Ảnh hưởng của mật độ nuôi, loại thức ăn, khẩu phần và chế độ cho ăn lên sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede,1801) giống (24 cm) ương bằng giai đặt tron - Pdf 22

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu trong luận văn
hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

Thân Thị Hằng
ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Phòng
Đào tạo Đại học và Sau Đại học, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Trường Đại
học Nha Trang đã quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi làm việc trong suốt
thời gian học tập và nghiên cứu.
Xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô của trường Đại học Nha Trang đã trang bị
cho tôi những kiến thức quý báu.
Tôi xin cảm ơn PGS.TS. Đỗ Thị Hòa, người đã dìu dắt tôi trên con đường nghiên
cứu khoa học và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và viết
luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này.

iii
MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii

2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài: 19
2.3. Nguyên vật liệu dùng nghiên cứu 19
iv
2.4. Bố trí các thí nghiệm sinh học 21
2.4.1. Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và
mức độ phân đàn của cá chim vây vàng giai đoạn giống 3 - 4 cm 21
2.4.2.Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của loại thức ăn và khẩu phần lên sinh trưởng,
tỷ lệ sống và mức độ phân đàn của cá chim vây vàng giống cỡ 2 - 3 cm 22
2.4.3. Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và
mức độ phân đàn của cá chim vây vàng giai đoạn giống 3 - 4 cm 23
2.5. Thu thập và phân tích số liệu 24
2.5.1. Công thức tính các chỉ tiêu về sinh trưởng 24
2.5.2. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 25
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
3.1. Ảnh hưởng của mật độ ương trong giai lên sinh trưởng, tỷ lệ sống, hệ số phân
đàn và hệ số tiêu tốn thức ăn của cá chim vây vàng giống (giai đoạn từ 3 - 4 cm) 26
3.1.1. Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá CVV 26
3.1.2. Ảnh hưởng của mật độ ương cá CVV bằng giai trong ao đất lên tỷ lệ sống,
năng suất và hệ số tiêu tốn thức ăn 29
3.2. Ảnh hưởng của loại thức ăn và khẩu phần ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống, năng
suất và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá chim vây vàng giống cỡ 2 - 3 cm 31
3.2.1. Ảnh hưởng của loại thức ăn và khẩu phần ăn lên sinh trưởng và hệ số phân
đàn của cá CVV 31
3.2.2. Ảnh hưởng của loại thức ăn và khẩu phần ăn lên tỷ lệ sống, năng suất và hệ
số tiêu tốn thức ăn của cá CVV giống 35
3.3. Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng, hệ số phân đàn, tỷ lệ sống,
năng suất và hệ số tiêu tốn thức ăn của cá chim vây vàng giống (cỡ 3,0 – 4,0 cm) ương
bằng giai trong ao đất 38
3.3.1. Ảnh hưởng của cách cho ăn lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá CVV cỡ
3,0 – 4,0 cm, ương bằng giai trong ao đất 38

các mức khẩu phần ăn khác nhau trong 4 tuần thí nghiệm 32
Hình 3.7: Sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng ương bằng giai trong ao đất ở
các mức khẩu phần ăn khác nhau trong 4 tuần thí nghiệm 32
Hình 3.8: Sinh trưởng khối lượng của cá chim vây vàng ương bằng giai trong ao đất ở
các loại thức ăn khác nhau trong 4 tuần thí nghiệm 34
Hình 3.9: Sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng ương bằng giai trong ao đất ở
các loại thức ăn khác nhau trong 4 tuần thí nghiệm 35
Hình 3.10: Tỷ lệ sống của cá chim vây vàng ương bằng giai trong ao đất ở các loại
thức ăn và khẩu phần khác nhau trong 4 tuần thí nghiệm 37
Hình 3.11: Năng suất của cá chim vây vàng ương bằng giai trong ao đất ở các mức
khẩu phần ăn khác nhau trong 4 tuần thí nghiệm 37

vi
Hình 3.12: Sinh trưởng khối lượng của cá thí nghiệm ở các chế độ cho ăn khác nhau
(2, 4 và 6 lần/ngày) trong 4 tuần nuôi 40
Hình 3.13: Sinh trưởng về chiều dài thân của cá thí nghiệm ở các chế độ cho ăn khác
nhau (2, 4 và 6 lần/ngày) trong 4 lần nuôi 41
Hình 3.14: Hệ số phân đàn theo chiều dài (CV
L
%) của cá chim vây vàng khi ương
trong giai ở các chế độ cho ăn khác nhau (2, 4 và 6 lần/ngày) trong 4 tuần
nuôi 41
Hình 3.15: Tỷ lệ sống của cá chim vây vàng khi ương trong giai ở các chế độ cho ăn
khác nhau (2, 4 và 6 lần/ngày) trong 4 tuần nuôi 42
Hình 3.16: Năng suất nuôi của cá chim vây vàng khi ương trong giai ở các chế độ cho
ăn khác nhau (2, 4 và 6 lần/ngày) trong 4 tuần nuôi 43 vii


: hệ số phân đàn chiều dài
DFC: lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày
FCR: Feed Conversion Ratio
(hệ số tiêu tốn thức ăn)
CVV: chim vây vàng
UP: thức ăn tôm up
Inve: thức ăn inve
TL: chiều dài toàn thân
FAO: Food Agricultural Organization
(Tổ chức Nông lương Thế giới)
SGR: Specific Growth Rate
(tốc độ sinh trưởng đặc trưng ngày)

SR: tỷ lệ sống
TB: trung bình
SE: sai số chuẩn
ppt: phần ngàn
ppm: phần triệu
CTV: cộng tác viên
1

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản đã đóng góp một vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Và thực tế đã được FAO đánh giá là
một trong những hoạt động hiệu quả nhất trong công cuộc xoá đói giảm nghèo tại Việt
Nam. Chính phủ Việt Nam đặt chỉ tiêu phấn đấu cho năm 2010 là sản xuất được

các nhà khoa học đặt ra, nhằm đảm bảo tỷ lệ sống cao và chất lượng con giống tốt
cung cấp cho thị trường nuôi cá biển thương phẩm. Ngoài ra, nghiên cứu tìm ra mật độ
ương nuôi, loại thức ăn, khẩu phần cho ăn và cách cho ăn thích hợp cho các giai đoạn
ương giống này cũng là các nội dung rất cần thiết.
Xuất phát từ tình hình thực tế đã nêu ra ở trên và để hoàn thành chương trình đào
tạo thạc sỹ ngành nuôi trồng thủy sản, tôi đã nhận được quyết định phân công thực
hiện đề tài luận văn tốt nghiệp với tiêu đề: “Ảnh hưởng của mật độ nuôi, loại thức
ăn, khẩu phần và chế độ cho ăn lên sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của cá
chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) giống (2-4 cm) ương bằng
giai đặt trong ao đất”.
Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu này góp phần cung cấp thông tin mới cho những
nghiên cứu phát triển công nghệ ương cá biển bằng giai đặt trong ao đất.
Mục tiêu của đề tài: xác định sự ảnh hưởng của mật độ ương nuôi, loại thức ăn,
khẩu phần và cách cho ăn lên kết quả ương giống cá chim vây vàng bằng giai đặt trong
ao đất.
Để thực hiện mục tiêu của nghiên cứu này, đề tài thực hiện các nội dụng sau:
1. Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và mức độ phân đàn của
cá ương.
2. Ảnh hưởng của loại thức ăn và khẩu phần lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả
sử dụng thức ăn của cá chim vây vàng ương.
3. Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và mức độ phân đàn của
cá chim vây vàng giống.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong bố trí thí nghiệm, xử lý, phân tích số liệu và
viết luận văn, nhưng báo cáo này không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy, tác giả
luận văn mong muốn nhận được sự góp ý của các thầy cô và đồng nghiệp để luận văn
được hoàn thiện.
3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU


4

đạt giá trị 147,5 và 82,7 tỷ yên. Trong đó cá cam là đối tượng nuôi truyền thống ở
Nhật Bản, trước đây nguồn giống chủ yếu lấy từ tự nhiên và cho ăn bằng cá tạp, nhưng
nay đã được thay thế dần bằng nguồn giống nhân tạo và cho ăn bằng thức ăn tổng hợp.
Gần đây, một đối tượng cá có giá trị kinh tế cao là cá ngừ vây xanh Thunnus thynnus,
một đối tượng đang được quan tâm nghiên cứu phát triển nuôi tại Nhật Bản với quy
mô lớn [36].
Trung Quốc là nước có sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đứng đầu thế giới, sản
lượng cá biển năm 2000 là 426.957 tấn, chiếm 4 % tổng sản lượng thuỷ sản nuôi của
thế giới [42]. Kỹ thuật sản xuất giống cá biển nhân tạo ở Trung Quốc bắt đầu từ những
năm 1950 và phát triển mạnh vào những năm 1980. Tính đến năm 2000, Trung Quốc
đã sản xuất thành công con giống nhân tạo của 54 loài thuộc 24 họ cá biển với số
lượng lớn đáp ứng cho nhu cầu nuôi thương phẩm. Số lượng sản xuất hàng năm
khoảng 10 tỷ con giống cá biển các loại và tập trung chủ yếu vào các loài có giá trị
kinh tế như cá mú (Epinephelus spp), cá hồng (Lutjanus spp), yellowfin puffer
(Takifugu xanthopterus), large yellow croaker (Pseudosciaena crocea), Japanese sea
perch (Lateolabrax japonicus), Japanese flounder (Paralichthys olivaceus) cá đù đỏ
(Sciaenops ocellatus), cá tráp đỏ (Pagrus major), cá chẽm (Lates calcarifer), cá đối
(Mugil cephalus), cá măng (Chanos chanos) [19].
Nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Đài Loan xuất hiện cách đây trên 300 năm, tuy nhiên
công nghiệp sản xuất giống cá biển ở đây chỉ thực sự phát triển trong khoảng trên 30
năm trở về trước, đặc biệt là vào những năm 1990, nguồn giống cá biển sản xuất nhân
tạo không những cung cấp đủ cho nhu cầu nuôi trong nước mà còn xuất khẩu sang các
nước khác trong khu vực. Tính đến năm 1998, có khoảng 64 loài cá biển được nuôi ở
Đài Loan, trong đó 90 % số loài đã được sản xuất giống nhân tạo thành công với số
lượng 642.558.000 con giống với 604 trại sản xuất. Trong đó, nhóm cá mú
(Epinephelus spp) có 2.338.000 con, nhóm cá hồng (Lutjanus spp) 48.600.000 con, cá
đù đỏ (Sciaenops ocellatus) 30.000.000 con, nhóm cá tráp (Acanthopagrus spp,
Pagrus major, Sparus sarba) 26.500.000 con, cá chẽm (Lates calcarifer) 10.000.000

nhiều nước trên thế giới, vì chúng có giá trị kinh tế cao và nguồn giống cung cấp khá
chủ động, ví dụ loài Trachinotus carolinus được nuôi nhiều ở các nước Bắc Trung Mỹ,
đặc biệt là ở Mỹ [27]; loài Trachinotus ovatus được nuôi bằng nhiều hình thức như
nuôi lồng, ao đất. Nhiều nghiên cứu về nuôi thương phẩm các loài cá chim thuộc giống
Trachinotus đã được công bố. Ở Mỹ cá chim Trachinotus carolinus được nuôi từ năm
1952 trong ao đất với năng suất 270-438 kg/ha, trong 133 ngày nuôi. Thức ăn để nuôi
cá này chủ yếu là cá tạp tự đánh bắt. Lazo và cộng sự (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng
của hàm lượng protein từ 35-45 % lên sinh trưởng của cá chim Trachinotus carolinus
6

cho thấy hàm lượng protein thích hợp trong thức ăn cho cá chim là 45 % [23]. Tương
tự, nghiên cứu của Tatuman & cộng sự (2004) cũng cho rằng hàm lượng protein tối
thiểu cho cá chim Trachinotus carolinus sinh trưởng nhanh nhất là 45 % [37].
Theo Chou (1997), cá chim vây vàng là đối tượng nuôi chính ở Singapore với
nguồn cá bột được nhập từ Đài Loan và thức ăn cho cá chim vây vàng chủ yếu vẫn là
cá tạp. Thouard (1989) thí nghiệm nuôi loài cá chim Trachinotus goodie bằng lồng ở
Pháp bằng thức ăn công nghiệp và cá tạp. Cỡ cá thả 15 g, thức ăn công nghiệp với hàm
lượng đạm 50 % đã được sử dụng trong thí nghiệm này để nuôi cá sau 5 tháng, khối
lượng cá nuôi đã đạt 300 g/con, trong khi lồng cá nuôi bằng cá tạp chỉ đạt khối lượng
260 g/con và tỷ lệ sống từ 83-90 % [12, 38].
Pin Lan (2007) & ctv đã thử nghiệm ương giống loài cá chim vây vàng cỡ 4,9-
6,7 g, bằng lồng trên biển với mật độ 222 con/m
3
, với thức ăn công nghiệp dạng viên
có hàm lượng protein 47 % và lipid 15 %, sau 30 ngày ương cá đạt cỡ 14,4-26,5 g, tỷ
lệ sống 90 %, năng suất 2,8-5,3 kg cá giống/m
3
, hệ số FCR từ 0,89-1,86; sau đó các tác
giả này lại thử nghiệm nuôi thương phẩm với cỡ giống 19-26 g và cá được thả nuôi
trong các lồng có thể tích 100 m

Batam đã tuyển chọn được đàn cá bố mẹ và nuôi vỗ bằng lồng với tỷ lệ đực : cái là
1:1, thức ăn sử dụng là cá tạp kết hợp với mực và thức ăn công nghiệp có bổ sung
vitamin E, C, B, cho ăn từ 3-5 % khối lượng thân. Hiện nay các nhà khoa học này
đã cho sinh sản nhân tạo thành công bằng cách tiêm kích dục tố HCG 250 IU kết hợp
với Fibrogen 50 IU, tỷ lệ nở của trứng đạt từ 60-70 %. Ấu trùng được đưa vào ương
trong các bể xi măng có thể tích 10 m
3
với mật độ từ 10-15 ấu trùng/L, thức ăn sử
dụng là tảo đơn bào (Nannochloropsis sp), luân trùng, nauplius của artemia và thức ăn
tổng hợp. Sau 35 ngày ương, cá nuôi đã đạt cỡ 3,0-3,5 cm, tỷ lệ sống từ 20-25 % và
vấn đề khó khăn hiện nay của nhóm tác giả này là mật độ ương thấp và tỷ lệ dị hình ở
cá giống vẫn cao (5 %) [21].
1.1.2. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển ở Việt Nam
Ở nước ta, nuôi trồng thủy sản đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và
đã được FAO đánh giá là một trong những hoạt động hiệu quả giúp xóa đói giảm
nghèo. Năm 2005, sản lượng nuôi trồng thủy sản cả nước đạt 1.437.350 tấn, chủ yếu là
cá nước ngọt và tôm nước lợ, trong đó sản lượng cá biển và cá ước lợ chỉ là : 57.739
tấn. Mặc dù vậy, Việt Nam là một quốc gia có điều kện rất thuận lợi để phát triển nghề
nuôi cá biển như; có nhiều loài cá nước lợ, mặn phân bố, trong đó có nhiều loài có giá
trị kinh tế cao đã được phát triển nuôi như cá mú, cá chẽm, cá tráp, cá hồng, cá giò và
cá măng; diện tích mặt nước tiềm năng dùng cho nuôi cá nước lợ, mặn phong phú và
đa dạng, giúp người nuôi có thể phát triển nuôi lồng bè, nuôi đăng hoặc nuôi ao. Do
vậy, các nhà quản lý thủy sản của Việt Nam đặt chỉ tiêu phấn đấu cho năm 2010 phải
sản xuất được 200.000 tấn cá biển. Tuy nhiên, đến năm 2005, sản lượng nuôi cá biển ở
nước ta mới chỉ đạt được khoảng 1,8 % (3.510 tấn) so với mục tiêu đề ra, nguyên nhân
chủ yếu là do thiếu con giống, công nghệ nuôi lạc hậu và khó khăn về thị trường [8].
Nghề nuôi cá biển ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu vào những năm 1990 khi một
số nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số loài cá biển bước đầu
8


hơn có ý nghĩa so với dùng thức ăn tổng hợp trong thí nghiệm này [10]. Cũng tác giả
này, năm 2007 đã thông báo rằng, cá chim vây vàng được nuôi bằng lồng có thể tích
20 m
3
với 3 mật độ lần lượt là: 300, 460 và 600 con/lồng đã đạt tỷ lệ sống cuối từ 58-
68 % và khối lượng cá nuôi đạt 461-470 g/con. Đồng thời, Lê Xân cũng cho biết mật
độ nuôi càng cao thì tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng thấp và tỷ lệ phân đàn cao hơn so
với mật độ thấp [10] .
9

Thái Thanh Bình & cộng sự, 2008 cũng cho biết rằng, khi dùng con giống của cá
chim vây vàng sản xuất tại Việt Nam để nuôi trong ao đất tại Quảng Ninh với mật độ
từ 1,5-2,5 con/m
2
, nuôi bằng thức ăn tổng hợp do Trung Quốc sản xuất đã cho tỷ lệ
sống rất cao, 95-96 % và đạt khối lượng 257-261 g/con sau 3 tháng nuôi. Từ kết quả
này, các tác giả cho rằng con giống sản xuất tại địa phương có ưu thế hơn về sức sống
nên tỷ lệ sống trong nuôi cho kết quả cao hơn [1].

Để nghề nuôi cá biển, đặc biệt là nuôi cá chim vây vàng phát triển ở Việt Nam,
ngoài việc đòi hỏi số lượng lớn về con giống, thì kích thước con giống cũng phải đủ
lớn (6-8 cm) để phục vụ cho nuôi thương phẩm trong ao hoặc lồng bè. Theo Schipp
1996, cho rằng việc ương cá bột đến cỡ giống lớn trong trại sản xuất giống rất tốn kém
và khó khănTrong khi đó, việc sử dụng hệ thống giai đặt trong ao để ương cá biển có
nhiều thuận lợi như; (1) mật độ ương cao, hạn chế địch hại; (2) dễ dàng quản lý thức
ăn, kích cỡ cá và dịch bệnh; (3) vận hành đơn giản và cần ít nhân công; (4) tận dụng
được thức ăn tự nhiên khi ương cá giai đoạn nhỏ và (5) hạn chế tác động xấu lên môi
trường. Ngoài ra, hệ thống này cũng đã thử nghiệm thành công trên các đối tượng khác
như cá giò, cá hồng và cá mú. So với các hệ thống ương giống cá biển khác, như ương
bằng lồng, bể, mương nổi và ao đất thì chi phí đầu tư cho kỹ thuật ương cá bằng giai

Nhật Bản, Indonesia, Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam. Đây là loài cá ăn nổi, ưa
hoạt động sống chủ yếu ở tầng giữa và tầng mặt ở vùng biển ấm. Giai đoạn cá giống
chúng thường sống thành đàn quanh các vũng, vịnh và cửa sông, nơi có chất đáy là cát
hoặc cát bùn, đến cỡ trưởng thành cá di cư ra sống độc lập ở ngoài khơi xa bờ quanh
các rạn san hô, đá ngầm có độ sâu từ 7 m nước trở lại. Đây cũng là loài rộng muối, có
thể sống được ở độ mặn từ 3-33 ppm, nhu cầu oxy hòa tan trên 2,5 mg O
2
/L. Mặc dù là
loài ăn mồi thiên về động vật, song trong quá trình nuôi cá chim vây vàng lại không
xảy ra hiện tượng ăn thịt đồng loại, có thể nuôi được với mật độ cao, cá cũng sử dụng
tốt các các loại thức ăn công nghiệp, tốc độ sinh trưởng nhanh và là loài có giá trị kinh
tế cao (giá bán từ 4-6 USD/kg) nên đã trở thành đối tượng nuôi hấp dẫn ở nhiều nước
thuộc châu Á-Thái Bình Dương [5, 21, 29].
1.2.3. Đặc điểm hình thái
Cơ thể cá chim vây vàng hơi tròn, cao, dẹp, lưng cong hình vòng cung, trên
đường bên vẩy sắp xếp khoảng 135-136 cái, chiều dài so với chiều cao gấp khoảng
1,6-1,7 lần, so với chiều cao đầu 3,5-4 lần, cuống đuôi của loài cá này ngắn và dẹp,
đầu nhỏ, chiều cao đầu lớn hơn chiều dài, môi tù về phía trước, lỗ mũi mỗi bên có 2
cái ở gần nhau, lỗ mũi trước nhỏ hình tròn, lỗ mũi sau to hình bầu dục.
Miệng nhỏ xiên, xương hàm bên lồi, hàm trên và hàm dưới có răng nhỏ hình
lông, răng phía sau dần thoái hóa, lưỡi không có răng, rìa phía trước xương nắp mang
11

hình cung tương đối to, rìa sau cong. Bộ phận đầu không có vẩy, cơ thể có nhiều vẩy
tròn nhỏ dính dưới da. Vây lưng thứ hai và vây hậu môn có vẩy, phía trước đường bên
hình cung cong tròn tương đối lớn, trên đường bên vẩy không có gờ, vây lưng thứ nhất
hướng về phía trước, gai bằng và có 5-6 gai ngắn. Cá giống giữa các gai có màng liền
nhau, vây lưng thứ 2 có 1 gai và 19-20 tia vây, phần trước của vây kéo dài như hình
lưỡi liềm. Vây ngực của loài cá này tương đối ngắn, vây đuôi có hình trăng lưỡi liềm,
vây hâụ môn có 1 gai và 17-18 tia vây, phía trước có hai vây ngắn, cũng có dạng hình

Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác nhau là
khác nhau. Ví dụ, ở Trung Quốc mùa vụ sinh sản từ tháng 4 đến tháng 9, trong khi tại
Đài Loan lại có thể cho cá sinh sản nhân tạo từ tháng 3 đến tháng 10. Quá trình sinh
sản của cá chim vây vàng không tuân theo chu kỳ trăng hàng tháng như nhiều loài cá
khác [21].
Tuổi và kích thước thành thục lần đầu của cá chim vây vàng ngoài tự nhiên
tương đối lớn, cá thành thục ở tuổi 7
+
-8
+
, tuy nhiên trong điều kiện nuôi nhân tạo cá có
thể thành thục sớm hơn. Theo Juniyanto và cộng sự, 2008, trong điều kiện nuôi nhốt
cá đạt được thành thục và trở thành cá bố mẹ trong khoảng 3 năm, khi đó khối lượng
cơ thể đạt từ 1,8-2,5 kg. Thực tế cho thấy cá chim vây vàng nuôi lồng bằng thức ăn
công nghiệp tại vùng biển Khánh Hòa có tuổi thành thục sớm hơn (khoảng 15-16
tháng nuôi) và kích cỡ cũng nhỏ hơn (từ 1,5-1,7 kg). Như vậy, tuổi và kích thước
thành thục của cá chim vây vàng đã phụ thuộc rất lớn vào vùng địa lý và các điều kiện
nuôi khác. So với nhiều loài cá biển khác như cá mú, cá chẽm, cá măng, cá chim
Florida, sức sinh sản của cá chim vây vàng thấp hơn các loài cá khác. Sức sinh sản
tuyệt đối của cá chim vây vàng thường dao động từ 400.000-600.000 trứng/cá cái, khi
cá bố mẹ được kích thích sinh sản bằng hormone thì số lượng trứng của mỗi đợt đẻ
thường chiếm khoảng 60-70 % lượng trứng trong buồng trứng. Trứng của cá chim vây
vàng là loại trứng nổi, sau khi được thụ tinh, trứng sẽ nổi trong môi trường nước nhờ
giọt dầu, đường kính trứng sau khi trương nước khoảng 0.80-0.85 mm, những trứng
không được thụ tinh sẽ chìm xuống đáy và chết [21].
Cá bột 1 ngày tuổi của cá chim vây vàng có chiều dài thân 2,8 mm, sau 35 ngày
nuôi đạt cỡ 34 mm, lúc này sự hình thành sắc tố không đồng loạt; mắt, ống tiêu hóa,
huyệt và vây đuôi trong suốt. Ba ngày sau khi nở, noãn hoàng đã được sử dụng hết và
13


nước dễ bị ô nhiễm, thêm vào đó sự va chạm liên tục vào thành bể làm cá xây xát dễ bị
nhiễm bệnh vi khuẩn và vấn đề khó khăn hiện nay là mật độ ương thấp và tỷ lệ dị hình
ở cá giống vẫn cao, khoảng 5 % [21].
Ở Việt Nam, ấu trùng của cá chim vây vàng được ương trong bể xi măng với mật
độ từ 10-20 con/L, cho ăn bằng luân trùng và ấu trùng Copepoda nuôi từ ao, khi cá đạt
cỡ 7-10 ngày tuổi thì đưa ra ao ương thành cá giống lớn hơn. Kết quả cho thấy, tỷ lệ
14

sống từ ấu trùng lên cỡ cá hương đạt 31-35 %, từ cá hương lên cá giống là 50,0-62,5 %
[2]. Có một số cơ sở sản xuất đã ương cá 2 giai đoạn, giai đoạn đầu ương trong bể, khi
cá đạt kích cỡ 3-4 cm thì chuyển ra ao để ương tiếp thành giống lớn. Quy trình ương
cá này có tác dụng làm giảm giá thành con giống và nâng cao quy mô sản xuất. Tuy
nhiên, việc sử dụng thức ăn tươi sống nuôi trong ao làm thức ăn cho ấu trùng cá và
ương giống theo 2 giai đoạn cũng sẽ gặp khó khăn trong kiểm soát dịch bệnh hoặc môi
trường nuôi khi thời tiết thay đổi và tỷ lệ sống của cá ương cũng sẽ không ổn định.
Mặt khác, công nghệ này cũng sẽ rất khó khi muốn áp dụng vào các trại sản xuất giống
cá biển mà không có hệ thống ao nuôi thức ăn và ương cá giống.
1.3.1.2 . Hệ thống bể nuôi tuần hoàn kín
Hệ thống bể nuôi tuần hoàn này gồm có các phần cơ bản như bể nuôi, bể lọc cơ
học, bơm nước, bể lọc sinh học, và bộ phận thu gom chất thải. Trước khi thả cũng như
trong quá trình ương cá, chất lượng nước (độ mặn, pH, nhiệt độ, amonia, oxy, …)
được kiểm soát rất chặt chẽ, đặc biệt là hàm lượng NH
3-
N và oxy hòa tan, quá trình
phân cỡ được tiến hành định kỳ 5-7 ngày/lần, tuy nhiên chi phí xây dựng và vận hành
hệ thống này rất tốn kém, người vận hành phải có trình độ kỹ thuật cao, và chỉ phù hợp
với các nước có công nghệ nuôi hiện đại.
1.3.1.3 . Kỹ thuật ương cá trong ao đất
Với hình thức ương cá này, cá được ương bằng lồng nổi, giai đặt trong ao hoặc
thả cá ương trực tiếp vào nuôi trong ao đất. Loại hình ương cá này đã được sử dụng

Với hình thức ương cá bằng giai đặt trong ao đất, giai được thiết kế giống như
lồng nổi nuôi trên biển và chỉ cần dùng một số cọc tre hoặc cây sắt cắm xuống ao để
cột giai. Hình thức này dễ làm, chi phí thấp hơn so với làm lồng nổi. Quản lý thức ăn,
kích cỡ cá tốt hơn so với ương cá trực tiếp trong ao, thu hoạch dễ dàng và kiểm soát
thuận lợi hơn so với nuôi lồng trên biển, tuy nhiên, chi phí sản xuất cho hình thức
ương nuôi này cao hơn so với nuôi trong ao.
1.3.1.4 . Ương bằng lồng trên biển
Pin Lan (2007) đã thử nghiệm ương giống cá chim vây vàng cỡ 4,9-6,7 g/con
bằng lồng trên biển với mật độ 222 con/m
3
, cho ăn bằng thức ăn công nghiệp dạng
viên có hàm lượng protein 47 % và lipid 15 %, sau 30 ngày ương cá đạt cỡ 14,4-26,5
g/con, tỷ lệ sống đạt 90 %, năng suất đạt 2,8-5,3 kg cá giống/m
3
và hệ số FCR dao
động từ 0,89-1,86; sau đó các tác giả này lại thử nghiệm nuôi thương phẩm với cỡ
giống 19-26 g/con và cá được thả nuôi trong các lồng có thể tích 100 m
3
với mật độ 96
con/m
3
, cá được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp (protein 43 % và lipid 12 %), sau
146 ngày nuôi cá đạt cỡ từ 577-640 g/con, tỷ lệ sống 99,2-99,5 %, năng suất đạt 54,6-
61,3 kg/m
3
, hệ số FCR từ 2,43-2,76 [29] .
Ưu điểm của kỹ thuật ương cá trong lồng lưới là có thể ương với mật độ ương
cao, tận dụng được điều kiện môi trường nước chảy tự nhiên, cá sống khỏe, lớn nhanh,
tiết kiệm được chi phí năng lượng, khắc phục được những nhược điểm mà ương trong
ao đất thường gặp phải, chi phí rẻ hơn so với kỹ thuật ương trong bể. Tuy nhiên, hình

ương khác nhau như vậy cũng không ảnh hưởng tới mức độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và
FCR của đàn cá nuôi. Tuy vậy, khi nuôi với mật độ cao, cá bắt mồi mạnh hơn và năng
suất thu được cao hơn. Ngoài ra, khi nuôi với cùng mật độ, thì cá nuôi trong lồng lớn
nhanh hơn ở bể.
Hatziathanasius và cộng sự, 2002 đã thử nghiệm ương cá chẽm châu Âu
(Dicentrarchus labrax) từ cỡ 1,7 cm lên 2,1 cm với các mật độ: 5, 10, 15, 20 con/L.
Các tác giả thông báo rằng, khi tăng mật độ nuôi càng cao thì tỷ lệ sống càng giảm
[17]. Nguyễn Trọng Nho, 2004 cho rằng, cá chẽm mõm nhọn Psammoperca
waigiensis cỡ 30 - 40 mm ương ở mật độ từ 100-1.000 con/m
3
, tốc độ tăng trưởng và
tỷ lệ sống của cá giảm dần khi tăng mật độ nuôi [4]. Trong khi đó, cá chẽm châu Á
17

(Lates calcarifer) ương từ cỡ 1,7 cm lên cỡ 3,1 cm trong bể tuần hoàn nước, với các
mật độ 10-20 con/L lại cho thấy mật độ không ảnh hưởng đến tăng trưởng và tỷ lệ
sống của cá [35]. Qua đó thấy rằng, mức độ ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng
trưởng, tỷ lệ sống và FCR tùy thuộc vào giai đoạn phát triển, hệ thống nuôi và loài cá
nuôi và các mật độ dùng cho thử nghiệm.
1.4.2. Thức ăn và chế độ cho ăn trong ương nuôi cá biển giống
Đã có những nghiên cứu cho thấy rằng loại thức ăn và chế độ cho ăn đã ảnh
hưởng lên tăng trưởng, tỷ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn và mức độ phân đàn của
cá. Việc sử dụng thức ăn với chất lượng và kích cỡ phù hợp, cũng như chế độ cho ăn
hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả nuôi nhờ hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm chi phí thức
ăn và công lao động.
Loại thức ăn với chất lượng khác nhau thì mức độ ảnh hưởng lên cá ương cũng
cũng khác nhau. Khi dùng loại thức ăn có chất lượng cao thì hệ số thức ăn, mức độ
phân đàn và khẩu phần ăn thấp. Cá chẽm ương trong ao đất từ cỡ 20 mm lên 100 mm
được cho ăn bằng cá tạp thì khẩu phần ăn cao từ 40-100 % khối lượng thân [6]. Ngược
lại, nếu ương cá trong bể xi măng thì khẩu phần ăn lại thấp hơn (17-84 %) [9]. Khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status