TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
MAI TRẦN HẢI ĐĂNG NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA
THỨC ĂN TỰ CHẾ VÀ THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP L
ÊN
HIỆU QUẢ NUÔI CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus)
TRONG AO NUÔI THÂM CANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
vMỤC LỤC
3.2.2 Nguồn cá giống 17
3.2.3 Mùa vụ nuôi 17
3.2.4 Quản lý ao nuôi và chăm sóc cá 17
3.3 Thu mẫu 18
3.4 Phân tích hiệu quả kinh tế 18
3.5 Phương pháp phân tích thành phần hóa học của
thức ăn và cá thí nghiệm 18
3.6 Các chỉ tiêu thu thập và tính toán 19
3.7 Xử lý số liệu 20
Chương 4: Kết quả và thảo luận 21
4.1 Kết quả theo dõi sự biến động của môi trường ao nuôi
thí nghiệm 21
4.2 Đánh giá chất lượng của thức ăn tự chế thí nghiệm 22
4.2.1 Thành phần nguyên liệu và tỷ lệ phối
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
vi
chế thức ăn tự chế 22
4.2.2 Thành phần hóa học của thức ăn tự chế 26
4.3 Tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá 27
4.3.1 Tỷ lệ sống 27
4.3.2 Tốc độ sinh trưởng 28
4.4 Chất lượng cá thương phẩm 30
4.4.1 Thành phần hóa học 30
4.4.2 Tỷ lệ philê và màu sắc thịt cá 31
4.5 Chi phí thức ăn và hiệu quả sản xuất 32
4.5.1 Hệ số và chi phí thức ăn 32
4.5.2 Cơ cấu chi phí 33
4.5.3 Hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi 35
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
viiDANH SÁCH BẢNG TrangBảng 2.1: Thành phần thức ăn ở dạ dày của cá tra tự nhiên 4
Bảng 2.2: Protein tối ưu của một số loài cá trơn 5
Bảng 2.3: Nhu cầu amino acid của cá nheo Mỹ 6
Bảng 2.4: Công thức TATC dạng nổi trong nuôi cá trê lai ở Thái Lan 9
Bảng 2.5: So sánh giữa TATC và TACN trong nuôi cá trê lai ở Thái Lan 9
Bảng 2.6: Hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi cá trê lai ở Thái Lan 9
Bảng 2.7: Thành phần nguyên liệu và giá trị dinh dưỡng của các loại
TATC trong nuôi cá trê ở Thái Lan 10
Bảng 2.8: Thành phần sinh hóa của một số nguồn đạm 12
Bảng 2.9: Công thức TATC (25% đạm) sản xuất tại nông hộ 12
Bảng 2.10: Chi phí sản xuất của cá tra nuôi bè 14
Bảng 3.1: Các thông số kỹ thuật của hai nghiệm thức theo dõi 16
Bảng 4.1: Sự biến động pH, nhiệt độ và oxy của các ao nuôi theo dõi 21
Bảng 4.2: Công thức TATC sử dụng cho các ao nuôi 23
Bảng 4.3: Thành phần hóa học của nguyên liệu phối chế trong TATC 24
Bảng 4.4: Thành phần hóa học của TATC và TACNtrong hai giai
đoạn nuôi 26
Bảng 4.5: Tỷ lệ sống của các ao nuôi TATC và TACN 27
Bảng 4.6: Tốc độ tăng trưởng của hai nghiệm thức theo dõi 28
sản lượng cá tra năm 2004 đạt mức hơn 300.000 tấn, diện tích thả nuôi
khoảng 2.000 ha. Cá tra có đặc điểm tăng trọng nhanh, có thể sử dụng được
nhiều loại thức ăn khác nhau nên được nhiều người dân chọn nuôi nhằm tận
dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương giúp hạ thấp chi phí sản xuất.
Hơn nữa hiện nay sản phẩm cá tra được xem là nguồn xuất khẩu thủy sản
quan trọng của nước ta, do đó nhiều hộ nuôi đã mạnh dạn đầu tư vào đối
tượng này.
Tuy nhiên, do việc nuôi mang tính tự phát, người nuôi sử dụng thức ăn tự chế
(TATC) không đảm bảo chất lượng ảnh hưởng xấu đến môi trường dẫn đến
việc sử dụng thuốc và hóa chất tràn lan, điều này đã gây ảnh hưởng đáng kể
đến thị trường xuất khẩu. Từ giữa năm 2005 do thị trường xuất khẩu gặp
nhiều biến động đã làm giảm giá cá tra và basa, nhiều hộ nuôi đã ngưng sản
xuất. Ước tính sản lượng cá tra ở huyện Thốt Nốt và các tỉnh đầu nguồn (An
Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long) đã giảm 20 – 30% (Bộ Thuỷ Sản, 2005)
(http://www.fistenet.gov.vn) (truy cập 06/04/2006). Nhưng trong 2 tháng đầu
năm 2006 việc xuất khẩu thủy sản đặc biệt là sản phẩm cá tra có sự chuyển
biến tích cực, có nhiều đơn đặt hàng từ thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản và Bỉ.
Theo dự báo của Bộ Thủy Sản, trong năm 2006 nhu cầu nhập khẩu từ các thị
trường Nhật và EU sẽ tăng khoảng 10-15%. Hiện tại giá cá tra đang ở mức
khá cao (13.500 đồng (đ) /kg cá loại một, Bộ Thủy Sản 2006) nhưng lợi nhuận
của người dân chưa nhiều do giá nguyên liệu đang có chiều hướng gia tăng.
Xuất phát từ thực tế trên, việc tìm ra một loại TATC có giá cả chấp nhận được
so với giá thức ăn công nghiệp (TACN) là một nhu cầu bức thiết, do thức ăn
là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chi phí sản xuất (chiếm 77% tổng chi phí sản
xuất) (Nguyễn Thanh Phương, 1998). Bên cạnh đó vấn đề nuôi cá tra theo qui
trình "sạch" là một tiêu chí lớn giúp nghề nuôi cá tra thâm canh có thể phát
triển bền vững trước tình hình hiện nay, trong đó thức ăn cũng là nhân tố quan
trọng trong qui trình này. Mặt khác, hầu hết các nghiên cứu về TATC trong
nuôi cá tra trước đây chủ yếu được chế biến thủ công ở quy mô nông hộ, và
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra
2.1.1 Đặc điểm hình thái và phân loại
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993, cá tra có tên khoa học
là Pangasius micronemus Bleeker, 1847. Ngoài ra ở Thái Lan, Indonesia,
Malaysia cá tra còn có tên là Pangasius sutchi (Cacot, 1998, trích dẫn từ Trần
Văn Nhì, 2005). Tuy nhiên, theo tài liệu của Trần Văn Nhì (2005), cá tra
thuộc:
Bộ: Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasius
Loài: Pangasius hypophthalmus Sauvage, 1878
2.1.2 Đặc điểm sinh sản và phân bố
Cá tra không sinh sản trong ao nuôi, chúng không có bãi đẻ tự nhiên ở Việt
Nam, cá tra đẻ ở Campuchia, cá bột theo dòng nước về Việt Nam. Chúng
TATC dạng ẩm với hàm lượng đạm thấp, điều này cũng phù hợp với khả năng
thích ứng với nhiều loại thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau của cá tra và
trong điều kiện thiếu thức ăn cá có thể sử dụng các loại thức ăn như mùn bã
hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc thực vật.
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng ở các loài cá trơn
Vấn đề dinh dưỡng của cá được nghiên cứu đầu tiên tại Corlan (Ohio, Mỹ). Ở
Việt Nam sau 1975 các nhà khoa học tập trung nghiên cứu việc sử dụng các
nguồn thức ăn rẻ tiền để phát triển nghề nuôi thủy sản. Nhưng nhìn chung các
nghiên cứu về dinh dưỡng cá tra, basa chưa đầy đủ, do đó các kết quả đạt được
trên cá nheo Mỹ xem như tương tự các đối tượng cá da trơn khác. (Trần Thị
Thanh Hiền và ctv., 2004)
2.2.1 Nhu cầu đạm (protein) và acid amin
Protein là thành phần hóa học chủ yếu trong thịt động vật thủy sản, chiếm
khoảng 60-75% trọng lượng khô của cơ thể (Halver, 1989). Protein là thành
phần tham gia cấu tạo cơ thể , hình thành các tổ chức mới, do đó khi thức ăn
thiếu đạm thì cá chậm sinh trưởng, chậm phát dục, sức sinh sản giảm. Nhu cầu
protein của cá dao động trong khoảng từ 25-55%, trung bình là 30% và nhu
cầu protein tối ưu của một loài nào đó phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu làm
Loại thức ăn Tỷ lệ (%)
Cá tạp
Ốc
Thực vật
Mùn bã hữu cơ
37,8
23,9
6,67
31,6
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
5
năng lượng cao hơn cá cỡ nhỏ. Mặt khác chúng có thể sử dụng protein nhiều
hơn nhu cầu tối đa để phát triển do phải thải nitơ ra ngoài.
Thực chất của nhu cầu protein ở cá là nhu cầu amino acid, có hai loại amino
acid thiết yếu và không thiết yếu. Vấn đề được quan tâm nhiều là nhu cầu
amino acid thiết yếu bởi vì cá không thể tự tổng hợp mà phải lấy từ thức ăn.
Theo Halver (1989) các loài cá nói chung cần 10 loại amino acid như arginin,
histidin, isoleucin, leucin, lysin, methionin, phenillalanin, threonin, tryptophan
và valin. Theo Robinson and et al. (1980) nhu cầu Lysine của cá nheo Mỹ
trong thức ăn chứa 24% đạm là 1,23%. Bên cạnh đó, Harding and et al. (1977)
cho rằng nhu cầu Methionine của đối tượng này là 0,46% ở mức đạm tương tự
(Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2004).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
6
Bảng 2.3 Nhu cầu amino acid của cá nheo Mỹ
Amino acid Nhu cầu (% khối lượng protein cho ăn)
Arginine 4,3
Histidine 1,5
Isoleucine 2,6
Leucine 3,5
Lysine 5,1
Methionine + cystine 2,3
Phenylalnine + tyrosine 5,0
(theo National Academy of sciences, Washington, D.C. 1973)
Tuy nhiên trong các nghiên cứu về nhu cầu acid amin ở cá trơn đặc biệt là
giống Pangasius rất ít. Dù vậy đã có một số ý kiến cho rằng các loài cá trơn
protein (trích dẫn bởi Dương Thúy Yên, 2000). Mặc dầu vậy, việc bổ sung
carbohydrate vào thức ăn cho cá gồm nhiều mục đích như chia sẻ năng lượng
với protein, tăng độ bền trong nước,… nhằm tăng hiệu quả sử dụng và giảm
chi phí thức ăn.
2.2.3 Nhu cầu chất béo (lipid)
Lipid là nguồn cung cấp năng lương quan trọng trong thức ăn. Bên cạnh đó
lipid còn là nguồn cung cấp các acid béo thiết yếu, đặc biệt là các acid cao
phân tử không no (PUFA), là dung môi để hoà tan và vận chuyển các vitamin
tan trong mỡ như: A, D, E, K,…
Khả năng tiêu hóa của chất béo sẽ giảm nếu hàm lượng chất béo trong thức ăn
tăng quá cao (Harrison, 1990) (trích dẫn từ Trần Thị Thanh Hiền, 2004).
Wilson và ctv. (1996) đề nghị mức lipid thích hợp trong thức ăn của cá nheo
Mỹ là 5 - 6%. Theo Nguyễn Thanh Phương (1998) cho biết thức ăn cho cá
basa chứa 7,7% lipid cá vẫn tăng trưởng tốt nhất và cá giảm tăng trưởng khi
lipid từ 11,3 - 20,8%. Trong khi đó, theo kết quả của Trần Thị Thanh Hiền và
ctv. (2004) mức sử dụng tối đa của lipid trong thức ăn cho cá tra là 4 - 8%.
Đồng thời khi cá ăn thức ăn chứa hàm lượng chất béo cao cũng làm giảm khả
năng tiêu hóa và thức ăn sẽ khó bảo quản do dễ bị ôi hóa.
Cá da trơn dự trữ năng lượng chủ yếu dưới dạng mỡ. Cá basa có lớp mỡ chiếm
25% thể trọng cá (Mertrampf, 1992). Từ các kết quả trên, Dương Thúy Yên
(2000) đề nghị mức lipid trong thức ăn của các loài cá da trơn từ 5 - 8 %.
Do đó điều quan trọng phối chế thức ăn cho cá, nhất là các loài cá da trơn là
sử dụng tinh bột để làm nguồn cung cấp năng lượng và bổ sung một tỷ lệ nhỏ
lipid để vừa cung cấp năng lượng vừa cung cấp acid béo thiết yếu (Lê Thanh
Hùng, 2000).
2.3 Sơ lược về tình hình sử dụng thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp
trong thủy sản
2.3.1 Tình hình thế giới
Nhìn chung trong nghề nuôi thủy sản trên thế giới đã đạt trình độ cao, đặc biệt
là ở các nước phát triển. Người sản xuất sử dụng mô hình nuôi theo hệ thống
Ấn Độ sử dụng một số lượng lớn TATC khoảng 165.000 tấn để nuôi cá chép
và Nepal là 4.000 tấn (Nandeesha & Pantha, 1993) (trích dẫn từ Phan Thị
Thanh Trúc, 2005).
Ở châu Á nghề nuôi cá da trơn phát triển mạnh tập trung ở một số quốc gia
(Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Nepal, Malaysia, ) (New and Csavas, 1993)
Theo số liệu thống kê, lượng TATC cho nuôi thủy sản ở châu Á vào năm 1990
chiếm 71% tổng lượng thức ăn, dự đoán đến năm 2000 tỷ lệ này chỉ còn 62%.
Cho thấy TACN đang ngày càng được người nuôi chấp nhận do tình hình dịch
bệnh diễn ra ngày càng tăng xuất phát từ việc sử dụng TATC không đạt chất
lượng gây ô nhiễm môi trường nuôi.
Thái Lan là quốc gia có nghề nuôi cá da trơn phát triển, đặc biệt là nghề nuôi
cá trê (Clarias catfish). Bên cạnh việc sử dụng TATC trong nuôi cá trê, người
ta còn sử dụng thức ăn viên công nghiệp và TATC dạng nổi (W. Jantrarotai
and P. Jantrarotai, 1993)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
9
Bảng 2.4 Công thức TATC dạng nổi trong nuôi cá trê lai ở Thái Lan
(W. Jantrarotai and P. Jantrarotai, 1993)
Nguyên liệu Tỷ lệ (%)
Bột ngũ cốc 22
Bột mì 10
Cám 15
Bột đậu nành 30
Bột cá (60% đạm) 15
Leucine 5
Dicalcium phosphate 1
Dầu cá nước ngọt 2
Tổng 100
10
(490 USD/tấn). TATC có giá thấp hơn (208 USD/tấn) nên sản xuất có lãi.
Điều này cho thấy lý do tại sao TATC dù gây ô nhiễm môi trường nhưng vẫn
tồn tại trong điều kiện giá bán cá thương phẩm còn nhiều biến động.
Bảng 2.7 Thành phần nguyên liệu và giá trị dinh dưỡng của các loại TATC
trong nuôi cá trê ở Thái Lan (W.Jantrarotai and P.Jantrarotai, 1993)
Loại thức ăn Đạm (%) Chất béo (%) Xơ (%) Độ ẩm (%)
Cám – Cá tạp (8:2) 15,6 5,60 10,9 62,5
Cá tạp - Tấm (6:4) 13,8 8,6 30,6 49,7
2.3.2 Tình hình trong nước
Trong thời gian gần đây nghề nuôi thủy sản ở Việt Nam cụ thể ở ĐBSCL rất
phát triển, đặc biệt là nghề nuôi cá tra, điều này kéo theo nhu cầu thức ăn tăng
vọt. Tuy nhiên tùy theo loại hình nuôi mà sử dụng dạng thức ăn khác nhau.
TATC được sử dụng rất phổ biến ở khu vực Long Xuyên và Châu Đốc. Trong
khi đó ở khu vực Cần Thơ- Vĩnh Long thì hầu hết hộ nuôi sử dụng TACN ở cả
hai hình thức nuôi trong ao 76,1%, trong bè là 100% (Lê Thanh Hùng và ctv.,
2006). Mặc dù, TATC được sử dụng là chính, người nuôi vẫn sử dụng kết hợp
TACN trong khoảng 1-2 tháng đầu, trong giai đoạn cá còn nhỏ. Mặt khác, một
số hộ nuôi còn sử dụng TACN trong khoảng thời gian một tháng cuối vụ nuôi
nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm (chất lượng thịt cá) (Lê Thanh Hùng và
ctv., 2006). Các hộ nuôi cá tra và basa bè khu vực Long Xuyên và Châu Đốc
kết hợp hình thức kết hợp này chiếm tỷ lệ cao, ở khu vực Châu Đốc là 93,3%,
khu vực Long Xuyên là 86,7% (Lê Thanh Hùng và ctv., 2006). Theo kết quả
nghiên cứu của Huỳnh Thị Tú và ctv. (2006) tỉ lệ này ở khu vực Long Xuyên
là 93,3% và 66,7% ở Châu Đốc.
Đối với từng mô hình nuôi khác nhau loại thức ăn sử dụng có sự khác biệt
đáng kể, trong khi TATC (có sự phối hợp với TACN) được sử dụng rộng rãi
trong hình thức nuôi bè thì trong các ao nuôi TACN giữ vai trò chủ yếu.
Trộn và nấu nguyên liệu trong lò nấu
Để nguội Trộn thêm nguyên liệu Ép viên và cho ăn
Hình 2.1 Các bước chế biến TATC của người nuôi ở An Giang
Tỷ lệ phối chế nguyên liệu biến động tùy theo khả năng của nông hộ, mùa vụ
của nguyên liệu và cả giá thành của sản phẩm. Do đó người dân thường dự trữ
nguyên liệu (cá biển) với số lượng lớn để phòng khả năng giá cá biển tăng cao
vào thời gian biển động, nên chất lượng cá biển giảm làm ảnh hưởng đến cá
nuôi và môi trường.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
12
Mặt khác độ ẩm của TATC thường lớn hơn 40% (Trần Văn Nhì, 2005) nên
mau phân hủy trong nước làm bẩn nước và hiệu quả sử dụng thức ăn giảm.
Tuy nhiên với ưu thế giá thành rẻ nên hầu như 100% hộ nuôi cá tra sử dụng
TATC. Theo thống kê của Trần Văn Nhì (2005) ước tính 100.000 tấn cá tra
được nuôi tương ứng với 300.000 tấn TATC.
Hiện nay, phần lớn các hộ nuôi cá tra thâm canh ngoài cám và cá tạp trong
Độ khô (%)
Bột thịt 50,9 9,70 29,2 94,0
Bột huyết 93,0 1,40 7,10 93,0
Bột cá Kiên Giang 59,2 8,24 24,5 91,8
Bánh dầu đậu nành
45-48 1,90 6,20 88,0
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
13
Trong Bảng 2.9 người nuôi không có sử dụng cá tạp trong thức ăn, thay vào
đó là bột cá và bánh dầu đậu nành, hơn nữa trong thức ăn còn bổ sung thêm
các acid amin thiết yếu tổng hợp (Lysine và Methionine) đã làm tăng chất
lượng của thức ăn.
Đa số các hộ nuôi ở vùng Long Xuyên, An Giang sử dụng TACN trong 3-4
tuần đầu sau khi nuôi (99,3%) (Phan Thị Thanh Trúc, 2005) do hiệu quả sử
dụng thức ăn cao, chậm tan trong nước hạn chế ô nhiễm môi trường. Theo ước
tính trong năm 2004, Việt Nam có 18 công ty sản xuất thức ăn cho cá. Trong
đó có một số công ty sản xuất với số lượng lớn (60.000 - 120.000 tấn/năm)
như Proconco, Cargill, Greenfeed, riêng công ty Proconco theo số liệu chưa
công bố chính thức đến nửa đầu, mỗi ngày công ty sản xuất khoảng 15.000 tấn
thức ăn. Còn lại các công ty khác có công suất nhỏ hơn, khoảng 20.000-30.000
tấn mỗi năm. Trong đó công ty Proconco (công suất 100.000 tấn/năm, 2004) là
công ty sản xuất thức ăn hàng đầu ở ĐBSCL (Trần Văn Nhì, 2005).
Hiện tại trên thị trường thức ăn cho cá tra, sản phẩm thức ăn con cò của công
ty Proconco đang được nhiều hộ nuôi ở ĐBSCL tin dùng do chất lượng thức
ăn có độ ổn định cao. Theo điều tra của Trần Văn Nhì (2005) khoảng 33,3%
trong tổng số hộ nuôi cá ở An Giang sử dụng và giá biến động từ 4.500 đồng –
(2003)
77,0 Ngyễn Thanh Phương
(1998)
70,5 - 75,4 Trần Văn Nhì (2005)
78,6 84,7 Lê Thanh Hùng (2006)
Chi phí cá giống (%) 12,1 - 15,4 Trần Văn Nhì (2005)
9,84 7,38 Lê Thanh Hùng (2006)
14,8 Nguyễn Xuân Thành
(2003)
Chi phí thuốc (%) 4,60 - 7,40 Trần Văn Nhì (2005)
2,42 Nguyễn Xuân Thành
(2003)
5,42 4,16 Lê Thanh Hùng (2006)
Chi phí quản lý khác
(%)
9,38 Nguyễn Xuân Thành
(2003)
7,92 3,77 Lê Thanh Hùng (2006)
3,40 - 4,90 Trần Văn Nhì (2005)
Giá thành (đ/kg cá) 8.153-11.619 10.204-
10.396 Theo kết quả nghiên cứu nuôi cá tra thịt trắng trong ao đất của Trung tâm
KHCN và kinh tế thủy sản - Bộ Thủy Sản (2005) cho thấy, cá sử dụng TACN
trong giai đoạn đầu, giai đoạn sau sử dụng thức ăn chế biến tại nông hộ. Trọng
lượng cá thả ban đầu 37,5g/con với mật độ 22-23 con/m
2
, sau 6 tháng nuôi cá
đạt tỷ lệ sống từ 88,9-90,1%, trọng lượng trung bình 1,106 kg/con, tốc độ tăng
cho mô hình nuôi bền vững). Tuy vậy, trong hoàn cảnh giá cá tra vẫn luôn bấp
bênh và luôn chịu ảnh hưởng từ thị trường thế giới thì TACN cũng không thể
sử dụng rộng rãi trong người nuôi. Do đó, việc tìm ra một loại TATC có khả
năng khắc phục những hạn chế của TATC có sử dụng cá tạp nhưng giá thấp
hơn so với TACN được xem là một hướng đi thích hợp trong bối cảnh hiện
nay.
Hình 2.2: Ao nuôi cá Tra được theo dõi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
16
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu đề tài được thực hiện từ tháng 11/2005 đến tháng
06/2006
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Các ao thí nghiệm được theo dõi tại ấp Thới Thạnh, xã Thới Thuận, huyện
Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Phòng thí nghiệm dinh dưỡng, Khoa Thủy Sản, trường Đại học Cần Thơ.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành thu mẫu và ghi nhận số liệu 3 ao nuôi cá tra thương phẩm sử dụng
hoàn toàn TATC và 3 ao nuôi cá tra thương phẩm sử dụng hoàn toàn TACN
hiện đang được sử dụng phổ biến trên thị trường.
3.2.1 Điều kiện ao thực nghiệm
Diện tích các ao thực nghiệm, số lượng và kích cỡ cá thả, mật độ thả được
3.2.4 Quản lý ao nuôi và chăm sóc cá
* Thức ăn
Ở cả hai nghiệm thức sử dụng TATC và TACN đều sử dụng thức ăn chứa mức
đạm 28% và 26% trong hai giai đoạn nuôi
+ Giai đoạn 1 (3 tháng đầu, cá có trọng lượng 20-200 g): sử dụng thức ăn
chứa 28% đạm.
+ Giai đoạn 2 (3-4 tháng cuối, cá có trọng lượng trên 200g): sử dụng thức ăn
chứa 26% đạm.
TATC sử dụng trong nghiên cứu được chế biến từ bột cá, bột huyết, bánh dầu
đậu nành, cám ly trích dầu, tấm,
TACN trong nghiên cứu là một loại sản phẩm hiện đang được người nuôi sử
dụng phổ biến trong nuôi cá tra thâm canh tại ÐBSCL.
Khẩu phần ăn
Trong giai đoạn 1, lượng thức ăn cho cá ăn hàng ngày khoảng 5% trọng lượng
thân, sau đó giảm dần đến gần thu hoạch lượng thức ăn còn khoảng 1,5 - 2%
trọng lượng thân. Thông thường tùy thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá và
điều kiện môi trường nuôi mà quyết định khẩu phần ăn hợp lý.
Phương pháp cho ăn
Do diện tích ao thí nghiệm lớn (trung bình khoảng 10.000 m
2
) và sử dụng
thức ăn viên dạng nổi nên phải sử dụng xuồng để cho ăn, nhằm đảm bảo thức
ăn được rải đều khắp ao. Ngày cho cá ăn 2 lần vào 9
h
sáng và 16
h
chiều.
+ Lợi nhuận
+ Tỷ suất lợi nhuận
+ Hiệu quả chi phí thức ăn
3.5 Phương pháp phân tích thành phần hoá học của thức ăn và cá thí
nghiệm (theo phương pháp O.A.O.C, 2000)
Các chỉ tiêu về phân tích thành phần hoá học của thức ăn gồm: đạm thô (crude
protein), chất béo, chất bột đường (carbohydrate), xơ thô (crude fibre), khoáng
và độ ẩm (moisture). Phân tích thàh phần hóa học của cá gồm: đạm, béo,
khoáng.
- Ẩm độ được xác định bằng cách ghi nhận sự chênh lệch trọng lượng của mẫu
trước và sau khi sấy ở nhiệt độ 105
o
C
khoảng 4 giờ.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
19
- Tro: được xác định bằng cách nung mẫu trong tủ nung ở nhiệt độ 560
o
C
khoảng 4 giờ (đến khi mẫu có màu trắng hoặc xám).
Hàm lượng đạm thô được phân tích theo phương pháp Kjeldah: gồm 3 bước:
+ Bước 1: mẫu được công phá đạm trong H
2
SO
4
đậm đặc khoảng 1,5 giờ ở
nhiều mức độ nhiệt khác nhau từ 110 - 370
Trong đó: W
1
: khối lượng trung bình của cá ở thời điểm t
1
W
2
: khối lượng trung bình của cá ở thời điểm t
2
t: thời gian nuôi (ngày)
* Tốc độ tăng trưởng tương đối ngày(SGR: % / ngày)
SGR = 100 x (Ln (Wc) – Ln (Wđ)) / T
Trong đó: Wc: khối lượng cuối
Wđ: khối lượng đầu
T: thời gian nuôi (ngày)
* Hệ số thức ăn (FCR)
FCR = Lượng thức ăn sử dụng (kg) / Khối lượng cá gia tăng (kg) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu