Nghiên cứu ảnh hưởng các chế độ xử lý sorbitol đến chất lượng cá hố khô bằng phương pháp sấy bức xạ mặt trời kết hợp đối lưu - Pdf 22


i

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan về nguyên liệu cá hố 3
1.1.1.Đặc điểm và mùa vụ khai thác cá hố 3
1.1.2.Thành phần hóa học của cá hố nguyên liệu 5
1.1.3. Những biến đổi của cá sau khi chết 6
1.1.4. Yêu cầu kỹ thuật về nguyên liệu 6
1.2. Tổng quan về kỹ thuật sấy 6
1.2.1. Quá trình sấy 6
1.2.2. Đặc điểm quá trình sấy 7
1.2.2.1. Giai đoạn làm nóng vật 7
1.2.2.2. Giai đoạn sấy tốc độ không đổi 7
1.2.2.3 Giai đoạn sấy tốc độ giảm dần 8
1.2.3. Sự khuếch tán nước trong nguyên liệu 8
1.2.3.1. Sự khuếch tán của nước trong nguyên liệu 8
1.2.3.2. Khuếch tán ngoại 9
1.2.3.3. Khuyếch tán nội. 10
1.2.3.4. Mối quan hệ giữa khuếch tán ngoại và khuếch tán nội 10
1.2.3. Một số nhân tố ảnh hưởng tốc độ sấy. 11

1.5.4. Khái quát về Sorbitol 24
1.6. Tổng quan một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến sấy các sản
phẩm thủy sản. 25
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. Đối tượng nghiên cứu 28
2.2. Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1. Mục đích. 28
2.2.2. Nội dung 28
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.3.1. Nguyên liệu 29
2.2.3.2. Quy trình công nghệ dự kiến sản xuất cá hố khô có sử dụng sorobitol 29
2.2.3.2.1. Sơ đồ quy trình công nghệ : 29
2.2.3.2.2. Giải thích quy trình: 31

iii

2.2.3.3. Thiết bị, dụng cụ nghiên cứu 34
2.2.3.4. Các phương pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm. 34
2.2.3.5. Sơ đồ bố trí thí nghiệm. 38
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Kết quả nghiên cứu về sự biến đổi ẩm, tốc độ sấy và thời gian sấy cá hố trong
quá trình sấy bức xạ mặt trời 40
3.1.1. Kết quả nghiên cứu về sự biến đổi độ ẩm của các mẫu ngâm ở 15 phút 40
3.1.2. Kết quả nghiên cứu về sự biến đổi ẩm của các mẫu ngâm Sorbitol trong thời

Trang
Hình 1.1: Máy sấy ca cao bằng năng lượng mặt trời 18
Hình 1.2: Thiết bị sấy năng lượng mặt trời ở phòng thục hành CNL 18
Đồ thị 3.1: Sự biến đổi độ ẩm của các mẫu ngâm trong thời gian 15 phút 42
Đồ thị 3.2: Sự biến đổi về tốc độ sâý của các mẫu ngâm trong thời gian 15 phút 42
Đồ thị 3.3: Sự biến đổi độ ẩm của các mẫu ngâm trong thời gian 30 phút 50
Đồ thị 3.4: Sự biến đổi tốc độ sấy của các mẫu ngâm trong thời gian 30 phút 50
Đồ thị 3.5: Sự biến đổi độ ẩm của các mẫu ngâm trong thời gian 45 phút 53
Đồ thị 3.6: Biến đổi tốc độ sấy của các mẫu ngâm trong thời gian 45 phút 53
Đồ thị 3.7: Sự biến đổi độ ẩm của các mẫu ngâm trong thời gian 60 phút 57
Đồ thị 3.8: Sự biến đổi tốc độ sấy của các mẫu ngâm trong thời gian 60 phút 57
Hình 3: Sản phẩm tối ưu nhất 63
Đồ thị 3.9: Sự biến đổi độ ẩm của các mẫu đối chứng và mẫu tối ưu 66
Đồ thị 3.10: Sự biến đổi tốc độ sấy của các mẫu đối chứng và mẫu tối ưu. 66
Bảng 3.15: Điểm chất lượng cảm quan có trọng lượng của các mẫu đối chứng và mẫu tối
ưu. 68
Biểu đồ 3.1: Điểm cảm quan có trọng lượng của các mẫu đối chứng và mẫu tối ưu 68
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ hút nước trở lại của các mẫu đối chúng và mẫu tối ưu. 70 v

DANH MỤC BẢNG
Trang

vi

Bảng 3.20: Định mức tiêu hao nguyên liệu qua các công đoạn. 74
Bảng 3.21: Chi phí nguyên vật liệu để có 1 kg sản phẩm cá hố khô. 75 vii

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

SL: Sấy lạnh
XL: Xử lý
SBXMT : Sấy bức xạ mặt trời
xã hội ngày càng cao về chất lượng cũng như đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm
của người tiêu dùng cần nghiên cứu tìm tòi cải tiến công nghệ sản xuất các mặt
hàng thủy sản nói chung và mặt hàng cá khô nói riêng. Đối với mặt hàng khô đưa
công nghệ và sản xuất thay thế phương pháp sản xuất thủ công thô sơ là việc rất cần
thiết, trong đó kỹ thuật sấy đóng một vai trò hết sứ quan trọng. Vời mục đích cần

2

đạt được là: chất lượng cao, giá cả phải chăng, đảm bảo vệ sinh và an toàn thực
phẩm, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ngày nay trong công nghệ sản xuất mặt hàng khô thì công nghệ sấy sử dụng
rất nhiều máy móc thiết bị để có thể sản xuất ra mặt hàng là tốt nhất.
Được sự đồng ý của khoa chế biến trường Đại học Nha Trang và sự hướng
dẫn nhiệt tình của thầy TRẦN ĐẠI TIẾN cùng sự giúp đỡ của các thầy, cô và sự
cộng tác của các bạn dã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài: ”Nghiên cứu ảnh hưởng các
chế độ xử lý Sorbitol đến chất lượng cá hố khô bằng phương pháp sấy bức xạ
mặt trời kết hợp đối lưu”.
Mặc dù rất cố gắng trong quá trình thực nghiệm nhưng do kinh nghiệm và
thời gian có hạn nên đồ án không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự hổ
trợ và đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn đề đồ án được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
Nha Trang, tháng 6 năm 2009
Sinh viên thực hiện:

Cá hố là loài cá có giá trị kinh tế, sản lượng khai thác hàng năm cao (năm
2005 là 2.000 tấn).
Cá hố (Trichiurus hau menla)
Loài cá hố đầu rộng.
Tên khoa học: Trichiurus lepturus (linnaeus, 1786)
Tên tiếng Anh: Largehead hair tail.

4

Đặc điểm hình thái: Thân hình đai, dài, rất dẹp bên, đuôi thót nhỏ như một cái
gai dài dẹp bên. Chiều dàu thân bằng 14,3 – 15 lần chiều cao thân, bằng 7,3 – 7,5
lần chiều dài đầu. Xương lắp mang mỏng, rộng, mép trơn. Mắt tròn, lớn, khoảng
cách hai mắt hơi lõm, miệng rất rộng, hàm dưới dài hơn hàm trên. Răng nanh hình
ngạnh cầu, dẹp, khỏe. Xương lá mía và xương khẩu cái không có răng, khe mang
rất rộng lược mang nhỏ và thưa, thân không vẩy. Đường bên hoàn toàn chạy đến
sau vây ngực thì võng hẳn xuống gần viền bụng và chạy thẳng xuống đuôi, vây lưng


được phơi khô bằng phương pháp tự nhiên sử dụng ánh nắng mặt trời nên chất
lượng không đảm bảo chất lượng hiệu quả kinh tế chưa cao. Ngày nay, với chiến
lược kinh tế biển của Đảng và nhà nước nhằm nâng cao sản lượng đánh bắt, khai
thác thủy sản xa bờ. Sản lượng đánh bắt cá hố sẽ tăng lên. Vì vậy việc nghiên cứu
đưa vào công nghệ chế biến các biện pháp nâng cao chất lượng của nguồn lợi cá hố
là rất cần thiết.
Ngư cụ khai thác: lưới kéo, lưới vây, mành, vó, câu.
Dạng sản phẩm: cá hố có giá trị tương đối cao, có nhiều cỡ và được sử dụng để
ăn tươi, đông lạnh tươi, fillet, chả cá, surimi, cá khô, đóng hộp và các sản phẩm
phối chế khác.
1.1.2.Thành phần hóa học của cá hố nguyên liệu
Thành phần hóa học của cá khác nhau rất nhiều nó phụ thuộc vào tuổi, giống
(đực, cái), vùng đánh bắt, mùa vụ, môi trường và độ lớn của cá.Sự khác nhau về
thành phần hóa học của cá và sự biến đổi của chúng cũng làm ảnh hưởng đến mùi vị
và giá trị dinh dưỡng của sản phẩm, đến việc bảo quản tươi nguyên liệu và quá trình
chế biến…
Sự biến đổi thành phần hóa học của cá liên quan mật thiết với thức ăn mà
chúng ăn, với sự di cư và những biến đổi sinh dục liên quan đến sự sinh sản. Cá sẽ
có các giai đoạn đói do các nguyên nhân tự nhiên và sinh lý hoặc do các yếu tố
ngoại cảnh như khan hiếm thức ăn. Thông thường khi cá sinh sản đều cần nhiều
năng lượng hơn cho dù nó có phải di cư trên một quảng đường dài hay không. Cá
có các nguồn dự trữ năng lượng ở dạng lipid sẽ đáp ứng điều này. Ngoài nguồn
lipid, cá phải di cư quảng đường dài trước khi đến những bãi hoặc khúc sông để đẻ
có thể sử dụng protein để cung cấp năng lượng. Vì vậy cả hai nguồn dự trữ lipid và
protein đều bị giảm, dẫn đến giảm trạng thái sinh học của cá.
Thành phần hóa học thịt của cá hố:
Protein : 18.47 %
Nước : 78.98 %
Lipid : 1.05 %

1.1 và bảng 1.2 (Phụ lục 1)
1.2. Tổng quan về kỹ thuật sấy
1.2.1. Quá trình sấy
a. Khái niệm.
Sấy là một phương pháp bảo quản thực phẩm đơn giản, an toàn và dễ dàng.
Sấy làm giảm độ ẩm của thực phẩm đến mức cần thiết do đó vi khuẩn, nấm mốc và
nấm men bị ức chế hoặc không phát triển và hoạt động được, giảm hoạt động các
enzyme, giảm kích thước và trọng lượng của sản phẩm.
Quá trình sấy là quá trình làm khô các vật thể, các vật liệu, các sản phẩm bằng
phương pháp bay hơi nước. Như vậy, quá trình sấy khô một vật thể diễn biến như
sau:

7

+ Nung nóng vật liệu từ nhiệt độ ban đầu đến nhiệt độ bầu ướt tương ứng với
môi trường không khí xung quanh.
+ Vận chuyển ẩm từ các lớp bên trong ra bên ngoài.
+ Vận chuyển ẩm từ lớp bề mặt vật liệu ra môi trường bên ngoài.
b. Mục đích
Sấy nhằm làm giảm bớt lượng nước có trong nguyên liệu qua đó ức chế được
hoạt động của enzyme và vi sinh vật, kéo dài thời gian bảo quản. Ngoài ra sấy để
làm tăng hàm lượng chất khô, chất dinh dưỡng, tăng độ dẻo dai cho sản phẩm đồng
thời giúp cho quá trình chế biến cũng như vận chuyển được dễ dàng.
1.2.2. Đặc điểm quá trình sấy.

trường cũng không đổi. Điều này làm cho tốc độ giảm của độ chứa ẩm vật theo thời
gian cũng không đổi, có nghĩa là tốc độ sấy không đổi.
1.2.2.3 Giai đoạn sấy tốc độ giảm dần
Kết thúc giai đoạn sấy tốc độ không đổi ẩm tự do đã bay hơi hết, còn lại trong
vật là ẩm liên kết. Năng lượng để bay hơi ẩm liên kết lớn hơn ẩm tự do và càng tăng
lên khi độ ẩm của vật càng nhỏ. Do vậy tốc độ bay hơi ẩm trong giai đoạn này nhỏ
hơn giai đoạn sấy tốc độ không đổi có nghĩa là tốc độ sấy trong giai đoạn này nhỏ
hơn và càng giảm đi theo thời gian sấy. Quá trình sấy càng tiếp diễn, độ ẩm của vật
càng giảm, tốc độ sấy cũng giảm cho đến khi độ ẩm của vật bằng độ ẩm cân bằng
với điều kiện môi trường không khí ẩm trong buồng sấy thì quá trình thoát ẩm của
vật ngưng lại, có nghĩa là tốc độ sấy bằng không.
1.2.3. Sự khuếch tán nước trong nguyên liệu.
1.2.3.1. Sự khuếch tán của nước trong nguyên liệu.
Dưới sự ảnh hưởng của các nhân tố lý học như: hấp thụ nhiệt, khuếch tán , bay
hơi…làm nước trong vật liệu tách ra ngoài, đây là một quá trình rất phức tạp gọi là
làm khô. Nếu quá trình cung cấp nhiệt ngừng lại mà vẫn muốn duy trì quá trình sấy
là quá trình làm khô vật liệu phải được cung cấp một lượng nhiệt nhất định để vật
liệu có nhiệt độ cần thiết.
Nhiệt cung cấp cho vật liệu Q được đưa tới bằng ba phương thức: bức xạ
truyền dẫn và đối lưu. Sự cân bằng nhiệt khi làm khô được biểu thị:
Q = Q
1
+ Q
2
+ Q
3

Trong đó:
Q: là nhiệt lượng cung cấp cho nguyên liệu
Q

1.2.3.2. Khuếch tán ngoại.
Sự chuyển động của hơi nước trên bề mặt nguyên liệu vào không khí gọi là
khuếch tán ngoại. Lượng nước bay hơi do khuếch tán ngoại thực hiện được dưới
điều kiện: áp suất hơi nước bão hòa trên bề mặt nguyên liệu E lớn hơn áp suất riêng
phần của hơi nước trong không khí e, sự chênh lệch áp suất đó là:
∆P = E – e
Lượng nước bay hơi đi W tỉ lệ thuận với ∆P, với bề mặt bay hơi F và thời gian
làm khô là:
dW = B(E-e)F.dt
và tốc độ bay hơi nước được biểu thị như sau:
dt
dw
= BF(E-e)
Trong đó:
W: là lượng nước bay hơi (kg)
B: là hệ số bay hơi nước, nó phụ thuộc vào tốc độ gió, hướng gió và trạng
thái bề mặt nguyên liệu
E: là áp suất hơi nước bão hòa trên bề mặt nguyên liệu (mmHg)
e: là áp suất riêng phần của hơi nước trong không khí (mmHg)
F: là diện tích bay hơi nước (m
2
)
t: là thời gian bay hơi (giờ)


Trong quá trình sấy nếu khuếch tán nội lớn hơn khuếch tán ngoại thì quá trình
bay hơi sẽ nhanh, nhưng điều này rất ít gặp trong quá trình sấy. Thông thường,
khuếch tán nội của nguyên liệu thường nhỏ hơn tốc độ bay hơi trên bề mặt. Khi
khuếch tán nội nhỏ hơn khuếch tán ngoại thì quá trình bay hơi sẽ gián đoạn vì thế
điều chỉnh khuếch tán nội sao cho phù hợp với khuếch tán ngoại là vấn đề rất quan
trọng trong quá trình sấy.
Trong quá trình làm khô, ở giai đoạn đầu lượng nước trong nguyên liệu nhiều,
sự chênh lệch độ ẩm lớn, do đó khuếch tán nội thường phù hợp với khuếch tán
ngoại nên tốc độ làm khô tương đối nhanh. Nhưng, ở giai đoạn cuối thì lượng nước

11

còn lại trong nguyên liệu ít, tốc độ bay hơi bề mặt nhanh mà tốc độ khuếch tán nội
chậm lại tạo thành một màng cứng làm ảnh hưởng rất lớn cho quá trình khuếch tán
nội. Vì vậy làm ảnh hưởng đến quá trình làm khô nguyên liệu.
Sự dịch chuyển của nước trong quá trình làm khô trước hết là nước tự do sau
đó mới đến nước liên kết. Trong suốt quá trình làm khô, lượng nước tự do luôn
giảm xuống. Lượng nước trong nguyên liệu dịch chuyển dưới hai hình thức là thể
lỏng và thể hơi do phương thức kết hợp của nước trong nguyên liệu quyết định.
1.2.3. Một số nhân tố ảnh hưởng tốc độ sấy.
1.2.3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí.
Trong các điều kiện khác nhau không đổi như độ ẩm không khí, tốc độ
gió ,việc nâng cao nhiệt độ sẽ làm tăng nhanh tốc độ làm khô do lượng nước trong
nguyên liệu giảm xuống càng nhiều. Nhưng tăng nhiệt độ cũng ở giới hạn cho phép

độ gió quá lớn hoặc quá nhỏ đều không có lợi cho quá trình sấy. Vì vậy, tốc độ
chuyển động của không khí quá lớn khó giữ nhiệt lượng trên nguyên liệu để cân
bằng quá trình sấy, còn tốc độ quá nhỏ sẽ làm cho quá trình sấy chậm lại, dẫn đến
sự hư hòn sản phẩm, mặt ngoài sản phẩm sẽ lên mốc gây thối rữa tạo thành lớp dịch
nhầy có mùi, vị khó chịu. Vì vậy, cần phải có một tốc độ gió thích hợp, nhất là giai
đoạn đầu của quá trình làm khô.
Hướng gió cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình làm khô, khi hướng gió song
song với bề mặt nguyên liệu thì tốc độ làm khô rất nhanh. Nếu hướng gió thổi tới
nguyên liệu với góc 45
0
thì tốc độ làm khô tương đối chậm, còn thổi thẳng vuông
góc với nguyên liệu thì tốc độ làm khô rất chậm
1.2.3.3. Ảnh hưởng của độ ẩm tương đối của không khí.
Độ ẩm tương đối của không khí cũng là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến quá
trình làm khô, độ ẩm của không khí càng lớn quá trình làm khô sẽ chậm lại. Các
nhà Bác học Liên Xô cũ và các nước trên thế giới đã chứng minh là: độ ẩm tương
đối của không khí lớn hơn 65% thì quá trình sấy sẽ chậm lại rõ rệt, còn độ ẩm tương
đối của không khí khoảng 80% trở lên thì quá trình làm khô sẽ dừng lại và bắt đầu
hiện tượng ngược lại, tức là nguyên liệu sẽ hút ẩm trở lại.
Để cân bằng ẩm, khuếch tán nội phù hợp với khuếch tán ngoại và tránh được hiện
tượng tạo màng cứng, người ta áp dụng phương pháp làm khô gián đoạn là vừa sấy
vừa ủ.
Làm khô trong điều kiện tự nhiên khó đạt được độ ẩm tương đối của không khí
50% đến 60% do nước ta có khí hậu nhiệt đói thường có độ ẩm cao. Do đó, một
trong những phương pháp để làm giảm độ ẩm của không khí có thể tiến hành làm
lạnh cho hơi nước ngưng tụ lại, đồng thời hàm ẩm tuyệt đối của không khí dưới
điểm sương hơi nước sẽ ngưng tụ, đồng thời hàm ẩm tuyệt đối của không khí cũng
được hạ thấp. Như vậy, để làm khô không khí người ta thường áp dụng phương
pháp làm lạnh.


như trạng thái ban đầu.
b. Những biến đổi về hóa học:
- Sự thủy phân và oxy hóa lipid:
+ Sự thủy phân lipid: Trong quá trình làm khô đặc biệt là ở giai đoạn đầu có
thể xảy ra quá trình thủy phân lipid tạo thành glyceril và acid béo làm giảm chất
lượng sản phẩm.

14

Lipase
Nước

Triglycerid Glyceril + acid béo

+ Oxy hóa lipid: Trong quá trình làm khô các acid béo, đặc biệt là các acid
béo không no dễ bị hóa tạo thành các sản phẩm trung gian như: peroxyd,
hydroperoxyd, rồi tạo ra aldehyd, cetol…làm cho sản phẩm có mùi ôi khét khó chịu
và có màu sẫm tối. Mức độ oxy hóa lipid phụ thuộc vào phương pháp làm khô,
nhiệt độ, thời gian làm khô và bản thân nguyên liệu.
- Sự đông đặc và biến tính của protein:
Khi làm khô ở áp lực thường, sự đông đặc và biến tính của protein phụ thuộc
vào nguyên liệu. Nếu nguyên liệu đã được gia nhiệt thì protein ít bị biến đổi vì nó
đã biến đổi từ trước. Đối với nguyên liệu ướp muối nếu điều kiện làm khô không tốt
thì protein bị biến đổi nhiều. Đặc biệt đối với nguyên liệu tươi chưa qua xử lý nhiệt

hiệu quả kinh tế thấp, chất lượng không được đảm bảo, nếu trời không nắng tốc độ
khô của cá hố lâu làm ảnh hưởng đến chất lượng của cá hố.
1.3.2. Sấy khô cưỡng bức
1.3.2.1. Phòng sấy kiểu phòng.
a. Phòng sấy kiểu phòng thông gió tự nhiên
Đây là một phòng sấy phổ thông có thể áp dụng rộng rãi ở khắp mọi nơi. Trên
thực tế các ngư dân không có điện, không có nồi hơi thì việc sấy khô trên cơ bản là
vào kiểu sấy này. Nhiệt lượng tỏa ra của than đốt thường là than đá hay than gỗ.
Nguyên tắc thông gió:
Dựa vào sự chênh lệch của nhiệt độ trong và ngoài phòng sấy, dẫn tới sự
chênh lệch về áp suất và tạo nên dòng không khí lưu thông tự nhiên. Quá trình làm
việc của nó là không khí ở ngoài trời đi vào lò đốt được gia nhiệt biến thành không
khí nóng đi vào lò đem đến cho cơ thể cá hố một nhiệt lượng cần thiết để nước
trong cá hố đi ra rồi qua ống thoát ẩm ra ngoài. Dựa vào phương hướng lưu thông
của không khí có thể chia ra làm 2 kiểu phòng sấy:
+ Phòng sấy cung cấp hơi nóng tự nhiên từ trên xuống:
Nguyên lý làm việc của thiết bị: không khí lạnh vào lưới lọc, không khí được
gia nhiệt thành không khí nóng đi qua lá chắn phân phối để cung cấp nhiệt cho
nguyên liệu từ trên xuống, không khí khô hút ẩm của nguyên liệu trở thành không
khí ẩm rồi đi qua ống thoát ẩm và ra ngoài. Để đảm bảo cho sự lưu thông của phòng
sấy này được tốt thì nhiệt độ trong phòng sấy phải trên 80
0
C
Nhược điểm: Nhiệt độ sấy có yêu cầu không quá 40
o
C nhưng với nhiệt độ thấp
đó không đảm bảo cho không khí trong phòng sấy tuần hoàn được, nhất là những
mùa nhiệt độ không khí ở ngoài thấp do đó loại phòng sấy này không áp dụng để
đoạn đầu nhiệt độ khoảng 40 – 50
o
C và sau khi sấy bán khô thì nâng nhiệt độ lên 70
– 80
o
C và sấy đến khô. Để hiệu suất được cao nên giảm nhỏ chiều dày của nguyên
liệu và nên áp dụng phương pháp sấy gián đoạn. Thời gian sấy phụ thuộc vào loại
nguyên liệu. Tốc độ gió ở giai đoạn đầu khoảng 3 – 4 m/s và giai đoạn sau khoảng 5
– 6 m/s. 17

1.3.3. Sấy khô bằng bức xạ hồng ngoại kết hợp với sấy lạnh
Tia hồng ngoại là những bức xạ không nhìn thấy được có bước sóng lớn hơn
bước sóng của ánh sáng đỏ 0.75

m.
Tia hồng ngoại có bản chất là sóng điện từ. Tia hồng ngoại do các vật được
nung nóng phát ra.
Vật có nhiệt độ thấp chỉ phát ra tia hồng ngoại. Chẳng hạn như cơ thể con
người ở nhiệt độ 37
o
C chỉ phát ra tia hồng ngoại trong đó mạnh nhất là tia có bước 18

lượng thế giới năm 1968 và 1973, NLMT càng được đặc biệt quan tâm. Các nước
công nghiệp phát triển đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu ứng dụng NLMT.
- Hiện nay NLMT được ứng dụng khá phổ biến trong lĩnh nông nghiệp để sấy
các sản phẩm như ngũ cốc, thực phẩm nhằm giảm tỷ lệ hao hụt và tăng chất
lượng sản phẩm. Ngoài mục đích để sấy các loại nông sản, NLMT còn được dùng
để sấy các loại vật liệu như gỗ.

Hình 1.1: Máy sấy ca cao bằng năng
lượng mặt trời
1.3.4.2. Thiết bị sấy bức xạ mặt trời ở phòng thí nghiệm
Hình 1.2: Thiết bị sấy năng lượng mặt trời ở phòng thục hành CNL


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status