LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả,
số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong
bất kỳ công trình nào.
NGUYỄN MINH
PHÁT
i
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi đến Ban Giám hiệu, Khoa Nuôi trồng Thủy sản,
Phòng Đào tạo Đại học & Sau đại học Trường Đại Học Nha Trang sự kính trọng
và niềm tự hào đã được học tập và nghiên cứu tại Trường trong những năm qua.
Xin chân thành cảm ơn đến Thầy TS. Nguyễn Đình Mão, người đã
đ
ịnh
hướng, động viên và cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian tôi
học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND tỉnh Phú Yên, Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở khoa học và Công nghệ, Công ty Phát triển
kinh tế Thanh niên xung phong đã tạo điều kiện cho tôi về kinh phí trong suốt
thời gian học tập tại Trường Đại học Nha Trang và thực hiện đề tài tại tỉnh Phú
Yên.
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy, Cô trong Khoa Nuôi
trồng Thủy sản đã luôn sẵn lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Chân thành cảm ơn Trung tâm Giống và Kỹ thuật thủy sản, Trung tâm
Khuyến nông – Khuyến ngư, Chi cục đo lường chất lượng tỉnh Phú Yên, Viện
nghiên cứu Công nghệ sinh học và Môi trường – Trường Đại học Nha Trang,
Thạc sĩ Lê Vịnh - Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III đã giúp đỡ tôi trong
quá trình làm thực nghiệm và phân tích mẫu thí nghiệm.
Cuối cùng, là lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người đã giúp đỡ
II. Tình hình nghiên cứu cá chình trên Thế giới và Việt Nam 14
1. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chình 14
2. Hiện trạng nghề nuôi cá chình trên thế giới 15
3. Hiện trạng nghề nuôi cá chình tại Việt Nam 18
iii
4. Vài nét về nghề nuôi cá chình ở Phú Yên 20
Chương II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
1. Đối tượng nghiên cứu 22
2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
3. Hệ thống thí nghiệm 22
4. Thức ăn thí nghiệm 22
5. Bố trí thí nghiệm 23
6. Chăm sóc và quản lý 23
7. Sơ đồ khối bố trí thí nghiệm nuôi cá chình với các loại thức ăn khác nhau
trong bể xi măng 24
8. Phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu 25
8.1. Phương pháp thu mẫu: 25
8.2. Phương pháp phân tích mẫu: 25
9. Phương pháp xử lý số liệu 25
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. Một số yếu tố môi trường và thức ăn trong thí nghiệm 29
3.1.1. Một số yếu tố môi trường thí nghiệm 29
a. Nguồn nước 29
b. Một số yếu tố môi trường ( pH, Oxy, Nhiệt độ ) trong bể nuôi 31
3.1.2. Thức ăn trong thí nghiệm 34
a. Thức ăn công nghiệp 34
b. Thức ăn tươi sống 34
3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng protein đến tốc độ sinh trưởng của cá Chình
bông 35
3.2.1. Ảnh hưởng của các loại thức ăn công nghiệp có mức protein khác
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Nuôi trồng thuỷ sản
Thái Bình Dương
Số thứ tự
Khối lượng thân
Công thức thức ăn
Thức ăn công nghiệp
Hệ số thức ăn
Tấn
Miligam trên lit
gam
Phần trăm
Phần nghìn
WG (%): Weight Gain: Tốc độ tăng trưởng tương đối theo khối
lượng
SGR (%): Specific Growth Rate: Tốc độ tăng trưởng đặc trưng
FCR: Feed Conversion Ratio: Hệ số chuyển đổi thức ăn
ECR: Economic Conversion Ratio: Chỉ số chuyển đổi kinh tế
M: thức ăn tươi sống
M1: Thức ăn công nghiệp có hàm lượng Protein 45%
M2: Thức ăn công nghiệp có hàm lượng Protein 47%
Hình 3.2: Diễn biến của Ôxy nước nuôi 33
Hình 3.3: Diễn biến của pH nước nuôi 33
Hình 3.4: Sinh trưởng về chiều dài của cá chình ở các loại thức ăn công 36
nghiệp khác nhau sau 180 ngày nuôi thử nghiệm (n=50) 36
Hình 3.5: Sinh trưởng về khối lượng của cá chình ở các loại thức ăn công 37
nghiệp khác nhau sau 180 ngày nuôi thử nghiệm (n=50) 37
Hình 3.6: Sinh trưởng về chiều dài của cá chình ở các loại thức ăn công 39
nghiệp và thức ăn tươi sống sau 180 ngày nuôi thử nghiệm (n=50) 39
Hình 3.7: Sinh trưởng về khối lượng của cá chình ở các loại thức ăn công 40
nghiệp và thức ăn tươi sống sau 180 ngày nuôi thử nghiệm (n=50) 40
Hình 3.8: Tỷ lệ sống của cá chình ở các loại thức ăn khác nhau 41
viii
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trên
mọi lĩnh vực, đáng quan tâm nhất là việc đa dạng hóa đối tượng nuôi trồng thủy
sản, tuyển chọn những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, cá mú,
cá chình, cá bống tượng , nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và
xuất khẩu, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (WTO) của Việt Nam.
Cá chình là đối tượng có giá trị kinh tế cao, vì thế chúng được quan tâm
và nghiên cứu nhiều, đặc biệt là giống Anguilla, một số nước trên thế giới cá
chình được mệnh danh là “nhân sâm dưới nước “.
Phú Yên là tỉnh duyên hải Miền Trung, có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát
triển kinh tế thủy sản. Hệ thống sông ngòi của Phú Yên rất dày đặc, tài nguyên
thủy sản vùng nước ngọt, lợ, mặn phong phú. Nguồn nước ngọt tuy chiếm tỷ trọng
ít nhưng cũng góp phần vào việc cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị. Đặc biệt cá
chình là loài cá giàu đạm, thịt ngon nên trên thị trường rất ưa thích loài cá này.
Những năm gần đây, do nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, việc
đánh bắt cá chình ngoài tự nhiên cũng như việc ương nuôi cá chình thương phẩm
ở một số địa phương gia tăng. Tuy nhiên, việc nuôi cá chình thương phẩm hiện
nay hoàn toàn dựa vào thức ăn là cá tạp gây ra ô nhiễm môi trường của vùng
Lớp: Osteichthyes
Phân lớp: Actinopterygii
Bộ: Anguilliformes
Phân bộ: Anguilloidei
Họ: Anguillidae
Giống: Anguilla
Loài: Anguilla marmorata (Quoy & Gaimard, 1824)
Hình 1.1: Bản đồ phân bố của cá chình bông trên thế giới
(Nguồn: Nguyễn Tuần - Báo cáo hội thảo cá chình ngày 20/12/2007
tại Viện nghiên cứu NTTS III)
2. Đặc điểm hình thái
Thân cá chình dài, phần trước hình ống, phần sau hơi dẹp, đầu dài và hơi
nhọn, hơi dẹp bằng. Mắt bé, miệng rộng ở phía trước. Môi dày, lưỡi tự do không
dính vào đáy miệng. Hàm dưới và trên có răng nhỏ xếp thành hình đai [6]. Lỗ
mang nhỏ, hẹp nằm phía trước và dưới vây ngực, thẳng góc với trục thân. Vảy bé
xếp thành hình chiếc chiếu và dấu dưới da [19][39].
3
Cá chình có hai lỗ mũi. Lỗ trước ở phía trước miệng, lỗ sau ở phía trước
mắt. Khi cá chui xuống bùn mũi đóng lại để bùn không chui vào. Do đời sống
hang hốc nên mắt nhỏ, các cơ quan khứu giác đường bên đều phát triển [15]. Vây
ngực nhỏ gần như hình tròn, không có vây bụng. Vây lưng có màu sẫm, khởi
điểm của vây lưng trước vây hậu môn, khoảng cách giữa chúng lớn hơn ½ chiều
dài đầu và lớn hơn khoảng cách từ điểm vây lưng đến khe mang [6]. Vây đuôi
dài nối liền với vây hậu môn tương đối phát triển. Hậu môn ở giữa trước thân
[15][39].
Da gồm nhiều biểu bì bài tiết làm giảm bớt lực cản trong nước, tăng tốc
độ bơi lội và giảm ma sát khi chui vào hang, niêm dịch cá tiết ra còn có tác dụng
bảo vệ thân cá khi gặp môi trường không thích hợp [15].
Hình 1.2. Cá chình bông
3. Thành phần loài và phân bố
Tên loài
Màu
sắc
Số
đốt
sống
Phân bố trên thế giới
Kích cỡ tối đa
4. Đặc điểm dinh dưỡng.
Cá chình là loài cá dữ, phàm ăn. Tất cả các loài cá đều là nguồn thức ăn
của cá chình. Từ côn trùng thủy sinh, giun ít tơ, tảo, côn trùng đến giáp xác và
các loài cá khác… Tùy theo từng giai đoạn phát triển của cá mà có sự chuyển đổi
nguồn thức ăn và cách bắt mồi [39]. Cá con khi mới vào cửa sông trong ruột và
dạ dày thường chứa một lượng mùn bã hữu cơ. Ở giai đoạn giống thức ăn của cá
chủ yếu là động vật phù du như copepoda, daphnia, moina… Ở giai đoạn trưởng
thành thức ăn của cá chình là cá, tôm, giáp xác… Lúc thiếu thức ăn chúng tranh
cướp thức ăn lẫn nhau và có xu hướng ăn thịt đồng loại [39].
Để phát triển, sinh sản và duy trì các hoạt động sinh lý bình thường khác,
cá chình cần phải được cung cấp Protein, Vitamin và các nguồn cung cấp năng
lượng khác. Sự thiếu hụt của một hay một vài chất dinh dưỡng khác nhau sẽ dẫn
đến tỷ lệ tăng trưởng giảm, cá dễ bị bệnh và có thể chết [28].
6
6
A. marmorata
Đốm
106
Nam Phi, Indonesia, Trung
Quốc, Nhật Bản, các đảo TBD
27
200
trưởng và phát triển.
Nhu cầu Protein ở cá chình cao hơn so với các loài cá nước ngọt khác.
Hàm lượng Protein trong thức ăn sử dụng cho cá chình khác nhau ở các nước
trên thế giới. Tuy nhiên từ nghiên cứu khoa học và trong thực tiễn sản xuất, hàm
lượng Protein đều không dưới 45% [28].
Cá chình Nhật Bản có nhu cầu Protein 44,5% (theo Nóe và
Trai,1977)[28], trong thức ăn thành phần này chiếm tỷ lệ khoảng 46- 52% [38].
Cá chình được nuôi tại Đài Loan hàm lượng Protein trong thức ăn là 45% [45].
7
Bảng 1.2. Hàm lượng Protein (%) trong thức ăn cá chình ở một số nước
và khu vực trên Thế giới.
4.2. Lipit.
Sự tiêu hoá và hấp thu lipid khác với quá trình tiêu hoá và hấp thu protein và
carbohydrate vì lipid không hoà tan trong nước. Sự tiêu hoá lipid bắt đầu từ khoang
miệng, bằng quá trình tiêu hoá cơ học để phân cắt lipid thành các mảnh có kích
thước nhỏ, sau đó chuyển xuống dạ dày. Sự vận động nhu động của dạ dày có tác
dụng phân cắt lipid xuống phần ruột trước, ở đây lipid bắt đầu quá trình tiêu hoá hoá
học [9].
Quá trình tiêu hoá hoá học do enzym lipasa thực hiện, nó phân cắt
triglyceride thành glycerin và các acid béo. Các acid béo mạch ngắn và các sản
phẩm của quá trình tiêu hoá lipid được hấp thu qua tế bào màng nhầy của ruột.
Các acid béo mạch dài, monoglyceride phân cực và không phân cực không hoà
tan trong nước, chúng liên kết với nhau thành các hạt mixen, kích thước từ 50 -
100 A
0
phân tán nhỏ trong nước, các hạt mixen chuyển đến các tế bào màng nhầy
của ruột và được hấp thu tại đây [9].
Động vật thuỷ sản có khả năng sinh tổng hợp một số acid béo như các
acid không no từ acetate, acid béo không no thành acid không no một nối đôi.
Tuy nhiên khác với thực vật, động vật thuỷ sản không có khả năng tăng số nối
[26][36], tại Đài Loan là 5%-9% cao hơn so với hàm lượng Lipit có trong thức ăn
nuôi cá chình tại Châu Âu 3%-5% [38].
Bảng 1.3. Hàm lượng Lipit (%) trong thức ăn cá chình ở một số nước và
khu vực trên Thế giới.
4.3. Vitamin
Vitamin là những chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau, cơ thể động
vật có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát
triển bình thường. Vitamin không phải là một hợp phần quan trọng trong cơ thể
như protein, lipid, carbohydrate mà nó có vai trò như là chất bổ dưỡng, giữ gìn
sức khỏe cho động vật, đối với những động vật khác nhau có nhu cầu vitamin
khác nhau [9].
9
TT
Tên nước, Khu vực
Hàm lượng Lipit (%)
1
Châu Âu
3–5
2
Nhật bản
Hầu hết các vitamin có vai trò như một co-enzym hoặc các tác nhân hỗ trợ
các enzyme thực hiện các phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Vai trò dinh dưỡng của
vitamin được ứng dụng vào nuôi trồng thủy sản từ rất lâu, nhất là từ khi nghề
nuôi trồng thủy sản phát triển hình thức thâm canh cùng với việc dùng thức ăn
tổng hợp [9].
Vitamin có bản chất hóa học rất cần thiết cho chức phận chuyển hóa cơ
thể trong quá trình đồng hóa. Vitamin phần lớn không được tổng hợp trong cơ
thể mà vào theo nguồn thức ăn của động vật [13]. Tuy nhiên, hàm lượng Vitamin
cần thiết ở cá cũng như các động vật khác chưa được xác định. Nhu cầu Vitamin
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tập tính dinh dưỡng, điều kiện sinh lý…[9]. Ở
giảm ma sát xung quanh. Vì vậy, dễ bị nước cuốn trôi dạt vào các cửa sông. Tùy
theo các điều kiện như nhiệt độ, lưu tốc dòng chảy và một số yếu tố khác mà thời
gian đi vào nội địa của cá chình con khác nhau ở các vùng khác nhau (ở những
con sông Bắc Ireland, phía đông nam những con sông của Anh, Scotlen, Đan
Mạch, Hà Lan thì những cuộc viễn chinh ngược biển về sông, hồ thường xuất
hiện vào tháng 4-5 hằng năm). Nếu mùa đông nhiệt độ nước dưới 8
o
C thì ấu
trùng thường nằm lại ở cửa sông, ven biển chui trong các khe đá hoặc đáy sông,
chờ đến khi điều kiện thích hợp mới ngược sông [15]. Sau một năm trôi dạt vào
cửa sông, ấu trùng lá liễu trải qua nhiều biến thái thành cá hương trắng, cá ngược
dòng sắc tố đen tăng dần thành màu đen. Tại sông, hồ chúng bắt mồi, sinh sống,
trưởng thành và rồi ra cửa sông lặp lại cuộc phiêu lưu như bố mẹ để bảo tồn nòi
giống. Vì thế cá chình là động vật rất nhạy cảm với sự tuyệt chủng [1].
11
BÃI ĐẺ NGOÀI ĐẠI DƯƠNG
(Độ mặn 30 – 35
0
/
00
)
Sống
trôi
Trứng được thụ tinh trôi nổi
ngoài đại dương
(B)
nổi
trong
nước
biển
hồ,
sông,
suối.
Hình 1.3: Vòng đời của cá chình
6. Một số yếu tố môi trường
6.1.
Tính thích ứng với nhiệt độ
Cá chình là loài ôn nhiệt, có phạm vi thích ứng rộng. Nhiệt độ từ 1-38
o
C
cá đều có thể sống được. Khi nhiệt độ tầng mặt vượt ngưỡng trên thì cá bơi lội về
chỗ nước sâu hay chui vào bùn nơi có nhiệt độ thấp hơn [15][47].
Khi nhiệt độ nước dưới 5
o
C cá bơi lội chậm chạp và ở trạng thái ngủ đông.
Ở nhiệt độ từ 1-2
o
C được xem là nhiệt độ thấp nhất cho sự sống của nó. Ở nhiệt
độ 12
o
C cá bắt đầu bắt mồi [15][28][47].
12
Nhiệt độ 22-30
o
C là nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của cá, lúc
này cá ăn nhiều nhất, lớn nhanh, khả năng đề kháng bệnh cao, khi quá 30
o
C cá
bắt mồi không ổn định, lượng thức ăn giảm [15][28][47].
Nhiệt độ nước là yếu tố rất quan trọng khi nuôi cá chình, nó có thể giữ vai
13
6.5. Ánh sáng
Cá chình là loài không thích ánh sáng mạnh, ban ngày cá thường nằm
dưới đáy ao, chui rúc trong hang, ban đêm ngoi lên hay ra ngoài kiếm mồi di
chuyển nơi khác. Vì vậy, khi nuôi cá chình nơi cho ăn phải che đậy tránh ánh
sáng [8][15].
6.6. Sự thích ứng dòng chảy
Cả cuộc đời của cá chình liên quan mật thiết với dòng nước chảy, cá bố
mẹ đến tuổi trưởng thành sẽ thực hiện cuộc hành trình nhiệm vụ của mình xuôi
dòng di cư ra biển để đẻ trứng. Cá bột biến thái thành ấu trùng hình lá, trôi theo
dòng hải lưu và thủy triều. Sau khi biến thái thành cá chình trắng mới đi vào
nước ngọt, ngược lên thượng lưu vượt qua đồng ruộng hay đồng cỏ, thậm chí có
vách đá đứng cá bột cũng có thể vượt qua. Ở giai đoạn cá con, cá thích ngược
dòng nước, ở gần nơi có nước chảy. Vì vậy, khi nuôi cá phải hết sức chú ý đến
dòng chảy của nước. Khi cá lớn dần tập tính này cũng giảm dần [4][44].
6.7. Các yếu tố môi trường khác
Ngoài các yếu tố như pH, DO, t
o
C… một số yếu tố vô sinh, hữu sinh khác
cũng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển của cá chình.
II. Tình hình nghiên cứu cá chình trên Thế giới và Việt Nam
1. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chình
Hơn ¾ thế kỷ qua có nhiều nghiên cứu quan tâm đến quá trình sinh sản
của cá chình và có không biết bao nhiêu công trình nghiên cứu để tái tạo giống cá
này trong điều kiện nhân tạo. Các nghiên cứu quá trình phát sinh giao tử (sinh
tinh và sinh noãn) của các loài cá chình đều nhận thấy: Trong thời kỳ sống ở
nước ngọt các quá trình này chỉ ở thời kỳ đầu, sự hình thành tuyến sinh dục của
chúng là rất sớm, ở giai đoạn cá chình dạng trong suốt. Quá trình đó cũng giống
như ở các loài cá xương khác [14].
Điều làm các nhà khoa học quan tâm là rất hiếm gặp cá chình cái trong
2. Hiện trạng nghề nuôi cá chình trên thế giới
Ở Nhật Bản nghề nuôi cá chình phát triển rất sớm (1879) và ngày càng phát
triển. Kỹ thuật nuôi cá giống đã tương đối hoàn thiện (4 loài thường được nuôi tại
Nhật: A.autralis; A.anguilla; A.japonicus; A.rostrata. (Đối tượng nuôi chủ yếu là
cá chình Nhật Bản). Để gia tăng sản lượng và tiến triển trong môi trường khắc
15
nghiệt về nhiệt độ, về điều kiện khí hậu thì những hệ thống nuôi: Nuôi ngoài trời,
hệ thống nuôi trong nhà kính, hệ thống thâm canh không tuần hoàn được sử dụng
[31]. Hệ thống nhà kính được ưa chuộng tại Nhật và Hàn Quốc, mặc dù hệ thống
nuôi bên ngoài vẫn được nuôi vì giá thành sản phẩm thấp. Ngược lại, một số nước
Bắc Âu hầu hết độc quyền sử dụng hệ thống nuôi thâm canh không tuần hoàn. Hệ
thống nuôi bên ngoài phổ biến ở Đài Loan nhưng hệ thống nuôi thâm canh không
tuần hoàn cũng phát triển. Trung Quốc sử dụng tất cả các hệ thống nuôi [31] .
Các trang trại nuôi cá chình ở Nhật áp dụng hình thức nuôi nước tĩnh và
nguồn nước sử dụng là nước ngầm. Theo kết quả thống kê cho thấy, diện tích ao
nuôi cá chình Nhật là 1036,7 ha và năng suất đạt được 37 tấn/ha. Năm 1998,
Nhật cung cấp 55% sản lượng cho toàn thế giới và đến năm 2000 Nhật cung cấp
90% sản lượng cá chình trên toàn thế giới [31]
Ở Nhật Bản, nhiệt độ là yếu tố hạn chế đến việc nuôi cá chình, hệ thống
nuôi bên ngoài chủ yếu được sử dụng suốt mùa hè khi nhiệt độ lên trên 15
o
C
[31]. Nuôi cá chình trong nhà kính với hệ thống nước chảy tuần hoàn, cấp nhiệt
chủ động được thực hiện ở một số nước và đã đưa lại kết quả tốt. Tại Nhật Bản,
quá trình nuôi trong nhà kính với con giống được thả vào cuối năm đến mùa hè
năm sau cá có thể đạt kích cỡ thương phẩm. Mặc dù quá trình nuôi trong nhà
kính bước đầu còn khó khăn nhưng sau năm 1975 cá chình nuôi trở nên dễ dàng.
Qua nhiều năm, kỹ thuật nuôi cá chình được cải thiện và tinh vi hơn. Quá trình
này phát triển tạo nên kết quả tốt trong nền kinh tế [28].
Bảng 1.4: Sản lượng cá chình nuôi trong nhà kính tại Nhật