i
1. LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả nghiên cứu thật
sự nghiêm túc của cá nhân Tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của 2 Cán bộ hướng dẫn
khoa học: Tiến sĩ Võ Thế Dũng và Tiến sĩ Phạm Quốc Hùng.
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực.
Tác giả
Nguyễn Cao Lộc
ii
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha
Trang, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Sau Đại Học cùng toàn thể qúy Thầy Cô đã
hết lòng giảng dạy, truyền đạt cho Tôi những kiến thức quí báu trong suốt quá trình
học tập tại trường.
Đặc biệt, cho Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai Cán bộ hướng dẫn
khoa học của tôi là TS. Võ Thế Dũng và TS. Phạm Quốc Hùng đã trực tiếp hướng dẫn
và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Lãnh Đạo Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ
Sản III, các Anh/Chị đang công tác tại Phòng Sinh Học Thực Nghiệm đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi về thời gian, giúp đỡ Tôi về cơ sở vật chất và trang thiết bị thí nghiệm
cho Tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc đến Bố Mẹ và Anh em đã tạo điều
thuân lợi về vật chất, thời gian và luôn động viên, khích lệ tinh thần cho Tôi trong suốt
quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, cho Tôi gửi lời cám ơn đến các Anh/Chị và các bạn trong lớp Cao
học Nuôi Trồng Thủy Sản 2009 – 2010 đã động viên và khích lệ Tôi trong toàn bộ
1.3. Các loại chất kích thích sinh sản cá mặt quỷ 12
1.3.1. Kích dục tố màng đệm nhau thai (HCG) 12
1.3.2. GnRH-A, chất kháng Dopamin và phương pháp LinPe 14
1.3.3. Não thùy cá chép 16
1.4. Kích thích các loài cá biển sinh sản bằng các yếu tố sinh thái 17
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1. Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 19
2.2. Sơ đồ nghiên cứu 20
2.2.1. Điều tra một số đặc điểm sinh thái của cá mặt quỷ 21
2.2.2. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản 21
2.2.2.1. Căn cứ vào hình thái bên ngoài để phân biệt giới tính 24
2.2.2.2. Tỷ lệ giới tính 25
2.2.2.3. Kích thước thành thục sinh dục lần đầu 25
2.2.2.4. Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục 25
2.2.2.5. Mùa vụ sinh sản 26
3.3.5.1. Sự phát triển của tuyến sinh dục theo thời gian 42
3.3.5.2. Hệ số thành thục 44
3.3.6. Sức sinh sản 46
3.4. Kết quả bước dầu thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ 47
3.4.1. Kích thích sinh sản bằng các yếu tố sinh thái 47
3.4.2. Kích thích sinh sản bằng các chất kích thích sinh sản 48
3.4.2.1. Kết quả thử nghiệm sinh sản cá mặt quỷ bằng LHRH-A 49
3.4.2.2. Thử nghiệm sinh sản bằng HCG và Não thùy cá chép 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 56
1. Kết luận 56
2. Đề xuất ý kiến 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤCv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Sản lượng nuôi trồng thủy sản của 10 quốc gia hàng đầu thế giới 6
Hình 3.1: Thí nghiệm 3 loại chất đáy: A: đáy cát, B: đáy đá nhỏ và san hô, C: đáy
bùn cát 34
Hình 3.2: Cá cái 36
Hình 3.4: Đồ thị biểu diễn kích thước thành thục lần đầu 39
Hình 3.5: Tiêu bản tổ chức học tuyến sinh dục cá cái giai đoạn 2 40
Hình 3.6: Tiêu bản tổ chức học tuyến sinh dục cái giai đoạn 3 40
Hình 3.10: Tuyến sinh dục cá đực 42
Hình 3.11: Thăm trứng kiểm tra mức độ thành thục sinh dục 49
Hình 3.12: Tiêm LHRH_A cho cá 51
Hình 3.13: Bụng cá trương to sau 24 giờ tiêm 51
Hình 3.14: Thu trứng từ bể đẻ (A) và đo đường kính trứng (B) 53
Hình 3.15: Trứng cá 53
vii
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ Tên tiếng Việt (nếu có)
Hormon gây phóng thích
KDT trên động vật có vú
NTTS Nuôi trồng Thủy sản
PMSG Pregmant Mareserun
Gonadotropin
Kích dục tố huyết thanh
ngựa chửa
sGnRH Samol Gonadotropin –
Realesing Hormone
Hormon gây phóng thích
KDT trên cá hồi
SSS Sức sinh sản
1
MỞ ĐẦU
Ngành Thủy sản có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của nước ta, trong
những năm qua, ngành Thủy sản luôn nằm trong số các ngành có kim ngạch xuất khẩu
lớn nhất; ngoài ra, ngành thủy sản còn tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm, góp
phần không nhỏ vào việc ổn định kinh tế vĩ mô của cả nước. Có được thành công đó,
một phần nhờ nghề NTTS luôn tạo ra những công nghệ mới, đưa đối tượng mới vào
sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường; nhờ đó, dù có nhiều khó khăn, sản lượng
và chất lượng sản phẩm của nghề NTTS sản luôn được nâng cao [6].
Trong nỗ lực đi tìm các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao cho nghề
NTTS, gần đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã cấp kinh phí cho Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy Sản III thực hiện đề tài cơ sở “Nghiên cứu một số đặc
điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ (Synanceia
verrucosa Bloch & Schneider, 1801”. Đề tài do Tiến sĩ Võ Thế Dũng làm chủ nhiệm.
Hiện nay, ở nước ta chỉ có 3 công trình nghiên cứu xuất bản liên quan đến loài
cá này. Công trình nghiên cứu đầu tiên của Nguyễn Hữu Phụng (1999), chỉ nêu một số
thông tin về phân loại và một vài vùng phân bố của loài [24]. Công trình nghiên cứu
Ý nghĩa thực tiễn: Xác định một số đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm
sinh sản cá mặt quỷ để tiến hành nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài cá này.
3
3. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Phân loại và đặc điểm sinh học của cá mặt quỷ
1.1.1. Hệ thống phân loại
Theo Bảo tàng Úc, cá mặt quỷ có hệ thống phân loại như sau:
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopteryrii
Bộ: Scorpaeniformes
Họ: Synanceiidae
Giống: Synanceia
Loài: S. verrucosa Bloch & Schneider, 1801.
Theo Nguyễn Hữu Phụng (1999), cá mặt quỷ phân bố ở vùng biển Việt Nam
thuộc họ cá mao quỷ (Synanceiidae), bộ cá mù làn (Scorpaeniformes) với 375 loài
trong đó có 82 loài có phân bố ở vùng biển phía tây Ấn Độ Dương; đa số các loài đều
không có giá trị kinh tế, vì chúng thường có kích thước quá nhỏ và nguồn lợi không đủ
cung cấp cho khai thác ở qui mô lớn [24]. Tuy nhiên, một số loài thuộc họ cá mao quỷ,
bao gồm cả loài cá mặt quỷ rạn san hô (Synanceia verrucosa) (sau đây gọi tắt là cá mặt
quỷ) có kích thước từ trung bình đến lớn, sản lượng nhiều và là đối tượng chính của
nghề khai thác thủy sản ở một số nơi vùng phía Bắc Đại Tây Dương và Thái Bình
Dương [50]. Cá mặt quỷ có thịt thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao, vì thế chúng
rất được ưa chuộng ở các nhà hàng; ngoài ý nghĩa dinh dưỡng, nó còn là một loài cá
cảnh, vì thế giá trị của loài cá này ngày càng được nâng cao, hiện giá bán tại các điểm
mua bán trung gian ở Việt Nam dao động khoảng 500.000 - 900.000/kg.
1.1.2. Đặc điểm phân bố và hình thái cấu tạo
Cá mặt quỷ có phân bố địa lý rộng, chủ yếu ở những vùng nhiệt đới của Ấn Độ
Dương và Thái Bình Dương [50, 53]; đặc biệt nhiều ở các nước Singapore, Malaysia,
các đảo của Indonesia, Úc, Ấn Độ và phía Nam của Châu Phi [48].
Khu vực phân bố của cá mặt quỷ có các đặc điểm sinh thái đặt trưng như nền
dạng thô sơ gắn chặt trên da. Tất cả các loài cá mặt quỷ đều có đường bên, tuy nhiên,
đường bên có thể không hoàn chỉnh hoặc chỉ như một đường rãnh mà không có vẩy.
Hầu hết các loài đều có nhiều mụn nhỏ mọc trên đầu và toàn bộ cơ thể [50].
1.1.3. Một số đặc điểm sinh học khác
Cá mặt quỷ có khả năng ngụy trang và thích nghi rất tốt, khi ngụy trang, trông
chúng giống như tảng đá hoặc tảng san hô và nó sẽ không bơi đi khỏi nơi trú ẩn kể cả
khi nơi trú ẩn bị xáo trộn. Bằng việc sử dụng các vây ngực, chúng có thể ẩn mình
5
xuống dưới bùn hoặc cát, đá, sỏi của nền đáy và nằm bất động dưới đó [31, 49]. Cá
mặt quỷ có khả năng sống được trên cạn trong vài giờ đồng hồ [35].
Cá mặt quỷ là loài ăn thịt, thức ăn của chúng là các loại cá và giáp xác. Khi có
con mồi thích hợp bơi qua trước mặt, cá mặt quỷ có thể bất ngờ tấn công với tốc độ rất
nhanh và sau đó nó lại nằm xuống nền đáy giống như ban đầu [31, 55].
Theo Poss và Rao (1984), cá mặt quỷ là loài có kích thước trung bình, con
trưởng thành có kích thước dao động từ 5 - 40cm, nhưng đa số là từ 8 - 25cm [50]. Tại
vùng biển Úc, người ta thường bắt gặp cá mặt quỷ có chiều dài khoảng 35cm, đặc biệt
đã có những báo cáo ghi nhận kích thước chiều dài của cá mặt quỷ đạt tới 50cm [31].
Cá đuối và cá mập là hai loài địch hại chủ yếu của cá mặt quỷ. Johnson đã tìm
thấy trong ruột của cá mập lớn (cá mập hổ và cá mập trắng) có cá mặt quỷ, bên cạnh
đó cá mặt quỷ nhỏ cũng là loại thức ăn ưa thích của loài rắn biển Astrotia stokesii [31].
Tất cả các loài cá đá thuộc họ cá mù làn đều có gai độc, đặc biệt là các loài
trong giống Pterois và Synanceia từ lâu đã được xem như là một trong những loài cá
độc nhất thế giới [53]. Cấu trúc, cơ chế và hoạt tính sinh học của nọc độc ở cá mặt quỷ
đã được nghiên cứu từ rất sớm [33]. Nọc độc của cá đá là một dạng Protein tự nhiên,
được tiết ra từ các gai trên vây lưng sẽ gây ra những cơn đau dữ dội, làm giảm huyết
áp, phù nề, mất cảm giác, rối loạn tuần hoàn và ngưng tim, nghiêm trọng hơn nó có thể
gây chết người [39, 41, 50, 53, 55]. Tuy nhiên, sự phát triển của chất kháng nọc độc
của cá mặt quỷ vào năm 1959 đã góp phần làm giảm mạnh tỷ lệ chết bởi nhiễm độc từ
các loài cá này [31]. Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu về thành phần dược lý của chất
độc tiết ra từ các loài cá mặt quỷ vì các nhà khoa học tin rằng chất độc của chúng có
2.472.335
6,3
3
Việt Nam 703.041
1.198.617
30,6
4
Thái Lan 954.567
1.172.866
10,8
5
Indonesia 914.071
1.045.051
6,9
6
Bangladesh 786.604
914.752
Sản lượng của 10 nước 35.732.648
40.114.531
6,0
Sản lượng của các nước
khác
4.650.830
5.353.825
7,3
Tổng sản lượng 40.383.471
45.468.356
6,1
Nguồn: FAO, 2007
Trong những năm qua nghề nuôi thủy sản lợ, mặn được xem như một ngành
công nghiệp có tốc độ phát triển nhanh, thu lại lợi nhuận cao trên toàn thế giới. Nuôi
thủy sản biển đóng góp tới 36% sản lượng và 33,6% giá trị thủy sản nuôi; nuôi thủy
sản nước lợ chiếm 7,4% sản lượng và 16,3% giá trị chủ yếu là nhóm giáp xác và cá
biển có giá trị kinh tế cao. Sản lượng cá nước mặn và nước lợ nuôi năm 2004 là
4.299.000 tấn đạt giá trị 13.297 triệu USD chiếm 9,5% tổng sản lượng và 21% về giá
trị động vật thủy sản nuôi, trong đó chiếm ưu thế là các loài cá nước lạnh như cá hồi,
cá tráp và cá chẽm châu Âu, và chỉ tính riêng nhóm cá hồi (salmon, trout, smelt) đã
chiếm 1.978.109 tấn (năm 2002 là 1.791.061 tấn) [36]. Mặc dù vậy, nhóm cá nước ấm
như cá mú, cá chẽm, cá giò và cá cam cũng chiếm sản lượng đáng kể [42].
7
Na Uy, Chi Lê, Vương Quốc Anh và Bắc Ailen (UK) và Canada là những nước
japonicus), cá tráp đỏ (Pagrus auratus), cá cam (Seriola lalandi) và cá mú (Epinephelus
coioides, Cromileptes altivelis).
Nuôi cá biển ở châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục tăng trưởng nhanh, sản
lượng tăng trung bình 10%/năm, giá trị 4%/năm trong 10 năm trở lại đây và năm 2005
đạt 1.143.719 tấn, giá trị 4,1 tỷ USD. Trong đó, nước có sản lượng cá biển lớn nhất là
8
Trung Quốc với 659.000 tấn, đạt 662 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 256.000
tấn, Indonesia đạt 19.000 tấn. Nhật Bản là một trong những quốc gia có nghề nuôi cá
biển lâu đời ở châu Á. Các đối tượng nuôi chính là cá cam (Seriola quinqueradiata),
cá tráp đỏ (Pagrus auratus) với sản lượng năm 1997 lần lượt là 138.376 tấn và 80.903
tấn đạt giá trị 147,5 và 82,7 tỷ yên. Trong đó, cá cam là đối tượng nuôi truyền thống,
trước đây nguồn giống chủ yếu lấy từ tự nhiên và cho ăn bằng cá tạp, nay được thay
thế dần bằng nguồn giống nhân tạo và cho ăn bằng thức ăn tổng hợp, gần đây đối
tượng có giá trị kinh tế cao là cá ngừ vây xanh, một đối tượng đang được quan tâm
nghiên cứu phát triển nuôi với quy mô lớn [51].
Trung Quốc là nước có sản lượng NTTS đứng đầu thế giới, sản lượng cá biển
năm 2000 là 426.957 tấn, chiếm 4% tổng sản lượng thuỷ sản nuôi toàn thế giới [57].
Kỹ thuật sản xuất giống cá biển nhân tạo ở Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1950 và
phát triển mạnh vào những năm 1980. Tính đến năm 2000, Trung Quốc đã sản xuất
thành công con giống nhân tạo của 54 loài thuộc 24 họ cá biển với số lượng lớn đáp
ứng cho nhu cầu nuôi thương phẩm. Số lượng sản xuất hàng năm khoảng 10 tỷ con
giống cá biển các loại và tập trung chủ yếu vào các loài có giá trị kinh tế như cá mú
(Epinephelus spp.), cá hồng (Lutjanus spp.), yellowfin puffer (Takifugu xanthopterus),
large yellow croaker (Pseudosciaena crocea), cá hồng Nhật Bản (Lateolabrax
japonicus), cá bơn Nhật Bản (Paralichthys olivaceus) cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus),
cá tráp đỏ (Pagrus auratus), cá chẽm châu Á (Lates calcarifer), cá đối (Mugil
cephalus), cá măng (Chanos chanos),… , trong đó riêng loài large yellow croaker
chiếm khỏang 1,3 tỷ con [45].
Nghề NTTS sản ở Đài Loan xuất hiện cách đây trên 300 năm, tuy nhiên nền công
nghiệp sản xuất giống cá biển ở đây chỉ thực sự phát triển trong khoảng trên 30 năm trở
mặt quỷ (Synanceia verrucosa).
1.2.2. Ở Việt Nam
Ngành NTTS ở nước ta đóng vài trò quan trọng trong phát triển kinh tế và đã
được FAO đánh giá là một trong những hoạt động hiệu quả giúp xoá đói giảm nghèo.
Năm 2005, sản lượng NTTS cả nước đạt 1.437.350 tấn, chủ yếu là cá nước ngọt và tôm
nước lợ, trong đó sản lượng cá biển và cá nước lợ là 57.739 tấn. Nước ta có điều kiện rất
thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá biển nhờ vào nhiều yếu tố thuận lợi bao gồm: (1) có
nhiều loài cá nước lợ, mặn phân bố, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao đã được
phát triển nuôi như: cá mú, cá chẽm, cá tráp, cá hồng, cá giò và cá măng; (2) diện tích
mặt nước cho nuôi thủy sản nước lợ, mặn lớn, và đa dạng có thể phát triển nuôi lồng bè,
nuôi đăng hoặc nuôi trong ao; (3) nguồn lao động dồi dào, có trình độ cao và nhiều kinh
10
nghiệm về nuôi hải sản; (4) sự thành công của nhiều công trình nghiên cứu sản xuất
giống và nuôi thương phẩm một số đối tượng cá biển có giá trị kinh tế. Với tiềm năng
như vậy, Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đặt chỉ tiêu năm 2010 sản xuất được
200.000 tấn cá biển. Tuy nhiên, so với nuôi các đối tượng khác thì nuôi cá biển phát triển
tương đối chậm, tính đến năm 2005, sản lượng cá biển nuôi mới chỉ đạt được khoảng 3.510
tấn, quá thấp để có thể đạt mục tiêu đề ra cho năm 2010, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu
con giống, công nghệ nuôi lạc hậu và khó khăn về thị trường nên hiệu quả không cao [3].
Cuối những năm 1990, đầu những năm 2000, có nhiều công trình nghiên cứu
sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm các loài cá biển được tiến hành tại nhiều
Viện Nghiên cứu NTTS ở Việt Nam như:
Từ năm 1994, Đào Mạnh Sơn và Đỗ Văn Nguyên (1998), nghiên cứu đặc điểm
sinh học, nuôi và sản xuất giống nhân tạo một số loài cá biển ở miền Bắc Việt Nam.
Kết quả bước đầu đã tạo ra được những con cá song (Epinephelus spp), cá hồng, cá giò
giống đầu tiên ở Việt Nam [25]. Từ năm 1994 – 1995, Trần văn Đan đã tiến hành
nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá bớp (Bostrichthys sinensis) [7].
Nguyễn Tuần và CTV (2000), nghiên cứu công nghệ nuôi vỗ và sinh sản nhân
tạo cá vược (Lates calcarifer). Kết quả nghiên cứu đã tạo ra con giống cá vược, đã đề
xuất được quy trình công nghệ sản xuất giống cá vược, mở ra nhiều triển vọng cho
giống nhân tạo một số loài cá biển. Tính đến năm 2005, cả nước sản xuất được khoảng
3,3 triệu con giống cá biển các loại, trong đó cá chẽm là 800.000 con giống cỡ 30 –
40mm, cá mú 1.300.000 con cỡ 40 – 100mm, cá đù đỏ 700.000 con cỡ 50mm, 600.000
con cá giò cỡ 70 – 90mm và chỉ đáp ứng được 11,8% (28 triệu con vào năm 2010) nhu
cầu con giống cho người nuôi. Nguyên nhân chủ yếu là chưa có các trại sản xuất giống
đại trà, mà con giống chủ yếu được sản xuất tại các trại thực nghiệm của các Trường
Đại học và Viện Nghiên cứu Thuỷ sản, mặt khác công nghệ sản xuất giống cá biển còn
rất hạn chế nên chưa đủ giống cho nhu cầu nuôi.
Nhìn chung, nghề nuôi cá biển ở nước ta những năm gần đây phát triển khá
nhanh và đạt được kết quả đáng khích lệ. Mặc dù, trong nước đã sản xuất được con
giống nhân tạo một số loài cá biển như cá chẽm, cá mú, cá giò và cá hồng Mỹ, cá chim
vây vàng, nhưng số lượng vẫn rất hạn chế không đáp ứng đủ cho nhu cầu nuôi. Trong
khi, nguồn giống thu từ tự nhiên không đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng,
giống nhập từ các nước khác về giá lại cao, tỷ lệ sống khi ương nuôi thấp do môi trường
nuôi thay đổi. Bên cạnh đó, công nghệ nuôi lạc hậu, chủ yếu sử dụng cá tạp làm thức ăn
dẫn đến ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bùng phát và không ổn định, thị trường tiêu thụ
hẹp nên hiệu quả nuôi vẫn chưa cao. Do vậy, để nghề nuôi cá biển phát triển bền vững,
12
đạt được năng suất cao và ổn định bên cạnh việc mở rộng thị trường, nghiên cứu phát
triển sản xuất thức ăn công nghiệp thay thế cho cá tạp thì cần thiết phải tập trung vào
khâu nghiên cứu sản xuất con giống nhân tạo.
Ở Việt Nam chỉ có 3 công trình nghiên cứu về loài cá mặt quỷ Synanceia
verrucosa. Công trình đầu tiên của Nguyễn Hữu Phụng (1999), chỉ nêu lên một vài đặc
điểm phân loại và phân bố của loài [24]. Công trình nghiên cứu của Võ Thế Dũng và
CTV (2011, 2012), cho biết một số đặc điểm sinh học sinh sản như: cá mặt quỷ thành
thục sinh dục lần đầu khi đạt khối lượng 600g. Cá thành thục rải rác quanh năm, tuy
nhiên mùa vụ sinh sản chính từ tháng 3 đến tháng 6 trong năm. Tỷ lệ thành thục sinh
dục của cá mặt quỷ tăng từ 51,1% ở tháng 3 đến 60,0% ở tháng 6, sau đó tỷ lệ này
giảm dần. SSS tuyệt đối của cá mặt quỷ dao động từ 1.147.740 – 2.119.680 trứng/cá
cái, trung bình là 1.580.862 trứng/cá cái. SSS tương đối dao động từ 998 – 1.177
thành thục cũng đã được ứng dụng ở cá chình Nhật Bản (Anguilla japonica) sau khi
tiêm một liều HCG. Trên một số loài cá chép Trung Quốc, HCG thường được dùng ở
liều 1500 - 2000UI/kg cá bố mẹ với thời gian hiệu ứng khoảng 5 - 6 giờ. Ở một số loài
cá mú (Epinephelus spp.), liều HCG dùng dao động trong khoảng 500 - 1000UI/kg và
thường được tiêm 2 - 3 lần với thời gian hiệu ứng 12 - 24 giờ. Đối với cá lốc bông
(Channa micropeltes) để kích thích sinh sản, HCG có thể tiêm 2000 - 3000UI/kg cho
cá đực và 500UI/kg cho cá cái và tiêm cá đực trước khi tiêm cho cá cái. Tuy nhiên nếu
cá cái được tiêm 1000UI/kg thì cho sức sinh sản tốt hơn so với liều 1500UI/kg. HCG
có khả năng kích thích sinh sản cá leo với liều lượng từ 2000 - 5000UI/kg. Một trong
những ưu điểm của HCG là nó ảnh hưởng nhanh hơn vì tác động trực tiếp lên tuyến
sinh dục, kích thích thành thục, rụng và đẻ trứng.
Việc sử dụng HCG bộc lộ một số trở ngại nhất định. HCG là một peptide lớn và
khi cá được tiêm HCG, chúng có thể phát triển các kháng thể chống lại. Ở những lần
tiêm tiếp theo, khi cá được tiêm HCG với liều tương tự, chúng sẽ hình thành phản ứng
miễm dịch và HCG sẽ bị trung hòa miễn dịch. Như vậy để kích thích cá đẻ trứng thì
cần phải tiêm liều cao hơn cho những lần sau. Một trong số ít các nghiên cứu về kháng
nguyên HCG đã thực hiện trên cá vàng và cá mè trắng. Kết quả nghiên cứu kết luận
rằng dù tiêm nhiều lần HCG, nhưng vẫn không tìm thấy các kháng thể của HCG. Bằng
phương pháp ELISA, người ta cũng đã phát triển các kháng thể đặc hiệu cho HCG để
phản ứng lại HCG ngoại sinh trên cá Morone saxatilis. Kháng thể của HCG xuất hiện
trong máu cá sau khi tiêm 17 ngày với liều 500UI/kg. Hàm lượng kháng thể HCG đạt
cực đại sau khi tiêm một tháng và duy trì ít nhất trong 60 ngày và kết quả cho thấy kháng thể
HCG miễn dịch rất mạnh và như vậy ở cá đã phát triển kháng thể chống lại HCG [14].
14
1.3.2. GnRH-A, chất kháng Dopamin và phương pháp LinPe
GnRH-A được sử dụng rộng rãi trong sinh sản nhân tạo cá vì các loại GnRH-A
làm tăng hiệu quả đáng kể so với các GnRH tự nhiên. Nghiên cứu đầu tiên trên cá cái
cho thấy GnRH tự nhiên và GnRH-A có hiệu quả trong việc kích thích sự phát triển
buồng trứng, thành thục và rụng trứng ở liều 1 - 15 mg GnRH/kg cá bố mẹ, hoặc 1 -
100 mg GnRH-A/kg. Một số loài cá không thành thục trong điều kiện nuôi nhốt vẫn có
6
,Pro
9
,NEt]-sGnRH có hoạt tính
mạnh hơn ở cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) và cá vàng. Do [D-Ala
6
,Pro
9
,Net]-
mGnR được tổng hợp bằng các kỹ thuật tiên tiến trong y khoa nên được sử dụng phổ
biến rộng rãi và rẻ hơn so với [D-Arg
6
,Pro
9
,NEt]-sGnRH. Do vậy, [D-Arg
6
,Pro
9
,NEt]-
sGnRH là hormon được sử dụng nhiều trong nghiên cứu và sinh sản nhân tạo. Việc sử
15
dụng GnRH-A trong nuôi trồng thủy sản đã làm thay đổi đáng kể trong công tác quản
lý đàn cá bố mẹ và sinh sản nhân tạo và việc sử dụng GnRH-A được xem như là một
công cụ rất hiệu quả và không thể thiếu đối với các trại sản xuất giống nhân tạo.
GnRH-A cũng có thể được tổng hợp ở dạng viên nén và cấy dưới da của cá bố mẹ.
Phương pháp này cho thấy một số ưu điểm như kéo dài thời gian kích thích, rẻ tiền và
hạn chế stress cho cá. Bên cạnh đó, một số công trình đã thực hiện vào đầu năm 1990
cho thấy tiềm năng của việc sử dụng GnRH-A thông qua cho ăn, mặc dù kết quả cho
thấy nhiều hứa hẹn nhưng phương pháp này vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và ứng
dụng rộng rãi trong sinh sản nhân tạo.
thục còn tươi sống. Cá đã chết sau vài giờ, hoạt tính kích dục chỉ còn lại 50% (Marcel,
1980). Trong trường hợp cùng thể trọng và mức độ thành thục thì não thùy của cá chép
cái có hoạt tính GTH II cao gấp hai lần so với não thùy cá đực cùng loài (Blanc và
Abraham, 1968). Cá có hệ số thành thục càng cao, càng gần thời điểm sinh sản thì hoạt
tính kích dục của não thùy càng cao. Ở những loài thuộc họ cá chép và nheo, tức
những cá tự đẻ được trong ao như cá chép, diếc, trê có hoạt tính kích dục não thùy cao
hơn 1,5 - 2 lần so với những loài có thể thành thục nhưng không tự đẻ được trong ao
như cá trắm, cá mè, cá tra. Não thùy cá chép được coi là loại chế phẩm kích dục tố
mạnh cho nhiều loài cá kể cả các đối tượng khác họ và cả các loài cá biển.
Não thùy mới lấy và được làm sạch cơ học được cho vào lọ có nút kín có chứa
aceton nguyên chất. Thể tích aceton trong lọ gấp 20 - 100 lần thể tích não thùy. Aceton
có tác dụng khử nước và mỡ. Sau một ngày đêm ngâm não thùy, người ta thay aceton.
Có thể làm như thế vài lần cho đến khi aceton không còn biến màu nữa. Từ đó có thể
bảo quản bằng cách để nguyên não thùy trong lọ aceton nơi mát và tránh ánh nắng. Có
thể dùng cồn 96
0
thay vì aceton.
Việc định liều não thùy cho cá bố mẹ các loài tùy thuộc vào nhiều yếu tố như
chất lượng hoạt tính của não thùy, tình trạng thành thục của cá bố mẹ khi được tiêm
(mức độ thành thục, hệ số thành thục), nhiệt độ nước, các điều kiện khác của môi
trường chứa cá sau khi được tiêm thuốc kích thích giống như các yếu tố ở bãi đẻ tự
nhiên của cá. Việc sử dụng não thùy để kích thích cá sinh sản được căn cứ vào những
điều kiện cụ thể và theo kinh nghiệm của kĩ thuật viên. Ở một số nước thuộc Liên xô
trước đây người ta thường áp dụng biện pháp tiêm não thùy hai lần. Lần thứ nhất được
gọi là tiêm sơ bộ hoặc khởi động, trong đó lượng não thùy bằng khoảng 0,5 mg/kg
hoặc 1/10 liều thứ hai – liều quyết định. Ở Liên Xô trước đây, nếu dùng não thùy cá
chép cho cá mè cái, trắm, người ta dùng liều quyết định trong khoảng 2,5 - 3,9 mg/kg.
17
Ở các nước khác trong trường hợp tương tự, liều tiêm có thể đến 5 - 6 mg/kg. Đối với
những cá có hệ số thành thục càng lớn (càng nhiều trứng), người ta dùng liều càng cao.
3
), bể được che kín, hệ thống bơm nước vào bể
18
phải tạo được dòng chảy có tốc độ trung bình 0,2m/s, theo một chiều nhất định. Nước
trong bể đẻ phải được lọc sạch, độ mặn đảm bảo từ 30 – 34%
o
, nhiệt độ dao động từ
26 – 30
0
C [25].
Đỗ Văn Khương, Nguyễn Quang Hùng và CTV (2005), nghiên cứu sản xuất
giống cá song mỡ (Epinephelus tauvina) thành công bằng phương pháp tạo các yếu tố
môi trường sinh thái thích hợp và tiêm LHRH_A cho cá. Phương pháp tiến hành như
sau: bể cá đẻ có dạng hình trụ, có đường kính 4 – 5m, cao 2,5m dung tích bể từ 30 –
45m
3
, có mái và được che kín toàn bộ, có hệ thống nước chảy vòng tròn, tạo dòng
chảy với lưu tốc 0,2m/s, có nơi thoát nước phía trên là nơi hứng trứng chảy ra, lối
thoát nước phía dưới để thay nước hàng ngày và xi phong đáy, có hệ thống sụt khí
đảm bảo ôxy cho cá. Tốt nhất chỉ nên chọn 4 -5 cặp/1 lần đẻ, tỷ lệ đực cái là 1:1.
Trước khi cho cá vào bể đẻ tiến hành tiêm LHRH_A cho cá [19].
Nguyễn Văn Hùng và CTV (2009), kích thích cá song da báo (Plectropomus
leopardus) sinh sản bằng cách tạo dòng chảy trong bể nuôi phát dục vào mùa sinh sản.
Kết quả thu được một số chỉ tiêu quan trọng sau: đường kính trứng khi thành thục là
0,82 – 0,93mm, sau khi thụ tinh 20 giờ 30 phút trứng nở ở nhiệt độ 27 – 28
0
C, pH =
7,4 và độ mặn 32 – 34%
o
[16].