nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng vitamin b6 và chất khoáng kẽm, selen lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) - Pdf 25



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

HÀ VĂN CHUNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯNG VITAMIN B6 VÀ
CHẤT KHOÁNG (KẼM, SELEN) LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)

LUẬN VĂN THẠC SĨ



Nha Trang , 06/2013
Trang i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu ảnh hƣởng của hàm lƣợng vitamin B6
và chất khoáng (Kẽm, Selen) lên sinh trƣởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng
(Trachinotus blochii Lacepede, 1801)” là công trình nghiên cứu của tôi. Các kết quả
thu đƣợc trong luận văn này là thành quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi.
Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chƣa từng
đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào. Tôi xin chịu trách nhiệm trƣớc Nhà
trƣờng, Bộ Giáo dục & Đào tạo và pháp luật về lời cam đoan này.
Học viên
HÀ VĂN CHUNG
Trang ii
LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, Khoa Nuôi
trồng Thủy sản Trƣờng Đại học Nha trang, là nơi tôi đã đƣợc học tập, rèn luyện và tu
dƣỡng trong suốt những năm tháng học Đại học và Cao học vừa qua.
Xin chân thành biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo hƣớng dẫn, PGS. TS Lại Văn Hùng
về sự dìu dắt, động viên và những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian tôi học tập
cũng nhƣ tiến hành thí nghiệm và hoàn thành luận văn này. Tôi xin bày tỏ lòng tri ân
các Thầy Cô trong Khoa Nuôi trồng Thủy sản-Trƣờng Đại học Nha Trang đã tận tâm
giảng dạy, giúp đỡ tôi trau dồi kiến thức và tu dƣỡng để tôi từng bƣớc trƣởng thành.
Xin đƣợc cám ơn bộ môn Kỹ Thuật Nuôi Trồng thủy sản, Trại thực nghiệm Nuôi

1.2.1.1 Tình hình sản xuất giống cá chim vây vàng 6
1.2.1.2 Tình hình nuôi thƣơng phẩm cá chim vây vàng 7
1.2.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá chim vây vàng trong nƣớc 9
1.2.2.1 Tình hình sản xuất giống 9
1.2.2.2 Tình hình nuôi thƣơng phẩm cá chim vây vàng 12
1.3Những nghiên cứu về vai trò và nhu cầu của một số vitamin và khoáng chất trong
thức ăn ở cá 12
1.3.1 Vai trò và nhu cầu của vitamine B6 12
1.3.2 Vai trò và nhu cầu của Zn và Se 14
1.3.2.1 Vai trò và nhu cầu của Zn 14
1.3.2.2 Nhu cầu của kẽm : 15
Trang iv
CHƢƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1. Địa điểm, thời gian và đối tƣợng nghiên cứu 18
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.2.Thời gian thực hiện đề tài 18
2.1.3. Đối tƣợng nghiên cứu 18
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 18
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu 18
2.2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20
2.2.3 Bố trí thí nghiệm 21
2.2.4. Chăm sóc và quản lý 23
2.2.5 Quy trình chế biến và bảo quản thức ăn thí nghiệm. 25
2.3. Phƣơng pháp thu thập và xử lý số liệu 28
2.3.1. Phƣơng pháp thu thập mẫu và cân đo cá 28
2.3.2.Phƣơng pháp phân tích thành phần sinh hóa của thức ăn 28
2.3.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DLG : Daily Length Gain (Tốc độ sinh trƣởng hàng ngày về chiều dài)
DWG : Daily Weight Gain (Tốc độ sinh trƣởng hàng ngày về khối lƣợng)
FAO : Food and Agriculture Organization (Tổ chức Nông Lƣơng của LHQ)
FCR : Food Converson Rate (Hệ số chuyển đổi thức ăn)
L1, L2 : Chiều dài của cá lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm
NT : Nghiệm thức
DC : Đối chứng
SD : Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)
SE : Standard Error (Sai số chuẩn)
Se : Selen
SGR : Specific Growth Rate (Tốc độ tăng trƣởng đặc trƣng)
SGRL(W) : Tốc độ tăng trƣởng đặc trƣng về chiều dài (khối lƣợng)
SR : Survival Rate (Tỷ lệ sống)
TB : Trung bình
VTM : Vitamin
W1, W2 : Khối lƣợng của cá lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm
LG,WG : Tốc độ tăng trƣởng tƣơng đối về chiều dài, khối lƣợng
Zn : Kẽm
Trang vii
DANH MỤC CÁC HÌNH

Bảng 1.2 : Nhu cầu một số vitamin của họ cá Samonidae (mg/kg thức ăn) 13
Bảng 1.3: Tốc độ tăng trƣởng và tỷ lệ sống của cá chép nuôi bằng thức ăn công nghiệp
với các hàm lƣợng kẽm khác nhau.[9] 16
Bảng 1.4: Ảnh hƣởng của hàm lƣợng Se và vitamin E có trong thức ăn tới sinh trƣởng
và tỷ lệ sống của cá da trơn. 17
Bảng 2.1: Thành phần thức ăn dùng thí nghiệm kẽm (Zn) 21
Bảng 2.2: Thành phần dinh dƣỡng của thức ăn thí nghiệm selen (Se) 22
Bảng 2.3: Thành phần thức ăn dùng thí nghiệm vitamin B6 23
Bảng 3.1: Diễn biến các yếu tố môi trƣờng trong thí nghiệm khoáng 31
Bảng 3.3: Ảnh hƣởng của hàm lƣợng kẽm lên sinh trƣởng chiều dài của cá chim vây
vàng giai đoạn giống 32
Bảng 3.4: Ảnh hƣởng của hàm lƣợng kẽm lên sinh trƣởng khối lƣợng 33
Bảng 3.5: Ảnh hƣởng của hàm lƣợng kẽm lên tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của cá chim
vây vàng giai đoạn giống. 36
Bảng 3.6: Ảnh hƣởng của hàm lƣợng selen lên sinh trƣởng chiều dài 37
Bảng 3.7: Ảnh hƣởng của hàm lƣợng selen lên sinh trƣởng khối lƣợng 39
Bảng 3.8: Ảnh hƣởng của selen lên hệ số thức ăn và tỉ lệ sống của cá chim vây vàng
giai đoạn giống 42
Bảng 3.9: Ảnh hƣởng của vitamin B6 lên sinh trƣởng chiều dài 45
Bảng 3.10: Ảnh hƣởng của hàm lƣợng vitamin B6 lên sinh trƣởng khối lƣợng 46
Bảng 3.11: Ảnh hƣởng của vitamin B6 lên hệ số thức ăn và tỉ lệ sống của cá chim vây
vàng giai đoạn giống 49
Trang 1
MỞ ĐẦU
Bờ biển nƣớc ta dài 3.260 km, trải dài từ Bắc xuống Nam, với nhiều sông, suối
đổ ra biển tạo thành các hệ sinh thái ven biển nhƣ đầm, phá, hệ sinh thái vùng cửa
sông, hồ nƣớc mặn ven biển, các bãi triều, rừng ngập mặn, các vũng, vịnh ven biển

(Kẽm, Selen) lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng (Trachinotus
blochii Lacepede, 1801)”.
Mục tiêu của đề tài:
Xác định hàm lƣợng vitamin B6 và chất khoáng (Zn, Se) tối ƣu để từ đó đề xuất
tỷ lệ hợp lý trong thức ăn, nhằm nâng cao tỷ lệ sống cũng nhƣ sinh trƣởng góp phần
từng bƣớc hoàn thiện quy trình sản xuất và ƣơng nuôi cá chim vây vàng.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những thông tin mới cho những nghiên cứu về
dinh dƣỡng giai đoạn giống cho cá biển nói chung và cho cá chim vây vàng nói riêng.
Từ đó làm cơ sở khoa học để sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ cho nuôi cá chim
vây vàng giống, góp phần nâng cao năng suất, tỷ lệ sống cũng nhƣ chất lƣợng con
giống. Đồng thời cũng làm cơ sở cho các nghiên cứu để sản xuất thức ăn nuôi thƣơng
phẩm cá chim vây vàng.
Nội dung nghiên cứu:
1. Ảnh hƣởng của hàm lƣợng vitamin B6 đến tốc độ tăng trƣởng và tỷ lệ
sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống.
2. Ảnh hƣởng của hàm lƣợng Zn và Se đến tốc độ sinh trƣởng và tỷ lệ sống
của cá chim vây vàng giai đoạn giống

Trang 4
mg/l. Mặc dù loài ăn nổi thiên về động vật, song trong quá trình nuôi cá chim vây vàng
không ăn thịt đồng loại, có thể nuôi đƣợc với mật độ cao, cá cũng sử dụng tốt các loại
thức ăn công nghiệp và là loài có giá trị kinh tế (giá bán từ 4 – 6 USD/Kg) nên đã trở
thành đối tƣợng nuôi hấp dẫn ở nhiều nƣớc thuộc Châu Á – Thái Bình Dƣơng. [1, 3, 6,
23]
1.1.2.2 Đặc điểm dinh dƣỡng và sinh trƣởng
Cá chim vây vàng ăn tạp thiên về động vật, cƣờng độ bắt mồi của cá mạnh, đặc
biệt là lúc chiều tối. Thức ăn ƣa thích của cá trƣởng thành ngoài tự nhiên là thân mềm
nhƣ mực, hai mảnh vỏ và giáp xác. Giai đoạn nhỏ thức ăn chủ yếu là động vật phù du
nhƣ luân trùng, copepoda, cỡ cá lớn hơn ăn các loài tôm , cá nhỏ và các mảnh vụn hữu
cơ. Trong điều kiện nuôi, thức ăn cho cá con ngoài sinh vật phù du (tảo, luân trùng, ấu
trùng artemia), sau giai đoạn này cá đƣợc tập chuyển đổi từ thức ăn sống sang thức ăn
tổng hợp, giai đoạn nuôi thƣơng phẩm cá cũng sử dụng các loại thức ăn công nghiệp
hoặc cá tạp. Trong quá trinh nuôi vỗ cá bố mẹ, thức ăn đƣợc sử dụng là cá tạp, mực,
thức ăn tổng hợp dạng viên. Bên cạnh đó để nâng cao chất lƣợng trứng và ấu trùng
ngƣời ta còn bổ sung thêm vitamin E, C và B vào thức ăn cho cá mẹ vào trƣớc mùa
sinh sản khoảng một tháng [1, 3, 23, 25, ].
Tốc độ sinh trƣởng của cá chim vây vàng tƣơng đối nhanh, kích thƣớc lớn
nhất bắt gặp ngoài tự nhiên là 3.400 g. Cá sinh trƣởng chậm ở giai đoạn đầu và tăng
nhanh sau khi đạt cỡ 50g trở lên, nhƣng tốc độ sinh trƣởng lại chậm lại khi cá đạt cỡ
trên 1000g. Cá con một ngày tuổi có chiều dài 2 mm, sau 35 ngày tuổi đạt cỡ 34 mm
[1, 6].
Bảng 1.1: Sinh trƣởng và phát triển của cá chim vây vàng [6]
Ngày tuổi
Chiều dài trung bình
Tốc độ phát triển
1
0,2
0

12 tháng nuôi từ cỡ 10- 15 g cá có thể đạt 800 - 1000 g. Tùy thuộc vào điều kiện nuôi
(chế độ dinh dƣỡng, môi trƣờng, đặc biệt là nhiệt độ nƣớc) sau 2-3 năm nuôi cá đạt cỡ
trƣởng thành (1,600 - 2,000 g) và một số con có thể thành thục tham gia sinh sản [1, 6
24].
1.1.2.3 Một số đặc điểm sinh học sinh sản
Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác
nhau thì khác nhau. Ví dụ ở Trung Quốc mùa vụ sinh sản từ tháng 4 đến tháng 9 trong
khi tại Đại Loan có thể cho cá sinh sản nhân tạo từ tháng 3 đến tháng 10. Quá trình
sinh sản của cá chim vây vàng không tuân theo chu kỳ trăng hàng tháng nhƣ nhiều loài
cá biển khác [6, 23]
Tuổi và kích thƣớc thành thục của cá chim vây vàng ngoài tự nhiên tƣơng đối
muộn, cá thành thục ở độ tuổi 7
+
- 8
+
. Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhân tạo cá có
thể thành thục sớm hơn. Theo Juniyanto và CTV, (2008), trong điều kiện nuôi nhốt để
cá đạt đƣợc cỡ thành thục và trở thành cá bố mẹ phải mất khoảng 3 năm khi đó khối
lƣợng cơ thể đạt từ 1,8- 2,5 kg. Thực tế cho thấy cá chim vây vàng nuôi lồng bằng
thức ăn công nghiệp tại vùng biển Khánh Hòa có tuổi thành thục sớm hơn (khoảng 15-
16 tháng nuôi) và kích cỡ cũng nhỏ hơn (từ 1,5- 1,7 kg). Nhƣ vậy tuổi và kích thƣớc
thành thục của cá chim vây vàng phụ thuộc rất lớn vào vùng địa lý và các điều kiện
nuôi khác. So với nhiều loài cá biển khác (cá mú, cá chẽm, cá măng, cá chim florida)
thì sức sinh sản của cá chim vây vàng thấp hơn. Sức sinh sản tuyệt đối của cá chim vây
vàng dao động từ 400.000 – 600.000 ngàn trứng/cá cái. khi cá bố mẹ đƣợc kích thích
sinh sản bằng hormone thì số lƣợng trứng của mỗi đợt đẻ thƣờng chiếm khoảng 60-70
% lƣợng trúng trong buồng trứng. Cá chim vây vàng là loài đẻ trứng nổi, sau khi đẻ
trứng nổi trong môi trƣờng nƣớc nhờ giọt dầu, đƣờng kính nƣớc sau khi trƣơng nƣớc
0,80- 0,85mm sau khi đẻ, trứng không thụ tinh sẽ chìm xuống đáy[1, 6, 23, 27].


là cơ sở cho những nghiên cứu cho sinh sản cá chim vây vàng (Trachinotus carolinus)
trong sản xuất nhân tạo loài cá này với thức ăn bằng cá tạp và mực dùng làm thức ăn
cho cá bố mẹ, đồng thời dùng hormone HCG để kích thích sinh sản cho cá chim vây
vàng. [1, 6, 23, 25].
Năm 2003 tại phòng thí nghiệm cá biển Mote, đã nhập đàn cá bố mẹ cá chim
vây vàng Trachinotus carolinus với điều kiện sinh thái đƣợc kiểm soát. Cá có khối
lƣợng từ 388 g - 1650 g, theo nghiên cứu tại đây thì loài này sinh sản vào mùa xuân và
mùa thu và cá đƣợc tiêm bằng hormone HCG cho tỷ lệ thụ tinh tới 97%. Song trong
Trang 7
quá trình nghiên cứu khi đặt bể cá bố mẹ ngoài trời với hệ thống lọc tuần hoàn đã làm
cho lƣợng amoniac có thời điểm lên tới 4 ppm dẫn tới một số cá thể bố mẹ bị chết.
Trong nghiên cứu này ngƣời ta cũng cho thấy rằng thức ăn phù hợp với loài cá này là
hai dòng luân trùng và sau đó là nauplius của copepoda trong khoảng 10 ngày đầu.
Nghiên cứu này cho là cơ sở trong việc sử dụng thức ăn trong ƣơng nuôi ấu trùng với
thức ăn của giai đoạn đầu là luân trùng và nauplius của copepod.[1, 2131]
Qua những nghiên cứu ở trên cho thấy, cá chim vây vàng có tốc độ sinh trƣởng
tƣơng đối nhanh, dể dàng sử dụng các loại thức ăn do con ngƣời cung cấp, có thể nuôi
với mật độ cao và cho năng suất cao. Do có giá trị kinh tế cao, dể nuôi nên cá chim
vây vàng đƣợc coi là đối tƣợng nuôi quan trọng ở nhiều nƣớc, điều này cũng thu hút
đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhằm phát triển kỷ thuật sản xuất giống
nhân tạo phục vụ cho nhu cầu của ngƣời nuôi. Tuy nhiên các tác giả vẫn chƣa đi sâu
vào nghiên cứu những giải pháp kỷ thuật nhằm nâng cao chất lƣợng trứng, ấu trùng và
hiệu quả ƣơng giống.
1.2.1.2 Tình hình nuôi thƣơng phẩm cá chim vây vàng
Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) đƣợc sản xuất giống đầu tiên tại
Đài Loan vào năm 1989, sau đó công nghệ sản xuất giống lan rộng ra nhiều nƣớc nhƣ
Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam. Mặc dù dể nuôi, giá trị kinh tế cao, đƣợc coi là

Lazo và CTV, (1998) đã nghiên cứu ảnh hƣởng của hàm lƣợng protein từ 35 - 45% lên
sinh trƣởng của cá chim Trachinotus carolinus cho thấy hàm lƣợng protein thích hợp
cho cá chim là 45 %. Nghiên cứu của Tatuman và CTV(2004) cũng cho rằng hàm
lƣợng protein tối thiểu cho cá chim Trachinotus ovatus sinh trƣởng nhanh nhất là 45%.
[6, 25, 31]
.
Theo Chou, (1997) cá chim vây vàng là đối tƣợng nuôi chính ở Singapore, cá
giống đƣợc nhập từ Đài Loan. Thức ăn cho cá ăn chủ yếu vẫn là cá tạp. Thouard
(1989) thí nghiệm nuôi cá chim Trachinotus goodie cỡ cá thả 15 g trong lồng, sau 5
tháng nuôi cá đạt cỡ 300g khi cho ăn thức ăn công nghiệp với hàm lƣợng protein 50%
và đạt 260g khi cho ăn bằng cá tạp, tỷ lệ sống 83 – 90%. [1, 6,].
Năm 1993 trung tâm chuyển giao công nghệ trƣờng Đại học Trung Sơn kết hợp
với Trạm nghiên cứu giống thủy sản Quảng Đông – Trung Quốc nghiên cứu cho sinh
sản nhân tạo thành công cá chim vây vàng trên quy mô nhỏ (ƣơng nuôi ấu trùng trong
bể xi măng). Năm 1998 trung tâm kết hợp với công ty trách nhiệm hữu hạn giống thủy
sản Thắng Lợi- Hải Nam- Trung Quốc nghiên cứu sản xuất thành công trên quy mô
lớn (ƣơng nuôi ấu trùng trong ao đất và bể xi măng). [1, 15]
Trang 9
Lan và ctv, (2007) đã thử nghiệm ƣơng giống cá chim vây vàng cỡ 4,9 – 6,7 g,
thả nuôi trong lồng trên biển với mật độ 222 con/m
3
, cho ăn bằng thức ăn công nghiệp
dạng viên có hàm lƣợng protein 47% và lipid 15%, sau 30 ngày ƣơng cá đạt cỡ 14,4 –
26,4 g, tỷ lệ sống 90%, năng suất 2,8 – 5,3 kg cá giống/m
3
, hệ số chuyển đổi thức ăn từ
0,89 – 1,86. Sau đó các tác giả này lại thử nghiệm nuôi thƣơng phẩm với cỡ cá giống

Quốc (nƣớc chuyển giao công nghệ) về nuôi vỗ bằng thức ăn là cá tạp. Qua 2 lần nhập
cá bố mẹ cho thấy tỷ lệ sống của cá rất thấp sau 1 tháng nuôi (đợt 1: chết 39/40 con,
đợt 2: chết 30/40 con) do thời gian vận chuyển lâu và thay đổi môi trƣờng nuôi. Những
cá bố mẹ còn lại khi thành thục đƣợc kích thích sinh sản bằng HCG 1000 IU và 20
Trang 10
LRHa/kg cá. Ấu trùng đƣợc ƣơng trong bể xi măng với mật độ từ 10 – 15 con/ lít cho
ăn bằng luân trùng và ấu trùng copepoda nuôi từ ao, khi cá đạt cỡ cá hƣơng thì đƣa ra
ao ƣơng thành cá giống lớn hơn. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của cá bố mẹ từ 2,5 –
25%, tỷ lệ thành thục > 63,5% , tỷ lệ đẻ > 73,3%, tỷ lệ thụ tinh 15,3 – 80%, tỷ lệ nở 28
– 56%, tỷ lệ sống của cá hƣơng 31 – 35% và cá giống là 50 – 62%; khi kết thúc dự án
trƣờng đã sản xuất đƣợc 104.486 con cá giống cỡ 4 – 6cm [3]. Tuy nhiên, công nghệ
nhập cũng có những hạn chế nhƣ tỷ lệ sống của cá bố mẹ nhập về thấp, tỷ lệ thụ tinh,
tỷ lệ nở không ổn định, khó kiểm soát sự lây lan bệnh dịch và không chủ động đƣợc
nguồn thức ăn tƣơi sống; công nghệ này chỉ có thể áp dụng đƣợc ở các tỉnh phía bắc
nhƣ Quảng Ninh nơi có điều kiện sinh thái gần giống với các tỉnh phía nam Trung
Quốc. Do vậy, nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng tại
các tỉnh Nam Trung Bộ, nơi có điều kiện sinh thái và tiềm năng lớn để phát triển nghề
nuôi cá biển là rất cần thiết. [1, 6].
Nhằm đa dạng hóa đối tƣợng nuôi, góp phần tăng sản lƣợng cá nuôi cho toàn
Ngành, cũng nhƣ chủ động đƣợc nguồn giống cho ngƣời nuôi, Trung tâm Khuyến
nông Quốc gia đã phối hợp với Trƣờng Cao đẳng Thủy sản, Viện Nghiên cứu Nuôi
trồng Thủy sản I thực hiện dự án nhập công nghệ sản xuất nhân tạo cá chim vây vàng
do Trung tâm chuyển giao công nghệ Trƣờng Đại học Trung Sơn Trung Quốc chuyển
giao.
Sau 2 năm triển khai tại Trại Nuôi trồng Thủy sản 4 (Trƣờng Cao đẳng Thủy
sản), dự án đã hoàn thành với kết quả cao. Tỷ lệ thành thục đạt 84,7%, vƣợt 4,7% so
với chỉ tiêu của dự án, tỷ lệ rụng trứng đạt 86,58%, vƣợt 16,58% so với chỉ tiêu; tỷ lệ

đặc điểm sinh học, kỷ thuật nuôi thƣơng phẩm và tạo đàn cá hậu bị của 5 loài cá biển
kinh tế”, trong đó có cá chim vây vàng. Kết quả của đề tài cho thấy sau 6 tháng nuôi cá
chim vây vàng bằng thức ăn công nghiệp Proconco và cá tạp. với cỡ cá thà là 22g cá
đạt 450 g. so với thức ăn là cá tạp thì cá nuôi bằng thức ăn công nghiệp sinh trƣởng
chậm hơn. Cá chim vây vàng giống cỡ 22g nuôi trong lồng có thể tích 20 m
3
với 3 mật
độ nuôi là 330 và 600 con/lồng đạt tỷ lệ sống 58,6 – 68,2 %, khối lƣợng từ 461,2 –
470,2 g và mật độ nuôi càng cao tỷ lệ sống, tốc độ sinh trƣởng thấp và tỷ lệ phân đàn
cao hơn so với mật độ thấp. Trong khi đó, cá chim vây vàng giống cỡ 21,1 g đƣợc sản
xuất tại địa phƣơng nuôi trong ao đất tại Quảng Ninh nuôi bằng thức ăn công nghiệp
nhập từ Trung Quốc với mật độ 1,5 và 2,5 con/m
2
, sau thời gian nuôi 3 tháng cá đạt
khối lƣợng 257 – 261 g, tỷ lệ sống 95 – 96 % [Thái Thanh Bình & Trần Thanh, 2008]
và cao hơn so với cá nuôi trong lồng bằng nguồn giống nhập từ Đài Loan. Qua đó cho
Trang 12
thấy, việc nhập giống từ các nƣớc khác về ngoài giá giống cao thì tỷ lệ sống khi ƣơng,
nuôi cũng thấp hơn do môi trƣờng nuôi thay đổi [1, 6, 33, 35].
1.2.2.2 Tình hình nuôi thương phẩm cá chim vây vàng
Hầu hết các mô hình nuôi đều cho thấy, cá chim vây vàng có sức sinh trƣởng
nhanh, có thể nuôi ở môi trƣờng nƣớc lợ, mặn với các hình thức nhƣ nuôi trong lồng
lƣới hoặc trong ao đất. Cá ít bệnh, tuy nhiên khả năng chịu rét kém, gặp thời tiết lạnh
cá ngừng ăn và có thể chết.
Để nuôi thành công loài cá này, ngƣời nuôi cần phải làm tốt công tác kỹ thuật,
xử lý trƣớc khi nuôi, không dùng cá tạp vì dễ làm ô nhiễm nƣớc và truyền bệnh cho cá.
Hiện nay, các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu để giảm chi phí thức ăn, đặc biệt

 Tham gia vào quá trình chuyển hóa aminoacid, glucose và lipid.
 Tham gia vào quá trình tổng hợp các hợp chất dẫn truyền xung thần kinh.
 Tham gia vào sự trao đổi chất của histamine
 Hỗ trợ trong việc tổng hợp hemoglobin
 Tham gia vào quá trình biểu hiện gen [4, 10]
Khi chúng ta cung cấp một lƣợng vitamin B6 không đủ sẽ làm cho vật nuôi kém
ăn, chậm lớn, rối loạn thần kinh làm biểu hiện cá không có phản ứng khi có tiếng động
và khi cá chết thì hiện tƣợng chết cứng diễn ra rất nhanh [2, 4, 10]
Sự thiếu hụt Vitamin B6 sẽ dẫn đến tăng sự biểu hiện của mRNA albumin,
pyridoxal phosphate sẽ ảnh hƣởng đến biểu hiện gen của glycoprotein IIb bằng cách
tƣơng tác với các yếu tố phiên mã khác nhau, kết quả là ức chế sự kết tập tiểu cầu
nhƣng khi tăng nồng độ nội bào của vitamin này sẽ dẫn đến giảm sự sao chép của
hormon glucocorticoid [38] .
Bảng 1.2 : Nhu cầu một số vitamin của họ cá Samonidae (mg/kg thức ăn)
Vitamin
NRC (1993)
Mức thêm vào thức ăn
Thiamin (B1)
1
15
Riboflavin (B2)
4-7
25
Pyridoxine (B6)
3-6
25
Vitamine D3
2400
2000
Vitamin C

trọng của cơ thể, nhìn chung chúng có một số chức năng nhƣ sau:
Chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc điều hòa áp suất thẩm thấu do đó
điều hòa quá trình trao đổi nƣớc và khoáng chất trong cơ thể, các nguyên tố này còn là
thành phần của các mô mềm trong cơ thể động vật, là thành phần quan trọng của việc
truyền xung thần kinh và co cơ, khoáng chất còn là thành phần quan trọng trong việc
điều hòa cân bằng acid-baso qua điều hòa pH và các dịch cơ thể khác.[2, 4, 10]
Ngoài ra khoáng chất còn là thành phần thiết yếu của rất nhiều enzym, vitamin,
kích thích tố, và các sắc tố hô hấp, hoặc là tiền nhân tố trong quá trình trao đổi chất,
chất xúc tác và kích hoạt enzyme.
Kẽm và selen là hai nguyên tố vi lƣợng nhƣng có vai trò đặc biệt quan trọng
trong cơ thể [10, 14].
1.3.2.1 Vai trò và nhu cầu của Zn
 Kẽm đƣợc đánh giá là một nguyên tố vi lƣợng quan trọng trong dinh dƣỡng của
động vật nói chung và cá nói riêng.
Trang 15
 Kẽm là thành phần thiết yếu của hơn 80 metalloenzymes, bao gồm carbonic
anhydrase (cần thiết cho việc vận chuyển khí cacbon dioxit trong máu và tiết HCl
trong dạ dày), các quá trình dehydro hóa hay còn gọi là quá trình tách hydro.
 Kẽm là nguyên tố hoạt động cùng các enzyme quan trọng trong cơ thể bao gồm
arginase, enolase, peptidase nhiều, và decarboxylase oxalacetic.
 Kẽm còn là thành phần quan trọng của các hệ thống enzyme tổng hợp và chuyển
hóa protein, chất béo và chuyển hóa carbohydrate, đặc biệt trong quá trình tổng
hợp và trao đổi chất của các axit nucleic (RNA) và protein.
 Mặc dù chƣa đƣợc chứng minh, song kẽm đƣợc đề xuất đóng một vai trò quan
trọng trong hoạt động của các hormone nhƣ insulin, glucagon, corticotrophin,
FSH và LH.
 Ngoài ra kẽm còn đóng vai trò tích cực trong việc chữa lành các vết thƣơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status