i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả,
số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào.
NGUYỄN MINH PHÁT
Khuyến nông – Khuyến ngư, Chi cục đo lường chất lượng tỉnh Phú Yên, Viện
nghiên cứu Công nghệ sinh học và Môi trường – Trường Đại học Nha Trang,
Thạc sĩ Lê Vịnh - Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III đã giúp đỡ tôi trong
quá trình làm thực nghiệm và phân tích mẫu thí nghiệm.
Cuối cùng, là lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người đã giúp đỡ
tôi về tinh thần và vật chất, để tôi vượt qua những khó khăn hoàn thành khóa
học! iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
I. Vài nét về đối tượng nghiên cứu 3
trong bể xi măng 24
8. Phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu 25
8.1. Phương pháp thu mẫu: 25
8.2. Phương pháp phân tích mẫu: 25
9. Phương pháp xử lý số liệu 25
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. Một số yếu tố môi trường và thức ăn trong thí nghiệm 29
3.1.1. Một số yếu tố môi trường thí nghiệm 29
a. Nguồn nước 29
b. Một số yếu tố môi trường ( pH, Oxy, Nhiệt độ ) trong bể nuôi 31
3.1.2. Thức ăn trong thí nghiệm 34
a. Thức ăn công nghiệp 34
b. Thức ăn tươi sống 34
3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng protein đến tốc độ sinh trưởng của cá Chình
bông 35
3.2.1. Ảnh hưởng của các loại thức ăn công nghiệp có mức protein khác
nhau lên tốc độ sinh trưởng của cá Chình bông cỡ giống 20 con/ kg 35
a. Sinh trưởng về chiều dài 36
b. Sinh trưởng về khối lượng. 37
3.2.2. Đánh giá mức độ phù hợp của thức ăn công nghiệp so với thức ăn tươi
sống sử dụng trong thí nghiệm 38
a. Căn cứ vào kích thước của cá 38
v
3.3. Ảnh hưởng của thức ăn tươi sống và các loại thức ăn công nghiệp có mức
protein khác nhau lên tỷ lệ sống của cá chình bông cỡ giống 20 con/ kg. 41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN. 44
1. Kết luận. 44
2. Đề xuất ý kiến : 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC
g : gam
% : Phần trăm
‰ : Phần nghìn
WG (%): Weight Gain: Tốc độ tăng trưởng tương đối theo khối
lượng
SGR (%): Specific Growth Rate: Tốc độ tăng trưởng đặc trưng
FCR: Feed Conversion Ratio: Hệ số chuyển đổi thức ăn
ECR: Economic Conversion Ratio: Chỉ số chuyển đổi kinh tế
M: thức ăn tươi sống
M1: Thức ăn công nghiệp có hàm lượng Protein 45%
M2: Thức ăn công nghiệp có hàm lượng Protein 47%
M3: Thức ăn công nghiệp có hàm lượng Protein 49%
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thành phần loài và sự phân bố cá chình trong giống Anguilla 5
Bảng 1.2. Hàm lượng Protein (%) trong thức ăn cá chình ở một số nước và khu
vực trên Thế giới. 8
Bảng 1.3. Hàm lượng Lipit (%) trong thức ăn cá chình ở một số nước và khu vực
trên Thế giới 9
Hình 3.6: Sinh trưởng về chiều dài của cá chình ở các loại thức ăn công 39
nghiệp và thức ăn tươi sống sau 180 ngày nuôi thử nghiệm (n=50) 39
Hình 3.7: Sinh trưởng về khối lượng của cá chình ở các loại thức ăn công 40
nghiệp và thức ăn tươi sống sau 180 ngày nuôi thử nghiệm (n=50) 40
Hình 3.8: Tỷ lệ sống của cá chình ở các loại thức ăn khác nhau 41 1
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trên
mọi lĩnh vực, đáng quan tâm nhất là việc đa dạng hóa đối tượng nuôi trồng thủy
sản, tuyển chọn những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, cá mú,
cá chình, cá bống tượng , nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và
xuất khẩu, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (WTO) của Việt Nam.
Cá chình là đối tượng có giá trị kinh tế cao, vì thế chúng được quan tâm
và nghiên cứu nhiều, đặc biệt là giống Anguilla, một số nước trên thế giới cá
chình được mệnh danh là “nhân sâm dưới nước “.
Phú Yên là tỉnh duyên hải Miền Trung, có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát
triển kinh tế thủy sản. Hệ thống sông ngòi của Phú Yên rất dày đặc, tài nguyên
thủy sản vùng nước ngọt, lợ, mặn phong phú. Nguồn nước ngọt tuy chiếm tỷ trọng
ít nhưng cũng góp phần vào việc cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị. Đặc biệt cá
chình là loài cá giàu đạm, thịt ngon nên trên thị trường rất ưa thích loài cá này.
Những năm gần đây, do nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, việc
đánh bắt cá chình ngoài tự nhiên cũng như việc ương nuôi cá chình thương phẩm
3
Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I. Vài nét về đối tượng nghiên cứu
1. Vị trí phân loại
Lớp: Osteichthyes
Phân lớp: Actinopterygii
Bộ: Anguilliformes
Phân bộ: Anguilloidei
Họ: Anguillidae
Giống: Anguilla
Loài: Anguilla marmorata (Quoy & Gaimard, 1824)
Willhem Ege đã công bố kết quả xác định thành phần loài cá chình trên thế giới
hiện có 16 loài và dưới loài trong giống Anguilla [33].
5
Cho đến nay, đã có thể tìm thấy 200 công trình nghiên cứu khu hệ phân
loại cá có đề cập tới các loài cá chình thuộc giống Anguilla. Giống Anguilla có
khoảng 20 loài và dưới loài phân bố rộng, trừ vùng Nam, Bắc cực ra các châu lục
trên thế giới đều có [15]. Khoảng 70% số cá chình khác nhau phân bố tập trung ở
vùng nhiệt đới gần vành đai Xích Đạo thuộc vùng biển TBD. Chỉ có một số loài
được tìm thấy ở vùng ôn đới như: Cá chình Nhật (A. japonica), cá chình Châu
Âu (A. anguilla), cá chình Mỹ (A. rostrata)…[14]
Năm 1942, Poul Jespersen nghiên cứu cá bột giống Anguilla vùng biển Ấn
Độ Dương cho thấy chúng phân bố rất nhiều ở quần đảo Indonesia, Philipine,
New Guinea [35]
Cá chình Bông (A. marmorata) là loài phân bố rộng rãi nhất, chúng chịu
ảnh hưởng của dòng hải lưu. Trên thế giới, chúng phân bố ở Nhật Bản, Trung
Quốc, Indonesia, các vùng ôn đới và nhiệt đới của TBD và Ấn Độ Dương [15].
Cá chình Nhật phân bố ở Nhật bản và Trung Quốc, ở vùng biển Kainan_
To, Okinawa và Seiman –To Đài Loan nhưng lại không tìm thấy tại Philipine. Ở
Việt Nam, A. japonica là loài cá chình được phát hiện và xác định tên khoa học
đầu tiên bởi Temminck et Schlegel,1846 và Chevey và Lemason J. năm 1937
nhưng sau đó không thấy chúng nữa [6].
Bảng 1.1: Thành phần loài và sự phân bố cá chình trong giống Anguilla
Kích cỡ tối đa
Stt
Tên loài
Màu
sắc
Số
đốt
13 A. mossambica Trơn 103 Nam, Đông Phi, Madagascar 5 125
14 A. bicolor Trơn 108
Đông Phi, Madagascar, Ấn Độ,
Indonesia, bắc tây Úc
3 110
15 A. obscura Trơn 104
New Guinea, các đảo TBD từ
phía đông Solomons đến Tahiti
16 A. australis Trơn 112 Đông Úc, New Zealand 2,5 95
4. Đặc điểm dinh dưỡng.
Cá chình là loài cá dữ, phàm ăn. Tất cả các loài cá đều là nguồn thức ăn
của cá chình. Từ côn trùng thủy sinh, giun ít tơ, tảo, côn trùng đến giáp xác và
các loài cá khác… Tùy theo từng giai đoạn phát triển của cá mà có sự chuyển đổi
nguồn thức ăn và cách bắt mồi [39]. Cá con khi mới vào cửa sông trong ruột và
dạ dày thường chứa một lượng mùn bã hữu cơ. Ở giai đoạn giống thức ăn của cá
chủ yếu là động vật phù du như copepoda, daphnia, moina… Ở giai đoạn trưởng
thành thức ăn của cá chình là cá, tôm, giáp xác… Lúc thiếu thức ăn chúng tranh
cướp thức ăn lẫn nhau và có xu hướng ăn thịt đồng loại [39].
Để phát triển, sinh sản và duy trì các hoạt động sinh lý bình thường khác,
cá chình cần phải được cung cấp Protein, Vitamin và các nguồn cung cấp năng
lượng khác. Sự thiếu hụt của một hay một vài chất dinh dưỡng khác nhau sẽ dẫn
đến tỷ lệ tăng trưởng giảm, cá dễ bị bệnh và có thể chết [28].
7
4.1. Protein
Protein là vật chất hữu cơ xây dựng nên các tổ chức mô của cá cũng như
động vật, protein chiếm khoảng 60 - 70% tổng số vật chất khô của cơ thể. Cá sử
dụng protein để đáp ứng nhu cầu amino acid, protein sau khi được các enzyme
protease thực hiện quá trình tiêu hóa hóa học giải phóng các amino acid tự do.
Các amino acid này sẽ được hấp thu qua thành ống tiêu hóa đi vào máu, được
Sự tiêu hoá và hấp thu lipid khác với quá trình tiêu hoá và hấp thu protein và
carbohydrate vì lipid không hoà tan trong nước. Sự tiêu hoá lipid bắt đầu từ khoang
miệng, bằng quá trình tiêu hoá cơ học để phân cắt lipid thành các mảnh có kích
thước nhỏ, sau đó chuyển xuống dạ dày. Sự vận động nhu động của dạ dày có tác
dụng phân cắt lipid xuống phần ruột trước, ở đây lipid bắt đầu quá trình tiêu hoá hoá
học [9].
Quá trình tiêu hoá hoá học do enzym lipasa thực hiện, nó phân cắt
triglyceride thành glycerin và các acid béo. Các acid béo mạch ngắn và các sản
phẩm của quá trình tiêu hoá lipid được hấp thu qua tế bào màng nhầy của ruột.
Các acid béo mạch dài, monoglyceride phân cực và không phân cực không hoà
tan trong nước, chúng liên kết với nhau thành các hạt mixen, kích thước từ 50 -
100 A
0
phân tán nhỏ trong nước, các hạt mixen chuyển đến các tế bào màng nhầy
của ruột và được hấp thu tại đây [9].
Động vật thuỷ sản có khả năng sinh tổng hợp một số acid béo như các
acid không no từ acetate, acid béo không no thành acid không no một nối đôi.
Tuy nhiên khác với thực vật, động vật thuỷ sản không có khả năng tăng số nối
đôi về phía gốc methyl (CH
3
) mà chỉ có thể cộng về phía gốc COOH, vì vậy các
acid béo không bảo hoà không thể tổng hợp được nếu thiếu tiền chất trong thức
ăn do động vật thuỷ sản thiếu enzym desaturated. Các thử nghiệm trên cá đã
chứng minh rằng linolenic acid (18: 3n-3) và linoleic acid (18: 2n-6) rất quan
9
trọng và là tiền chất cho sự tổng hợp các acid béo khác thuộc họ n-3 và n-6. Vì
vậy đối với cá, linolenic acid (18: 3n-3) và linoleic acid (18: 2n-6) là hai acid béo
thiết yếu [9],[25].
Những nghiên cứu về khả năng tiêu hoá lipid trên nhiều loài cá cho thấy
những acid béo không no có số lượng cacbon trong mạch càng nhiều càng dễ tiêu
Vitamin có bản chất hóa học rất cần thiết cho chức phận chuyển hóa cơ
thể trong quá trình đồng hóa. Vitamin phần lớn không được tổng hợp trong cơ
thể mà vào theo nguồn thức ăn của động vật [13]. Tuy nhiên, hàm lượng Vitamin
cần thiết ở cá cũng như các động vật khác chưa được xác định. Nhu cầu Vitamin
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tập tính dinh dưỡng, điều kiện sinh lý…[9]. Ở
Nhật Bản, hàm lượng Vitamin sử dụng cho cá chình phụ thuộc vào nhiệt độ
nước, khi nhiệt độ nước thấp hơn 18
o
C lượng Vitamin bổ sung vào là 5%. Khi
nhiệt độ nước lên trên 18
o
C hàm lượng Vitamin bổ sung vào là 10% [28].
5. Đặc điểm sinh sản
Giống cá chình Anguilla có khả năng sống ở cả nước ngọt và mặn. Chúng
có đặc điểm sinh sản khá độc đáo, hầu hết cả vòng đời của chúng sống ở nước
ngọt. Tuy nhiên, không ai có thể tìm thấy trứng đã thành thục của chúng trong
nước ngọt. Trên thực tế, cá chình sinh sản ở vùng biển sâu, xa đất liền [28][38].
Khi cá đến tuổi trưởng thành nhưng tuyến sinh dục chưa hoàn toàn
phát triển. Cá thực hiện cuộc di cư duy nhất một đi không trở lại ra biển khơi
để sinh sản [1]. Trong suốt hành trình di cư, cá không bắt mồi hay giảm
lượng bắt mồi rất lớn. Lúc này ống tiêu hóa của cá thoái hóa, gan nhỏ lại,
hàm lượng mỡ trong thịt giảm thấp, những chất dinh dưỡng tích lũy trong
gan, mỡ …cung cấp cho sự thành thục của tuyến sinh dục [15]. Tuyến sinh
dục chín dần, tại bãi đẻ ngoài biển khơi cá chình bắt cặp và sinh sản. Đó
cũng là lần sinh sản duy nhất trong đời của chúng. Chúng chết sau khi sinh
sản bởi những suy kiệt vì di cư và những thay đổi về sinh lý bất khả hồi do
chuyển từ môi trường nước ngọt sang môi trường biển [1].
Khi trứng đã rời khỏi cơ thể mẹ nổi lên tầng mặt nước, sau 24h trứng nở
thành ấu trùng tiny dài khoảng 5mm. Ấu trùng này phát triển trở thành ấu trùng
11
o
C cá bơi lội chậm chạp và ở trạng thái ngủ đông.
Ở nhiệt độ từ 1-2
o
C được xem là nhiệt độ thấp nhất cho sự sống của nó. Ở nhiệt
độ 12
o
C cá bắt đầu bắt mồi [15][28][47].
Sống
trong
vùng
nước
ngọt:
Đầm,
hồ,
sông,
suối.
BÃI ĐẺ NGOÀI ĐẠI DƯƠNG
(Độ mặn 30 – 35
0
/
00
)
Trứng được thụ tinh trôi nổi
ngoài đại dương
(B)
Ấu trùng dạng lá liễu
(C)
Cá chình giống lớn
Cá chình giống nhỏ dạng tròn,
màu đen (E)
13
Nhiệt độ 22-30
o
C là nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của cá, lúc
này cá ăn nhiều nhất, lớn nhanh, khả năng đề kháng bệnh cao, khi quá 30
o
C cá
bắt mồi không ổn định, lượng thức ăn giảm [15][28][47].
Nhiệt độ nước là yếu tố rất quan trọng khi nuôi cá chình, nó có thể giữ vai
trò quyết định sự thành công hay không.
6.2. Hàm lượng oxy hòa tan (DO)
Oxy hòa tan trong nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hô hấp, khả năng bắt
mồi và tăng trưởng của cá [39].
Hàm lượng oxy tối ưu cho sự phát triển của cá chình là 5-10mg/l
[4][15][39]. Hàm lượng oxy hoà tan trong nước cho cá chình yêu cầu trên 2mg/l.
Khi oxy hòa tan xuống quá mức chịu đựng (<2mg/l) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
cường độ bắt mồi, tốc độ sinh trưởng… Khi oxy vượt quá mức bão hòa 10mg/l
sẽ sinh ra bệnh bọt khí [4][11][42].
6.3. Độ mặn
Cá chình là loài có tính thích ứng rộng với độ mặn, cá có thể sống được ở
nước mặn, nước lợ, nước ngọt [15][28].
Trong vòng đời của cá chình, phần lớn thời gian sống ở nước ngọt. Ở giai
đoạn ấu thể cá chình sống ở môi trường nước mặn và lợ, trong giai đoạn phát
triển và trưởng thành đều sống ở môi trường nước ngọt, khi thành thục sinh dục
cá lại di cư ra biển để đẻ trứng [1][4][15][28].
Như vậy, khi nồng độ muối thay đổi mạnh, cá có thể điều tiết áp suất thẩm
thấu của cơ thể để phù hợp với môi trường [15].
6.4. Nồng độ pH
II. Tình hình nghiên cứu cá chình trên Thế giới và Việt Nam
1. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chình
Hơn ¾ thế kỷ qua có nhiều nghiên cứu quan tâm đến quá trình sinh sản
của cá chình và có không biết bao nhiêu công trình nghiên cứu để tái tạo giống cá
này trong điều kiện nhân tạo. Các nghiên cứu quá trình phát sinh giao tử (sinh
tinh và sinh noãn) của các loài cá chình đều nhận thấy: Trong thời kỳ sống ở
nước ngọt các quá trình này chỉ ở thời kỳ đầu, sự hình thành tuyến sinh dục của
chúng là rất sớm, ở giai đoạn cá chình dạng trong suốt. Quá trình đó cũng giống
như ở các loài cá xương khác [14].
Điều làm các nhà khoa học quan tâm là rất hiếm gặp cá chình cái trong
thời kỳ cá sống ở nước ngọt, có thể sự chuyển giới tính thành cá cái xảy ra vào
lúc cá chuyển sang thời kỳ sống ở biển.
15
Đã có những thực nghiệm nuôi tế bào sinh dục đực của cá chình trong
điều kiện invitro và đã đạt được kết quả: Từ tinh nguyên bào đã nhận được các
tinh tử và tinh trùng.
Tiến hành nghiên cứu trên cá chình Anguilla japonica các nhà khoa học
Trung Quốc và Nhật Bản đã cho đẻ nhân tạo trong bồn nhựa, cá được thuần hoá
bằng nước biển ở nhiệt độ 20
o
C trong 24h và được tiêm não thuỳ cá hồi để kích
thích thành thục. Sau khi tiêm thuốc kích thích, cá đực tiết tinh, khi vuốt bụng có
8/9 cá cái đã phóng trứng [1].
Thử nghiệm cho cá chình Châu Âu (A.anguilla) và cá chình Nhật
(A.japonica) sinh sản nhân tạo đã được tiến hành lần đầu tiên tại Pháp [44] và ở
Nhật 1960 [24]. Cuối năm 1973, hơn 100 ấu trùng của cá chình đã thu được bằng
phương pháp sinh sản nhân tạo khi được kính thích bằng thuốc kích dục tố,
nhưng số ấu trùng này chỉ sống được 6 ngày thì chết.
Các nghiên cứu nhằm điều khiển sinh sản của các loài cá chình và sản
xuất giống nhân tạo. Từ năm 1992, Nhật Bản đã nghiên cứu sản xuất nhân tạo
o
C
[31]. Nuôi cá chình trong nhà kính với hệ thống nước chảy tuần hoàn, cấp nhiệt
chủ động được thực hiện ở một số nước và đã đưa lại kết quả tốt. Tại Nhật Bản,
quá trình nuôi trong nhà kính với con giống được thả vào cuối năm đến mùa hè
năm sau cá có thể đạt kích cỡ thương phẩm. Mặc dù quá trình nuôi trong nhà
kính bước đầu còn khó khăn nhưng sau năm 1975 cá chình nuôi trở nên dễ dàng.
Qua nhiều năm, kỹ thuật nuôi cá chình được cải thiện và tinh vi hơn. Quá trình
này phát triển tạo nên kết quả tốt trong nền kinh tế [28].
Bảng 1.4: Sản lượng cá chình nuôi trong nhà kính tại Nhật
Năm
Cá chình giống
được thả (tấn)
Sản lượng cá chình
thương phẩm (tấn)
1975-1979
1980-1984
1985-1988
366,4
401,8
196,0
143.519
179.763
152.610
Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ nghề nuôi cá chình ở Nhật Bản đã làm
thức dậy mối quan tâm của các nhóm, các cơ sở nuôi cá thâm canh ở các nước Châu
Âu: Đức, Ý, Pháp và lan rộng một số nước Châu Á: Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia.
17
Đài Loan bắt đầu nuôi thực nghiệm vào năm 1923 và ứng dụng đầu tiên