gan cá. Hơn nữa, cá được cho ăn lipid từ
nguồn dầu cá hay dầu đậu nành cho hiệu quả sử dụng thức ăn, đặc biệt là protein
cao hơn so với các nguồn lipid còn lại [41]. Hàm lượng lipid bổ sung trong thức ăn
có tương quan với các thành phần dinh dưỡng khác, đặc biệt là carbohydrate và
protein. Theo Craig [23] tỷ lệ thích hợp lipid và cacbonhydrate trong khẩu phần
thức ăn của cá giò là 3 và 36%. Trong đó, tỷ lệ 8% lipid và 0% cacbonhydrate làm
giảm tốc độ sinh trưởng cũng như hệ số chuyển đổi thức ăn của cá giò giống. Tương
tự, Ducan và CTV. [28] cũng nhận thấy rằng, tỷ lệ protein và lipid tối ưu cho sinh
trưởng của cá giò giống là 47 và 8%.
Khả năng tiêu hóa lipid:
So với các thành phần khác trong thức ăn như protein và carbohydrate, thành
phần lipid trong thức ăn có khả năng tiêu hóa được 85 – 90% [4]. Khả năng tiêu hóa
lipid của cá được thể hiện ngay từ khi bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, đặc biệt là nguồn
thức ăn sống. Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ, các enzyme sẵn có trong thức ăn sống (tảo,
luân trùng, Copepda, Artemia,… ) chính là nhân tố giúp cho cá có khả năng tiêu hóa
được nguồn lipid ngay từ khi bắt ăn thức ăn ngoài. Các nghiên cứu trên cá tráp vàng

19

cho thấy, hệ tiêu hóa của loài cá này ở giai đoạn 45 ngày tuổi hoàn thiện hơn so với
21 ngày tuổi với sự hiện diện của tuyến chức năng trong dạ dày. Khi cho cá ăn luân
trùng làm giàu EPA hoặc DHA, hoạt tính của enzyme lipase tăng mạnh hơn so với
luân trùng không làm giàu. Ngoài ra, khả năng tiêu hóa lipid của cá còn phụ thuộc

kèn sọc [47, 78]. Ngoài ra, các loại axít béo không no có trong thức ăn sống còn góp
phần quan trọng trong việc cung cấp enzyme, hình thành và hoàn thiện ống tiêu hóa
ở cá chẽm… [15].
1.2.3. Vitamin
Vai trò của vitamin:
Vitamin là những chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau, cơ thể động
vật có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển
bình thường. Do đó về mặt số lượng, vitamin không phải là một hợp phần quan
trọng của cơ thể như protein, lipid, carbohydrate mà nó có vai trò như là chất bổ
dưỡng, giữ gìn sức khỏe cho động vật. Hầu hết các vitamin có vai trò như một co -
enzyme hoặc các tác nhân hỗ trợ các enzyme, tác nhân ôxy hóa,… thực hiện các
phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Việc xác định nhu cầu vitamin ở cá cũng giống như
các động vật khác thường là rất khó vì nhu cầu vitamin phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: tập tính dinh dưỡng, khả năng sinh tổng hợp vitamin của vi sinh vật sống trong
ống tiêu hóa của cá, điều kiện nuôi dưỡng, điều kiện sinh lý…
Vitamin được chia thành 2 nhóm dựa trên khả năng hòa tan của chúng là:
Vitamin tan trong nước: vitamin nhóm B, vitamin C, choline và Inositol. Các
vitamin nhóm này thường tham gia trong thành phần cấu tạo của các Coenzyme
khác nhau và các vitamin tan trong chất béo: vitamin A, D, E, K. Các vitamin tan
trong nước có vai trò rất quan trọng đối với quá trình trao đổi chất ở động vật thủy
sản (nhóm B), tham gia vào quá trình oxy hoá glucose, chất béo và các axít amin,…
để tạo năng lượng cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cơ thể. Do đó,
vitamin nhóm B rất cần cho quá trình tiêu hoá, cho sinh trưởng và sinh sản và hoạt
động bình thường của tế bào thần kinh. Thiếu hụt vitamin này là nguyên nhân gây
bệnh xuất huyết, lở loét ở cá, sắc tố không bình thường. Trong khi đó, vitamin C lại
có vai trò quan trọng trong quá trình hydroxyl hoá các axít amin. Thiếu vitamin C là
nguyên nhân gây bệnh xuất huyết ở cá, dị hình xương, hình thành sắc tố không bình
thường, chậm lành vết thương, giảm sức đề kháng của cá trước những biến đổi bất
lợi của môi trường,… Sự thiếu hụt các vitamin khác cũng gây ra những rối loạn
trong hoạt động sinh lý của cơ thể cá.

bệnh lý như tăng trưởng chậm, lượng mỡ trong gan tăng lên, sự thiếu hụt canxi sẽ
gây nên hiện tượng co giật ở cá. Đối với cá da trơn khi thức ăn thiếu vitamin D thì
hàm lượng canxi và phospho trong máu và trong thân giảm xuống dẫn đến tình
trạng huy động canxi và phospho dự trữ ở xương và mô gây nên hiện tượng cá tăng
trưởng chậm. Ngược lại, khi hàm lượng vitamin D trong thức ăn vượt quá nhu cầu,
dẫn đến hàm lượng canxi và số lượng hồng cầu trong máu tăng lên, tuy nhiên không
ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá.
Nhu cầu vitamin D ở cá thay đổi theo loài và môi trường sống, đáng chú ý là
yếu tố độ mặn. Ở cá biển có nhu cầu vitamin dao động trong khoảng 1000 IU/1kg
thức ăn khô, cá nước ngọt 900 IU/1kg thức ăn. Nguồn nguyên liệu giàu vitamin D
là dầu cá, mỡ cá, dầu mực.

22

Vai trò của vitamin D3
Vitamin D3 được hấp thụ vào máu đến gan, sau đó chúng bị thủy phân để tạo
thành 25 - hydroxy cholecalciferol (25(OH) - vitamin D3) ở gan, 1,25 (OH)
2
-
vitamin D3 hoặc 24, 25 (OH)
2
- vitamin D3 ở thận. Sản phẩm thủy phân 1,25 (OH)
2

- vitamin D3 có hoạt tính mạnh nhất, nó kích thích thành ruột tiết ra một loại protein
vận chuyển. Nhờ protein này, các ion canxi và phốt pho được hấp thụ vào máu, sau
đó, được chuyển vào xương. Hoạt tính sinh học của vitamin D3 gấp 3 lần vitamin
D2 khi nghiên cứu trên các loài cá hồi và cá da trơn ở Mỹ [8]. Vitamin D3 có nhiều
trong dầu cá, đặc biệt là dầu cá tuyết (2 - 10 μg/g), gan động vật, dầu và bột cá [5].
Chức năng sinh hóa của vitamin D3 là thúc đẩy sự hấp thụ canxi và phốt pho

loài cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) được nuôi nhiều ở các nước như Đài
Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Malaysia, Singapore và Việt Nam [1, 89].
Cá chim vây vàng được nuôi bằng nhiều hình thức như nuôi lồng, ao đất.
Nhiều nghiên cứu về nuôi thương phẩm các loài cá chim thuộc giống Trachinotus
đã được công bố. Ở Mỹ cá chim Trachinotus carolinus được nuôi từ năm 1952
trong ao đất với năng suất 270 - 438kg/ha. Thức ăn cho cá chủ yếu là cá tạp [24, 86].
McMaster [56] thí nghiệm nuôi cá chim vây vàng ở độ mặn 19‰ bằng thức ăn công
nghiệp (protein 43% và lipid 10%), cá đạt 110 g/con sau 4 tháng nuôi từ cỡ 10
g/con. Lazo và CTV. [50] đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein từ 30 –
45% lên sinh trưởng của cá chim Trachinotus carolinus cho thấy hàm lượng protein
thích hợp trong thức ăn cho cá chim là 45%. Tương tự, nghiên cứu của Tatum [79]
cũng cho rằng hàm lượng protein tối thiểu cho cá chim Trachinotus ovatus sinh
trưởng nhanh nhất là 45%.
Cá chim vây vàng là đối tượng nuôi chính ở Singapore với nguồn giống được
nhập từ Đài Loan, thức ăn cho cá chủ yếu vẫn là cá tạp. Chou và Lee [20] thí
nghiệm nuôi cá chim Trachinotus goodie (15 g/con) bằng thức ăn công nghiệp
(protein 50%) và cá tạp trong lồng. Sau 5 tháng nuôi, cá đạt cỡ 300 g/con khi cho ăn
thức ăn công nghiệp và 260 g/con khi cho ăn cá tạp, tỷ lệ sống từ 83 - 90%. Lan và
CTV. [49] đã thử nghiệm ương giống cá chim vây vàng cỡ 4,9 – 6,7 g/con trong
lồng với mật độ 222 con/m
3
, cho ăn thức ăn công nghiệp (protein 47% và lipid
15%), sau 30 ngày ương cá đạt cỡ 14,4 – 26,5 g, tỷ lệ sống 90%, năng suất 2,8 – 5,3
kg cá giống/m
3
, hệ số FCR từ 0,89 – 1,86. Ở giai đoạn tiếp theo (19 – 26 g/con), cá
được cho ăn thức ăn công nghiệp (protein 43% và lipid 12%), mật độ 96 con/m
3
,
sau 146 ngày nuôi đạt cỡ từ 577 – 640 g, tỷ lệ sống 99,2 – 99,5%, năng suất đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status