i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập ở trường ĐH Nha Trang cũng như thời gian thực
tập ở trại thực nghiệm giống cá biển của trường ĐH Nha Trang tại Đường Đệ – Nha
Trang – Khánh Hòa, tôi đã học hỏi thêm được nhiều kiến thức cơ bản, kinh nghiệm
thực tế bổ ích cho bản thân, tạo cho tôi một nền tảng vững chắc, một sự tự tin để tôi
có thể thuận lợi bước đi trên con đường sự nghiệp của mình sau này.
Để đạt được thành tích như ngày hôm nay, trước hết, tôi xin cảm ơn các quý
thầy, cô khoa Nuôi trồng thủy sản - trường ĐH Nha Trang đã tận tình dạy dỗ và
hướng dẫn cho tôi trong suốt 4 năm đại học vừa qua.
Đồng thời để có thể hoàn thành xong báo cáo thực tập này, tôi xin gửi lời
cảm ơn chân thành sâu sắc đến Th.S Ngô Văn Mạnh – người đã luôn tận tình hướng
dẫn, góp ý và định hướng cho tôi hoàn thành bài báo cáo trong suốt thời gian thực
hiện chuyên đề này.
Bên cạnh đó, tôi xin đặc biệt cảm ơn các anh và các bạn ở trại thực nghiệm
và tập thể lớp 49NT-1 đã giúp tôi tiếp cận thực tế và hướng dẫn giúp tôi làm quen
với các công việc cụ thể trong quá trình nuôi ương cá chim vây vàng giống để tôi có
thể hoàn thành tốt báo cáo thực tập này.
Với những kiến thức hạn hẹp, thời gian thực tập ít nên chắc chắn nội dung
còn nhiều thiếu sót nên tôi rất mong được sự góp ý của Quý Thầy, Cô.
Cuối cùng, tôi xin kính gởi lời chúc sức khỏe và thành công đến toàn thể quý
Thầy Cô khoa Nuôi trồng thủy sản - trường ĐH Nha Trang và các anh, các bạn đang
công tác và làm việc tại trại thực nghiệm giống cá biển của trường ĐH Nha Trang
tại Đường Đệ – Nha Trang – Khánh Hòa.
Nha Trang, tháng 6 năm 2011
Sinh viên thực tập Châu Việt Anh
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
ii
2.5Phương pháp xác định các chỉ tiêu 21
2.5.1Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 21
2.5.2Theo dõi xác định tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá 22
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
iii
2.5.3Các công thức tính toán 22
2.6Phương pháp xử lý số liệu 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬNError! Bookmark not
defined.24
3.1Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn lên sinh
trưởng và phân đàn của cá chim vây vàng giai đoạn từ 3,0 đến 5,0 cm 24
3.1.1 Sinh trưởng và phân đàn 24
3.1.2 Tỷ lệ sống, hệ số FCR 27
3.2Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của số lần cho ăn, thời gian chiếu sáng trong ngày
lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ 1,0 đến 3,5 cm 28
3.2.1Sinh trưởng và phân đàn 28
3.2.2Tỷ lệ sống, sinh khối và hệ số FCR 31
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 33
4.1Kết luận 33
4.2Đề xuất ý kiến 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Thời điểm cho ăn với các chế độ chiếu sáng và số lần cho ăn khác
nhau……………………………………………………………………………… 21
SL
) của cá chim vây vàng giống theo thời
gian nuôi được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh…… 25
Hình 3.4: Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) của cá khi kết thúc thí nghiệm……… …27
Hình 3.5: Sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi với
số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và 18 giờ
(18L:6D). ……………………………………………………………………… …29
Hình 3.6: Sinh trưởng khối lượng của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi
với số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và 18 giờ
(18L:6D). …………………………………………………………………….……29
Hình 3.7: Hệ số phân đàn về chiều dài (CV
SL
) của cá chim vây vàng giống theo thời
gian nuôi với số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và
18 giờ (18L:6D). …………………………………………………………… … 31
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
NT : Nghiệm thức
BW : Khối lượng trung bình
SL : Chiều dài kinh tế trung bình
CV : Hệ số phân đàn theo chiều dài
TL : Chiều dài toàn thân
SL : Chiều dài kinh tế trung bình
SGR
w :
12L:6F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 12h, che tối 12h, cho ăn 6 lần/ngày
12L:8F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 12h, che tối 12h, cho ăn 8 lần/ngày
18L:2F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 18h, che tối 6h, cho ăn 2 lần/ngày
18L:4F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 18h, che tối 6h, cho ăn 4 lần/ngày
18L:6F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 18h, che tối 6h, cho ăn 6 lần/ngày
18L:8F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 18h, che tối 6h, cho ăn 8 lần/ngày
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
1
MỞ ĐẦU
Cá chim vây vàng (Tracginotus blochii) là loài cá có giá trị kinh tế cao, thịt
thơm ngon, tốc độ sinh trưởng nhanh. Ngoài ra, cá chim vây vàng còn có thể nuôi
với mật độ cao trong các loại vùng nước lợ, mặn khác nhau với các hình thức nuôi
như nuôi lồng hoặc trong ao đất,… Chính tính dễ nuôi, sử dụng tốt các loại thức ăn
khác nhau ( cá tạp, thức ăn tổng hợp ) và đa dạng về hình thức nuôi, mặt nước nuôi
nên cá chim vây vàng được nuôi phổ biến rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới
như Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia, Singapore [1]
Ở Việt Nam, nghề nuôi ương cá chim vây vàng cũng khá phát triển nhờ đã
chủ động tự sản xuất nhân tạo được con giống, tuy nhiên số lượng con giống sản
xuất ra vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Vì có rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giống: chất lượng trứng,
chất lượng ấu trùng, chế độ cho ăn, chăm sóc, quản lý … và các yếu tố sinh thái
khác. [1]
Ánh sáng và chế độ cho ăn là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự
sinh trưởng và phát triển của thủy sản nói chung và cá chim vây vàng nói riêng.
Trong thực tế sản xuất, cá chim vây vàng giống dừng bắt mồi khi ánh sáng tắt hoàn
toàn. Vì vậy kéo dài thời gian chiếu sáng và tăng số lần cho ăn trong ngày có thể
khiến cá kéo dài thời gian bắt mồi và tăng trưởng tốt hơn.
Những nghiên cứu trên một số loài cá khác cho thấy thời gian chiếu sáng và
chế độ cho ăn có ảnh hưởng lên sinh trưởng của cá (Boeuf và Le Bail, 1999; Dwyer
trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ 1,0 đến 3,5 cm.
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tình hình nghiên cứu cá biển và chim vây vàng trên thế giới :
Nghề nuôi cá biển trên thế giới bắt đầu phát triển từ những năm 70, đối
tượng nuôi chủ yếu là cá hồi, cá cam, cá tráp, cá vược, cá mú, cá hồng, cá măng
biển, … Hầu hết các loài trên con người đã chủ động sản xuất được con giống nhân
tạo, còn một số loài nguồn giống vẫn dựa vào khai thác ngoài tự nhiên.
Trung Quốc và Đài Loan ngay từ những năm 50 đã tiến hành nghiên cứu
sinh sản nhân tạo cá biển. Đầu tiên là cá đối, cá bơn, cá tráp đỏ. Từ những năm 80
đến giữa những năm 90 họ đã cho sinh sản thành công trên 40 loài. Tính đến năm
2000, Trung Quốc đã sản xuất thành công con giống nhân tạo của 54 loài thuộc 24
họ cá biển với số lượng lớn đáp ứng cho nhu cầu nuôi thương phẩm. Hiện nay, một
số nước trên thế giới đã có nền công nghiệp nuôi cá biển phát triển như: Nhật Bản,
Mỹ, Nauy đạt năng suất và sản lượng nuôi rất lớn [4].
Khu vực Nam và Đông Nam Á, trong 3 thập kỷ qua nghề nuôi cá biển cũng
đã phát triển rất mạnh. Các loài cá mú, cá hồng, cá giò, cá chẽm, cá măng, cá tráp,
cá đù đỏ là những đối tượng nuôi phổ biến ở Thái Lan, Malaysia, Philipine, Ấn Độ,
Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc và Việt Nam [4].
Theo thống kê của FAO, giai đoạn từ năm 1988 - 1997 sản lượng cá nước
mặn và cá nước lợ trên toàn thế giới hàng năm tăng trên 10%. Năm 1997 sản lượng
đạt 2 triệu tấn, trị giá khoảng 8 tỷ USD, trong đó sản lượng cá hồi Đại Tây Dương
chiếm ưu thế đạt 640.000 tấn (Hambrey, 2000) [4].
Năm 1981, sản lượng cá hồi ở Nauy chỉ đạt 8.000 tấn. Năm 1998, chỉ tính
riêng sản lượng cá hồi Đại Tây Dương đã đạt 340.000 tấn (Hjet, 2000). Sự thành
triển nhanh và thu ngoại tệ lớn.
Đài Loan, năm 1986, Lâm Liệt Đường đã thu gom 126 con cá chim vây vàng
loại nhỏ, loại vừa và lớn nuôi chung với nhau. Năm 1989, Lâm Liệt Đường bắt đầu
thực nghiệm cho sinh sản nhân tạo, qua 5 lần tiêm kích dục tố trong đó 4 lần cho đẻ,
thu được trên 900 vạn trứng, trong đó số trứng thụ tinh trên 5 vạn. Qua nhiều hình
thức thực nghiệm ương nuôi, cuối cùng thu được 38,6 vạn giống kích cỡ 2 – 3cm.
Đây là lần đầu tiên sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng thành công trên thế giới.[1]
Năm 1993, Trung tâm chuyển giao công nghệ Trường Đại học Trung Sơn
kết hợp với Trại Nghiên cứu giống Thủy sản Quảng Đông – Trung Quốc nghiên
cứu sinh sản nhân tạo thành công giống cá chim vây vàng quy mô nhỏ (ương nuôi
ấu trùng trong bể xi măng). Năm 1998, Trung tâm đã kết hợp với Công ty Trách
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
5
nhiệm Hữu hạn giống Thủy sản Thắng Lợi – Hải Nam – Trung Quốc nghiên cứu
sản xuất nhân tạo thành công trên quy mô lớn (ương nuôi ấu trùng trong ao đất).[1]
Cá chim vây vàng được nhập từ Đài Loan, Trung Quốc bởi vì nó là loài được
nuôi phổ biến ở Đài Loan, Trung Quốc nhưng nó vẫn được tìm thấy ở vùng biển
Indonesia. Cá có tốc độ sinh trưởng nhanh và đem lại giá trị thương mại cao nên là
một loài tiềm năng lớn cho nghề nuôi trồng thủy sản ở khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương (Anony Mous, 2007).
Nghiên cứu tại Trung tâm phát triển nuôi biển ở Batam – Indonesia (Nur.
Muflich Juniyanto và CTV,2008 ) đã thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo
cá chim vây vàng, vì vậy con giống có thể được sản xuất ở địa phương vượt mức
và làm giảm áp lực khai thác giống ngoài tự nhiên. Kết quả thu được là khả năng
sinh sản đạt 60% - 70%; tỷ lệ nở đạt 65% - 75%; tỷ lệ sống của ấu trùng 30 ngày
tuổi đạt 20% - 25%.[4]
1.2 Đặc điểm sinh học cá chim vây vàng
1.2.1 Vị trì phân loại
Ngành : Vertebrata
Hình 1.1: Hình thái ngoài cá chim vây vàng
1.2.3 Phân bố
Phân bố về địa lý: Theo Borut Forlan (2004), cá sống ở vùng cửa biển, được
tìm thấy ở Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Những con cá nhỏ
thường được tìm thấy ở vùng biển cát hoặc gần những vùng cửa sông đáy cát pha
đất sét. Ở giai đoạn con giống chúng có xu hướng liên kết với nhau đi theo đàn, và
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
7
dần tách ra đi một mình khi trưởng thành. Các động vật thân mềm trên cát và động
vật không xương sống khác là thức ăn tự nhiên chính cho loài cá này.[4]
Ở Việt Nam, cá chim vây vàng được tìm thấy ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ,
vùng biển miền Trung và Nam Trung Bộ. [4]
Hình 1.2: Bản đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới.
(Phần chấm đỏ là khu vực cá phân bố)
Phân bố về sinh thái: Đây là loài cá nước ấm, có tập tính di cư, sống ở tầng
giữa và tầng trên. Ở giai đoạn cá giống, thường sống thành đàn ở vùng vịnh cửa
sông, cá trưởng thành bơi ra vùng biển sâu. Cá chim là loài rộng muối, ngưỡng chịu
đựng độ mặn trong khoảng 3‰ – 35 ‰, dưới 20 ‰ cá sinh trưởng nhanh, trong
điều kiện độ mặn cao cá sinh trưởng chậm. Khả năng chịu đựng nhiệt độ tương đối
kém, sinh trưởng tốt nhất ở 22°C - 28°C. Thông thường hàng năm cuối tháng 12
0,25 con/ml. Đến ngày thứ 15 dừng cho ăn Luân trùng và lượng thức ăn tổng hợp
được tăng dần, cứ 1 – 2 giờ cho cá ăn một lần. Ngày thứ 18 lượng Artemia cũng
phải được tăng lên 0,5 con/ml và dừng cho ăn ở ngày thứ 22. Cá giống sử dụng thức
ăn tổng hợp, kích cỡ hạt thức ăn phụ thuộc vào cỡ miệng của cá. Tổng lượng thức
ăn tổng hợp được sử dụng trong ngày có thể là 1kg thức ăn/4,2 vạn cá, đặc biệt là
ngày tuổi thứ 30 (Nur. Muflich Juniyanto và CTV,2008 ).[4]
1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá chim vây vàng có kích thước tương đối lớn, chiều dài có thể đạt tới 45 –
60 cm. Cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi bình thường 1 năm có thể đạt cỡ
cá thương phẩm từ 0,5 – 0,7 kg. Từ năm thứ 2 trở đi, mỗi năm khối lượng tuyệt đối
tăng khoảng 1kg. Trương Bang Kiệt (2001) thử nghiệm nuôi cá giống ở ao, thời kỳ
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
9
đầu sinh trưởng chậm cá dài 2,6 cm, khối lượng 0,52 g, qua 192 ngày nuôi cá dài
9,9 cm, khối lượng 20,53g.
Hình 1.3: Cá chim giai đoạn giống
1.2.6 Đặc điểm sinh sản
Mùa sinh sản ngoài tự nhiên cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác nhau là
khác nhau. Ví dụ, ở Trung Quốc từ tháng 4 – 5 và duy trì cho đến tháng 8 – 9, trong
khi tại Đài Loan lại có thể cho cá sinh sản từ tháng 3 – tháng 10. Qúa trình sinh sản
không tuân theo chu kỳ trăng hàng tháng như nhiều loài cá biển khác.[4]
Tuổi và kích thước thành thục lần đầu ngoài tự nhiên tương đối muộn, cá
thành thục ở tuổi 7
+
- 8
+
. Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhân tạo cá có thể thành
thục sớm hơn. Theo Anony Mous (2007), trong điều kiện nuôi nhốt, để cá đạt được
sản xuất tảo trong giai đoạn đầu khi cá mới nở.
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá
Nhiệt độ.
Nhiệt độ được coi là yếu tố sinh thái quan trọng có ảnh hưởng lớn nhất đến
thủy sinh vật. Nhiệt độ đã ảnh hưởng đến tốc độ của hai quá trình hấp thụ và trao
đổi chất, do đó đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cá (Wooton,
1995). Tồn tại một giới hạn nhiệt độ thấp nhất, trên mức đó mới có sự sinh trưởng
và một giới hạn cao nhất trên mức đó cá sẽ bị chết (Bùi Lai ,1985). Trong khoảng
giới hạn đó có một giá trị nhiệt độ thích hợp cho cá sinh trưởng tốt nhất: cá chẽm
mõm nhọn (24 – 31
o
C), cá hồng (16 – 33
o
C). Với cá chim vây vàng, trong thực tế
sản xuất trại các trại sản xuất nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của cá là 22 –
28
o
C (Bùi Trọng Khiêm, 2008).
Độ mặn
Độ mặn là yếu tố sinh thái có quan hệ mật thiết với đời sống của thủy sinh
vật. Mỗi loài thủy sinh vật nói chung thường chỉ sống ở những giới hạn độ mặn
thích hợp. Với cá chẽm (Lates calcarifer), có những nghiên cứu cho thấy khả năng
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
11
thích nghi với sự thay đổi rộng của độ mặn. Khả năng đó thay đổi theo giai đoạn
phát triển của cá.
Độ mặn ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể cá. Khi độ mặn biến
đổi, một phần năng lượng tiêu tốn vào quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu. Do đó
năng lượng cho quá trình sinh trưởng giảm.
tố quan trọng có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của thủy sinh vật do khả năng
điều tiết hoạt động của hệ nội tiết. Theo Barlow (1993), cá chẽm ở giai đoạn cá
giống có chiều dài 10 – 40 mm có hoạt động bắt mồi diễn ra liên tục vào ban ngày
nhưng đạt đỉnh cao vào lúc chập tối. Cá tiếp tục ăn vào ban đêm dưới ánh trăng
nhưung với mức độ giảm và ngừng ăn khi đêm tối hoàn toàn. Cường độ chiếu sáng
từ 486 – 1489 lux ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cá chẽm giai đoạn 15 – 33
mm. Tốc độ sinh trưởng có xu hướng giảm dần khi cường độ chiếu sáng tăng
lên(Đinh Văn Khương,2008). [2]
Ngoài ra, thời gian chiếu sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỉ lệ sống trong
quá trình ương cá bột, mặc dù trong tự nhiên mức độ ảnh hưởng thay đổi theo loài
(Marliave, 1977; Tandler và Help, 1985; Duray và Kono, 1988). Thời gian chiếu
sáng kéo dài làm tăng tốc độ sinh trưởng của cá chẽm trong 8 – 10 ngày đầu nhưng
sau đó ánh sáng không còn ảnh hưởng sau khi kết thúc giai đoạn biến thái, tỉ lệ sống
không khác biệt giữa các lô thí nghiệm có chu kì chiếu sáng 12, 18 hoặc 24 giờ
(Barler, 1995).[2]
Hiện nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá ảnh hưởng của cường
độ chiếu sáng, chu kỳ quang đến sự phát triển của cá chim vây vàng ở giai đoạn
ương. Những hiểu biết về cường độ chiếu sáng đến hoạt động sống và tăng trưởng
của cá chim vây vàng giống còn rất hạn chế. Do vậy, việc nghiên cứu kéo dài thời
gian cho ăn thông qua kéo dài thời gian chiếu sáng ở giai đoạn sản xuất giống nhằm
cải thiện tốc độ sinh trưởng của cá và góp phần rút ngắn thời gian sản xuất.
Thức ăn và chế độ cho ăn
Thức ăn cung cấp năng lượng giúp cho vật nuôi sinh trưởng, phát triển, nâng
cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Protein là thành phần thức ăn, chất dinh
dưởng cần thiết để duy trì cuộc sống cho sinh vật. Trong đó với các loài cá khác
nhau và giai đoạn sinh trưởng khác nhau thì nhu cầu protein cũng thay đổi khác
nhau.
Protein trong thức ăn không được động vật thủy sản trực tiếp tiêu hóa hấp thụ
mà phải nhờ tác dụng của men phân giải chúng thành các amino acid, thông qua hệ
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Bố trí lắp đặt hệ thống bể thí nghiệm
Bể ương cá thí nghiệm là bể composit hình tròn, màu đen, có thể tích 70 lít,
đáy bể hình nón, bên trong sơn màu đen, bên ngoài màu xanh nước biển nhạt, có lỗ
•
Không bổ sung vi sinh
• DIGES TÃO
• QM-BINDER+ QM-PROBIOTIC
• COMPOZYME
• LACTOBACILUS 1: 10
7
X
Thời gian chiếu
sáng trong ngày
(12L;18L)
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
15 thoát nước phía dưới đáy bể. Số bể là 24 cái (với 8 nghiệm thức, 3 lần lặp) được nối
với hệ thống lọc sinh học thể tích 2m
3
, nước được tuần hoàn với lưu lượng 5L/phút,
che lưới chống cá nhảy ra ngoài. Bể thí nghiệm được xếp thành 2 dãy thẳng hàng,
mỗi dãy 12 bể , 8 nghiệm thức, 3 lần lập được sắp xếp ngẫu nhiên.
Bể lọc sinh học tuần hoàn nước: thể tích 2m
3
, thể tích giá thể lọc là 1,2m
3
.
Giá thể lọc là các mảnh vụn san hô, nhựa dẻo. Lượng nước lưu thông liên tục trong
bể nuôi 1 – 3 phút/L, tùy vào giai đoạn cá mà có sự điều chỉnh cho phù hợp.
Nguồn nước cấp vào bể được bơm từ biển đã qua quá trình xử lý bằng
chlorine 5ppm và lọc cơ học. Trong mỗi bể đặt 1 viên đá sục khí để cung cấp oxy
cho cá trong quá trình thí nghiệm.
Hình 2.2: Hệ thống bể thí nghiệm Hình 2.3: Bể lọc sinh học
Thức ăn: thức ăn tổng hợp NRD của công ty INVE – Thái Lan ( Protein
giảm tổn thương trong hệ tiêu hóa, hấp thụ trực tiếp NH
3
trong phân trước khi thải
ra ngoài, làm giảm lượng NH
3
trong ao nuôi. Hình 2.5: Chế phẩm DIGES TÃO
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
17 Thành phần: Sacharomyces boulardii, Lactobacillus acudophilus, Bacillus
subtilis. Hệ enzyme đường ruột: Protease, Amylase, Lipase, Glucanase, Cellulase,
Hemicelluase, tas dược vừa đủ (đường Lactose ).
Liều dùng và cách sử dụng: 2gr cho 1kg thức ăn, dùng liên tục trong suốt quá
trình nuôi, dùng dầu mực áo lại để tránh thất thoát thuốc tăng hiệu quả sử dụng.
QM-BINDER:
Hình 2.6: Chế phẩm QM-BINDER
Công dụng: bổ sung acid amin thiết yếu vào thức ăn, bọc viên thức ăn.
Thành phần: Lysin, Methionine, tinh bột lúa mì, chất mang (tinh bột lúa mì)
vừa đủ.
Liều dùng và cách sử dụng: 100g QM-BINDER trong 1 lít nước sạch, sau đó
tưới và trộn đều cho 10kg thức ăn, để yên 10 phút rồi cho ăn.
QM-PROBIOTIC:
Hình 2.7: Chế phẩm QM-PROBIOTIC
Công dụng: kích thích tiêu hóa
- Nghiệm thức 2 (DI):bổ sung chế phẩm DIGES TÃO ( 2g/kg thức ăn ).
- Nghiệm thức 3 (QM): bổ sung chế phẩm QM-BINDER ( 10g/kg thức ăn ) +
QM-PROBIOTIC ( 3g/kg thức ăn ).
- Nghiệm thức 4 (CP): bổ sung chế phẩm COMPOZYME ( 2g/kg thức ăn ).
- Nghiệm thức 5 (P1.10
7
) : bổ sung chế phẩm vi sinh lactobacilus 1: 10
7
CFU/g
( 1ml/6g thức ăn ).
- Nghiệm thức 6 (P1.10
9
): bổ sung chế phẩm vi sinh lactobacilus 1: 10
9
CFU/g
(1ml/6g thức ăn ).
- Nghiệm thức 7 (P2.10
7
): bổ sung chế phẩm vi sinh lactobacilus 2: 10
7
CFU/g
(1ml/6g thức ăn ).
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()
19 - Nghiệm thức 8 (P2.10
9
): bổ sung chế phẩm vi sinh lactobacilus 2: 10
9
Thu mẫu , xử lý số liệu: định kì hoặc 7 ngày kiểm tra sinh trưởng 1 lần, mỗi
lần lấy mẫu mỗi bể 40 con để đo chiều dài và cân khối lượng toàn bộ mẫu rồi lấy
giá trị trung bình. Khi kết thúc thí nghiệm lấy mỗi bể lấy 40 cá thể để đo và cân toàn
bộ khối lượng cá rồi lấy giá trị trung bình.
2.4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của số lần cho ăn, thời gian chiếu sáng trong
ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ 1,0
đến 3,5 cm
Thí nghiệm được bố trí với 8 nghiệm thức với các số lần cho ăn lần lượt là 2
lần/ngày, 4 lần/ngày, 6 lần/ngày, 8 lần/ngày kết hợp với 2 chế độ thời gian chiếu
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()