Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------
LÊ THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU GIẢM PROTEIN THÔ
TRÊN CƠ SỞ CÂN ĐỐI MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU
TRONG THỨC ĂN HỖN HỢP ĐẾN SINH TRƢỞNG CỦA
LỢN CON GIAI ĐOẠN CAI SỮA - 56 NGÀY TUỔI L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
H
O
O
A
AH
H
Ọ
Ọ
C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------ LÊ THỊ HÀ
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ LYSINE TRÊN NĂNG LƢỢNG
TRAO ĐỔI VÀ NGHIÊN CỨU GIẢM PROTEIN THÔ
TRÊN CƠ SỞ CÂN ĐỐI MỘT SỐ AXIT AMIN THIẾT YẾU
TRONG THỨC ĂN HỖN HỢP CỦA LỢN CON
GIAI ĐOẠN 28 ĐẾN 56 NGÀY TUỔI L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
Ă
H
H
Ọ
Ọ
C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
P
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình tạo điều kiện
và đóng góp những ý kiến quý báu để trình và hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Đảng uỷ - Ban giám hiệu nhà trường, Khoa sau đại học,
Khoa Chăn nuôi - Thú y, các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đặc
biệt là Thầy giáo, Phó Giáo sư - TS Trần Văn Phùng trực tiếp hướng dẫn tôi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ,
trường Trung học Nông nghiệp Phú Thọ, Phòng Thí nghiệm Trung tâm - Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, Trại Chăn nuôi lợn nái ngoại Tân Thái, Trại Chăn nuôi lợn
Cương Hường đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Để hoàn thành luận văn này tôi còn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình
và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái nguyên, tháng 10 năm 2007
Tác giả
Lê Thị Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin,
tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái nguyên, tháng 10 năm 2007
1.1.8. Vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi hiện nay. 32
1.1.9. Vấn đề sử dụng khẩu phần ăn giảm protein có bổ sung thêm axit amin
hiện nay
33
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. 35
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước. 35
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 39
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
44
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 44
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 44
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 44
2.1.3.Thời gian nghiên cứu 44
2.2. Nội dung nghiên cứu
44
2.3. Phương pháp nghiên cứu
45
2.3.1. Phương pháp tiến hành các thí nghiệm
45
2.3.1.1. Nguyên tắc chung
45
2.3.1.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 1
46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
2.3.1.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 2.
47
2.3.1.4. Phương pháp chế biến và phối trộn thức ăn thí nghiệm
52
3.1.2. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn thí nghiệm 1
59
3.1.3. Tiêu tốn thức ăn/ 1 kg tăng khối lượng lợn con từ 28 - 56 ngày tuổi (kg)
61
3.1.4 Tiêu tốn protein và lysine/kg tăng khối lượng của lợn
62
3.1.5. Chi phí thức ăn/ 1 kg tăng khối lượng lợn con từ 28 - 56 ngày tuổi
(đồng)
63
3.2. Kết quả thí nghiệm 2 66
3.2.1. Kết quả thí nghiệm 2a 66
3.2.1.1. Sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm 2a 66
3.2.1.2. Sinh trưởng tương đối và sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 2a 67
3.2.1.3 Tiêu tốn thức ăn / 1 kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 2a 69
3.2.1.4 Tiêu tốn protein và lysine/kg tăng khối lượng của lợn 70
3.2.1.5. Chi phí thức ăn/ kg tăng khối lượng giai đoạn lợn con cai sữa đến 56
ngày tuổi
72
3.2.1.6 Lượng nitơ thải ra trong phân, nước tiểu và nồng độ một số khí độc hại 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
trong chuồng nuôi
3.2.2. Kết quả thí nghiệm 2b 74
3.2.2.1. Khả năng sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 74
3.2.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn thí nghiệm 2b 76
3.2.2.3. Tiêu tốn thức ăn, protein và lysine /1kg tăng khối lượng lợn con thí
nghiệm 2b
78
3.2.2.4. Chi phí thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn con thí nghiệm 2b 80
Vật chất khô : VCK
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ix
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
NỘI DUNG TRANG
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 46
Bảng 2.2. Công thức và thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 1
(%)
47
Bảng 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2a 48
Bảng 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2b 49
Bảng 2.5. Công thức và thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 2a
(%)
50
Bảng 2.6. Công thức và thành phần dinh dưỡng của thức ăn
thí nghiệm 2b (%)
51
Bảng 3.1. Sinh trưởng tích luỹ của lợn con thí nghiệm 1 57
Bảng 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 1 60
Bảng 3.3. Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 1 60
Bảng 3.4. Tiêu tốn thức ăn/ 1 kg tăng khối lượng từ 28 - 56 ngày tuổi của
thí nghiệm 1
61
Bảng 3.5. Tiêu tốn protein và lysine/ 1 kg tăng khối lượng từ 28 - 56 ngày
tuổi của thí nghiệm 1
62
Bảng 3.6. Chi phí thức ăn/ 1 kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm 1 65
Bảng 3.7. Sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm 2a 66
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
xi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ LAI TẠO TRONG LUẬN VĂN
Biểu đồ. Hoạt động của men tiêu hoá ở giai đoạn lợn con .................................................... 9
Sơ đồ: Sơ đồ lai tạo các dòng lợn PIC ................................................................................... 6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Chúng ta biết rằng, quá trình sinh trưởng và phát triển của của lợn con
giai đoạn sau cai sữa đến 56 ngày tuổi đòi hỏi đầy đủ về nhu cầu dinh dưỡng
đặc biệt là protein. Về thực chất, nhu cầu protein của lợn con chính là nhu cầu
về các axit amin. Nếu bổ sung không đầy đủ các axit amin thiết yếu cho lợn
con, kể cả về mặt số lượng và tỷ lệ các axit amin, sẽ dẫn đến sinh trưởng của
lợn con bị ảnh hưởng, lợn chậm lớn, ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của
các giai đoạn tiếp theo. Mặt khác nếu khẩu phần ăn cho lợn con trong giai
đoạn này có đủ hoặc dư thừa lượng protein mà không đủ về mặt số lượng và
tỷ lệ các axit amin thiết yếu sẽ dẫn đến việc đào thải protein ra môi trường,
gây lãng phí thức ăn và ảnh hưởng đến môi trường sinh sống của cả gia súc
lẫn con người.
Ngay từ những năm đầu của thập niên 60, rất nhiều nghiên cứu về nhu
cầu của lysine và methionine cho gia súc và gia cầm đã được tiến hành với lý
do đây là những axit amin giới hạn đầu tiên và khả năng đáp ứng trong sản
xuất. Cho đến những năm 1980, việc sản xuất tryptophan và threonine mới có
khả năng đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn chăn nuôi, đây là khởi đầu cho
các nghiên cứu nhằm cung cấp đủ nhu cầu axit amin và giảm thiểu việc thừa
- Xác định mức giảm protein thô thích hợp trong thức ăn cho lợn con
trên cơ sở cân đối lysine, methionine, threonine và tryptophan nhằm tiết kiệm
thức ăn đạm, làm tăng hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn con giai đoạn này.
- Giảm thiểu các chất thải ra bên ngoài môi trường như hàm lượng nitơ
trong phân, nước tiểu và một số khí H
2
S, NH
3
, SO
2
, … bằng việc giảm tỷ lệ
protein tổng số trong thức ăn có cân đối đủ một số axit amin thiết yếu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Sử dụng con lai trong chăn nuôi lợn hiện nay
Như chúng ta đều biết, trong chăn nuôi gia súc gia cầm nói chung, chăn
nuôi lợn nói riêng thì công tác giống đóng vai trò rất quan trọng trong việc
+ Lai kinh tế: Kết quả của lai kinh tế là con lai F
1
chỉ
dùng vào mục
đích nuôi thịt hoặc cho cá thể khác dòng đã có sự phân hoá về di truyền giao
phối để tạo con lai, cũng chỉ sử dụng vào mục đích nuôi thịt. Có 3 phương
pháp lai kinh tế, đó là:
- Lai kinh tế đơn giản, đây là phương pháp lai đơn giản và sử dụng
được tối đa 100% ưu thế lai từ con lai bố mẹ nhằm nâng cao một số đặc điểm
tốt ở các giống, mục đích của hình thức lai này là sử dụng ưu thế lai tạo lợn
thịt thương phẩm.
- Lai kinh tế phức tạp 3 giống: Là lai từ 3 giống trở lên, tạo con lai
thương phẩm có 3 máu cho năng suất cao. Công thức lai chung là (C x AB).
Hiện nay công thức lai 3 giống phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ là dùng giống
Móng cái, Yorkshire và Landrace, hoặc chăn nuôi lợn ngoại Yorkshire,
Landrace và Duroc. Kết quả cuối cùng của công thức lai 3 máu là con lai
thương phẩm có khả năng tăng khối lượng cao, mức tiêu tốn thức ăn ít, độ
dày mỡ lưng thấp, sức sống cao…
- Lai kinh tế 4 giống: Sử dụng con bố là đực lai, con mẹ là cái lai, công
thức tổng quát là (AB x CD). Đây là phương pháp lai có sử dụng 4 giống
thuần để tạo lợn thịt thương phẩm theo cách 2 giống làm thành một cặp.
Hiện nay trong ngành chăn nuôi ở nước ta chưa ứng dụng rộng rãi phương
pháp lai kép này vì chúng ta chưa có cơ sở tạo được dòng thuần cao sản, gồm
các gen thuần trội để các con lai có thể phát huy ưu thế lai mạnh mẽ hơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
+ Lai cải tiến: Là phương pháp dùng để sửa chữa khuyết, nhược điểm
của một giống nào đó, mà về cơ bản giống này đã đáp ứng được yêu cầu của sản
đực 402 sẽ tạo ra con lai hybrid 5 giống để nuôi thịt. Lợn lai hybrid nuôi
thịt 4 hoặc 5 giống có năng suất chăn nuôi cao, phẩm chất thịt tốt (Tỷ lệ
nạc cao), phù hợp với phương thức chăn nuôi công nghiệp hiện nay, được
thị trường ưa chuộng. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần phải đáp
ứng đầy đủ về dinh dưỡng (số lượng và chất lượng thức ăn), về chăm sóc
nuôi dưỡng ...
Sơ đồ lai tạo các dòng lợn PIC
L19
Duroc lai
L95
Meishan
L06
7
1.1.2. Đặc điểm tiêu hoá của lợn con giai đoạn sau cai sữa
Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn theo mẹ là làm thế nào
để lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, khi nuôi thịt lợn sinh trưởng phát triển
nhanh, đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và giúp chúng ta nâng cao được sức
sống của đàn con. Để đạt được mục đích trên, bên cạnh việc tao cho lợn con
điều kiện chăm sóc tốt, chúng ta cần hiểu rõ các đặc điểm của lợn con giai
đoạn theo mẹ, đặc biệt là đặc điểm của cơ quan tiêu hoá lợn con để từ đó phối
hợp được khẩu phần thức ăn phù hợp.
Đặc điểm cơ quan tiêu hoá của lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển
nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hoá: Dung tích của dạ
dày lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày
tuổi tăng gấp 8 lần lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh
khoảng 0,03 lít).
Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh,
lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần. Dung tích ruột già
của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5
lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần.
Về chức năng tiêu hoá: lợn con mới sơ sinh các men tiêu hoá chưa có
hoạt lực cao, trong giai đoạn theo mẹ, chức năng tiêu hoá của một số men tiêu
hoá được hoàn thiện dần:
- Men pepsin: Lợn con dưới một tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày
chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này trong dịch vị không
có HCl tự do, lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy
của dạ dày, gây ra hiện tượng thiếu axit hay còn gọi là "Hypoclohydric".
Đây là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con. Khi có HCL
tự do sẽ kích hoạt men pepsinogen và men này mới có khả năng tiêu hoá.Vì
thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào
dạ dày dễ sinh sôi nẩy nở và phát triển gây ra các bệnh về đường tiêu hoá ở
lợn con.
giảm dần.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9 Hoạt động của một số loại men tiêu hoá ở lợn con được trình bày tại
(biểu đồ 1).
Qua đó chúng ta thấy men amylase, maltase và protease tăng dần theo sự
tăng lên của ngày tuổi, men lipase tăng dần đến khi cai sữa sau đó giảm dần. Riêng
men lactase tăng cao nhất ở giai đoạn 2 tuần tuổi sau đó giảm dần theo sự tăng lên
của ngày tuổi. Đây chính là điểm cần lưu ý khi bổ sung thức ăn cho lợn con.
Thông thường lợn con sau cai sữa thường rất hay bị tổn thương nhung
mao ở thành ruột non do ảnh hưởng của thức ăn, khi đó sẽ giảm khả năng sản
xuất men tiêu hoá của lợn con, giảm khả năng tiêu hoá và hấp thụ thức ăn.
Thức ăn không được hấp thụ sẽ chuyển xuống ruột già, làm tăng sự phát triển
của vi sinh vật có hại và tăng khả năng bùng phát vi khuẩn E.coli làm cho lợn
bị ỉa chảy. Biểu hiện bên ngoài của hiện tượng này là lợn con gầy, sút cân,
lông da nhợt nhạt, sinh trưởng giảm. Do vậy thức ăn bổ sung cho lợn con phải
đáp ứng được khả năng tiêu hoá của chúng.
Nhiều thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột
dạng này cơ thể sử dụng tốt, một số axit amin ở dạng D. Trong công nghiệp
người ta đã tổng hợp được hỗn hợp axit amin dạng D và dạng L.
Trong 20 loại axit amin thường gặp trong tự nhiên không phải chất nào
cũng có tầm quan trọng như nhau. Có những axit amin không nhất thiết phải
có mặt trong thức ăn, và nếu thiếu chúng thì trong cơ thể động vật có thể tổng
hợp được từ những chất khác. Đó là các axit amin có thể thay thế, ngược lại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
có những axit amin không thể thay thế được, chúng nhất thiết phải có sẵn
trong thức ăn người ta gọi chúng là các axit amin không thể thay thế, gồm:
lysine, methionine, tryptophan, leucine, isoleucine, threonine, phenyllalanine,
valine, hystidin, arginine.
Vai trò sinh học của lysine, methionine, tryptophan, leucine, isoleucine,
threonine, phenyllalanine, valine, hystidin được xác định ở chỗ chúng có
trong tất cả các protein quan trọng của cơ thể động vật, nhưng cơ thể không tự
tổng hợp được, và không thay thế chúng bằng những axit amin khác. Vì vậy
chúng được gọi là axit amin không thể thay thế. Các axit amin này cần được
đưa vào cơ thể động vật từ thức ăn với số lượng theo nhu cầu tương ứng.
Thiếu một trong 10 axit amin không thay thế trong khẩu phần thức ăn sẽ gây
ảnh hưởng xấu tới trạng thái của động vật: động vật non sẽ ngừng lớn, phát
triển kém, động vật trưởng thành sẽ giảm thể trọng, kém ăn dễ bị mắc bệnh.
Bởi vì, khi thiếu axit amin trong cơ thể không thể tổng hợp được protein tế
bào, máu và bạch cầu, mà trong thành phần của các hợp chất này cần phải có
những axit amin đó. Như vậy việc tổng hợp các enzyme cũng sẽ chậm lại, khi
thiếu các enzyme việc trao đổi chất sẽ không thể thực hiện được. Như vậy,
thiếu axit amin không thay thế làm phá hủy hoạt động sống của động vật.
Quá trình tích luỹ protein bị ảnh hưởng bởi sự thiếu hụt của axit amin
trong khẩu phần, thức ăn của lợn chủ yếu là các loại ngũ cốc nên thường
nghèo protein và không cân đối dinh dưỡng, đặc biệt là sự cân đối các axit
- Axit amin thứ ba là methionine: Trong phân tử methionine chứa một
nguyên tử lưu huỳnh và nhóm metyl ( - CH
3
) rất không bền, nhóm này được
cơ thể sử dụng để metyl hóa những hợp chất khác. Không có hoặc thiếu axit
amin này lợn ngừng sinh trưởng, hiệu suất sử dụng thức ăn thấp, thường thấy
hiện tượng thiếu máu, tích mỡ ở gan, làm giảm hoạt động tuyến tụy, cơ bị teo.
Methionine đóng vai trò quan trọng trong các quá trình biến đổi của nhiều
chất, như: protein, chất béo, hocmon, cholesteron, trong hoạt động của hệ
thần kinh, trong quá trình chuyển hóa amin hóa và quá trình oxi hóa khử ở các
mô của cơ thể,... Trong cơ thể động vật methionine có liên quan chặt chẽ với
sự tạo thành và trao đổi colin, vitamin B
12
và axit folic. Cùng với những chất
này methionine làm tăng khả năng sử dụng chất béo trong khẩu phần thức ăn
của động vật. Nhu cầu methionine ở động vật trưởng thành cao hơn so với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
động vật còn non, có thể là sự liên quan với sự phát triển của lông (ở lông
chứa rất nhiều lưu huỳnh). Trong khẩu phần của lợn con sẽ thiếu methionine
khi giảm lượng protein có nguồn gốc động vật. Nếu trong khẩu phần có
vitamin B
12
làm giảm nhu cầu của methionine. Trường hợp thiếu methionine
và cystine trong thức ăn sẽ rối loạn dinh dưỡng ở gan lợn, nếu thêm hai axit
amin đó vào khẩu phần, cũng như vitamin E sẽ loại trừ được hiện tượng kể
trên. Việc dư thừa methionine trong khẩu phần thức ăn sẽ làm giảm khá nhiều
tốc độ sinh trưởng của động vật. Trong trường hợp này methionine được xem
như là một chất độc (Ngoài tác dụng làm giảm tốc độ sinh trưởng còn làm
sẽ bị mỡ hoá, động vật bị sụt cân. Khi thiếu cả threonine và tryptophan trong
thức ăn, động vật sẽ bị mỡ hoá ở gan giống như trường hợp thiếu threonine.
- Phenyllalanine: Trong cơ thể phenyllalanine là một axit amin không
thể thay thế, biến đổi và tạo thành các hợp chất khác trong quá trình trao đổi
chất. Trong khẩu phần không đủ phenyllalanine thì lợn sẽ sút cân và tăng chi
phí về thức ăn.
- Valine: Valine rất cần thiết đối với hoạt động bình thường của hệ thần
kinh. Khi không đủ valine trong khẩu phần thức ăn, động vật sẽ giảm thể
trọng, rối loạn phối hợp các chuyển động, bắp thịt bị yếu đi.
- Arginine: Axit amin này có trong các protein kiềm tính với một
lượng khá lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thành urê. Trong cơ
thể arginine sẽ biến thành ocnitin, mà ocnitin có tác dụng rất lớn trong quá
trình tổng hợp urê. Arginine có tác dụng dương tính trong chăn nuôi gia cầm
rõ rệt. Gà con hầu như không tổng hợp được arginine. Axit amin này có ảnh
hưởng đến việc hấp thụ canxi, cùng với glysine cũng có ảnh hưởng đến sự
phát triển lông ở gia cầm.
1.1.4. Sản xuất và sử dụng axit amin tổng hợp trong chăn nuôi lợn
Hiện nay, trên thị trường đã có 4 loại axit amin được sử dụng rộng rãi
trong công nghiệp chế biến thức ăn. Đứng đầu là L-lysine HCl, đây là loại
axit amin được sử dụng rộng rãi nhất trong thức ăn cho lợn. Ba loại axit amin