đề tài: Tìm hiểu kỹ thuật trải phổ CDMA trong thông tin di động - Pdf 15

 LUẬN VĂN
Đề tài: Tìm hiểu kỹ thuật trải phổ CDMA trong thông
tin di động



Cán bộ hướng dẫn: ThS. Nguyễn Văn Cương
HÀ NỘI - 2005
Lương Thị Thuận 1 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA TÓM TẮT NỘI DUNGCông nghệ CDMA đã được tìm hiểu từ những năm 90 đến nay, đã trở nên phổ
biến và là nền tảng để phát triển các thế hệ thông tin di động thế hệ 3G. Nó đã trở
thành mục tiêu hướng tới của lĩnh vực thông tin di động trên toàn thế giới. Công nghệ
CDMA là nội dung chính của bản khoá luận này.
Trong khoá luận này, em trình bày tổng quan về mạng thông thông tin di động
bao gồm: những nét đặc thù, lịch sử và xu h
ướng phát triển của thông tin di động, khái
quát về 3 phương pháp đa truy nhập là: FDMA, TDMA, CDMA. Các kỹ thuật trải phổ


Trong những năm vừa qua, nhu cầu trao đổi thông tin ngày một cao nó không
chỉ nằm trong giới hạn của một quốc gia, mà là trên phạm vi thế giới. Sự phát triển rất
nhanh của công nghệ điện tử, tin học, công nghệ viễn thông cung cấp ngày càng nhiều
các loại hình dịch vụ mới đa dạng, an toàn, chất lượng cao đáp ứng ngày càng tốt các
yêu cầu của khách hàng.
Hiện nay, mạng thông tin di động ở Việt Nam
đang sử dụng công nghệ GSM
là chủ yếu. Tuy nhiên, trong tương lai mạng thông tin di động này sẽ không đáp ứng
được các nhu cầu về thông tin di động. Bởi vì, nhu cầu thông tin di động không chỉ là
thoại mà còn là truyền dữ liệu, hình ảnh, âm thanh với tốc độ cao, các yêu cầu về
chất lượng, bảo mật cũng được đặt ra. Điều này đã thúc đẩy các nhà cung cấp dịch vụ
thông tin di động phải tìm kiếm một phươ
ng thức thông tin mới. Và công nghệ CDMA
đã trở thành mục tiêu hướng tới của lĩnh vực thông tin di động trên toàn thế giới.
Công nghệ CDMA dựa trên nguyên lý trải phổ đã đạt được hiệu quả sử dụng
dải thông lớn hơn so với các công nghệ tương tự hoặc số khác do đó số lượng thuê bao
đa truy nhập lớn hơn nhiều. Nhờ dãn rộng phổ tín hiệu mà có thể chống lại
được các
tác động gây nhiễu và bảo mật tín hiệu. Các mạng thông tin di động sử dụng công
nghệ CDMA có thể đáp ứng được các nhu cầu về thông tin di động trong tương lai. Do
đó, việc nghiên cứu và triển khai mạng thông tin di động CDMA là một điều tất yếu.
Xuất phát từ những suy nghĩ như vậy nên em đã chọn đề tài: “ Tìm hiểu về kỹ thuật
trải phổ CDMA trong thông tin di động”.
Nội dung của
đề tài này là: Tìm hiểu về các kỹ thuật trải phổ, các đặc tính của
công nghệ CDMA khi ứng dụng vào mạng thông tin di động, mạng thông tin di động
2000 1x, tìm hiểu về mạng S-Fone – là mạng di động CDMA duy nhất ở nước ta hiện
nay.
Đề tài bao gồm 4 chương :


Lương Thị Thuận 4 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG

1.1. Những đặc thù của thông tin di động
Nói đến thông tin di động là nói đến việc liên lạc thông qua sóng điện từ (vì

phát liên lạc được khống chế trong đó( để không làm “phiền” đến tế bào khác) thì có
thể phục vụ được vô số cuộc gọi di động cùng một lúc mà chỉ cần một dải t
ần sóng vô
tuyến hạn chế. Phương pháp này gọi là phương pháp sử dụng lại tần số. Điều này kéo
theo một loạt hệ quả tất yếu khác như:
• Chống nhiễu đồng kênh và nhiễu kênh lân cận
• Kỹ thuật chuyển giao
• Quản lý kênh truyền (khi có yêu cầu sử dụng hoặc giải phóng kênh)
• Đăng ký vị trí (mới biết người liên lạc ở tế bào nào để tìm gọi) …
Lương Thị Thuận 5 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA
Ngoài ra các yêu cầu khác của người sử dụng như kích thước nhỏ nhẹ của
thiết bị cầm tay đồng thời lại tiết kiệm năng lượng (để phục vụ cuộc liên lạc được
lâu) Những yêu cầu này luôn đòi hỏi rất cao về công nghệ điện tử và các kỹ thuật xử
lý tín hiệu mà những tiến bộ cách đây 20 năm không thể đáp ứng nổ
i. Chính vì vậy
phải đợi đến khi những tiến bộ của công nghệ điện tử vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ
20 thông tin di động mới thâm nhập vào đời sống xã hội rộng rãi bằng những sản
phẩm thương mại hấp dẫn. Sau đó phát triển với tốc độ nhảy vọt trong thập kỷ tiếp
theo khi đưa ra nhiều dịch vụ đa n
ăng với chất lượng dịch vụ ngày càng cao.
Tóm lại, đặc thù cơ bản của thông tin di động là mâu thuẫn giữa số lượng
người dùng đông đảo và dải tần hạn chế, dẫn đến vùng dịch vụ được chia thành các tế
bào kèm theo tất cả các kỹ thuật hệ thống khi xây dựng hệ thống tế bào này. Điều này
làm cho hệ thống thông tin di động khác rất nhiều so với hệ thông tin cố
định ( hữu
tuyến hoặc vô tuyến). [5]
1.2. Lịch sử phát triển của thông tin di động
Để có bức tranh toàn cảnh, ngắn gọn về thông tin di động ta điểm lại những
mốc phát triển quan trọng trong lịch sử. Có thể chọn lịch sử phát triển thông tin di

Năm 1991: Ra đời hệ thống tế bào số (USDC) theo chuẩn IS-54 trên cơ sở hạ
tầng AMPS. Hỗ trợ 3 người sử dụng trên 1 kênh 30kHz, kĩ thuật đ
iều chế (π/4
DQPSK). Khi kĩ thuật nén tiếng nói và xử lý tín hiệu phát triển có thể tăng dung lượng
lên 6 lần (kết hợp với kĩ thuật đa truy cập theo thời gian TDMA và tồn tại song song
với AMPS trên cùng cơ sở hạ tầng). Đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời của hệ thống
thông tin di động thế hệ thứ 2 (ở Châu Âu là hệ GSM).
Cũng trong năm 1991, hệ
thống dựa trên kĩ thuật trải phổ phát triển bởi công
ty QUALCOM theo chuẩn IS-95 hỗ trợ nhiều người sử dụng trên một dải tần
1.25MHz, sử dụng kĩ thuật đa truy cập phân chia theo mã CDMA. Có nhiều ưu điểm
hơn AMPS về dung lượng, yêu cầu về tỉ số SNR thấp hơn, về giá thành có tính cạnh
tranh cao.
Vấn đề tích hợp nhiều mạng khác nhau trong một cơ sở hạ
tầng cũng được đặt
ra từ những năm 90.
Từ năm 1995: Chính phủ mỹ đã cấp giấy phép trên dải tần 1800->2100MHz,
hứa hẹn sự phát triển mới cho các dịch vụ thông tin cá nhân (PCS).
Năm 2000: Tổ chức viễn thông quốc tế (ITU) đã tiến hành tiêu chuẩn hoá cho
hệ thống thông tin di động toàn cầu IMT-2000_hệ thống thông tin di động thứ 3. [5]
1.2.1. Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất
Khái niệm về cellular bắt đầu từ cuối những năm 40 tại phòng thí nghiệm Bell
của AT&T. Nhưng đến đầu những năm 70 AT&T mới đưa ra dự án điện thoại tế bào.
Và cho đến năm 1983, ra đời dịch vụ AMPS do AT&T và MOTOLAR của Mỹ. Đánh
dấu sự ra đời hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất. Với kỹ thuật tương tự,
phương pháp đi
ều tần FM để điều chế tiếng nói trên băng tần 800MHz với độ rộng
phổ là 40MHz. Để sử dụng hiệu quả hơn nguồn tần số có giới hạn thì toàn bộ vùng
Lương Thị Thuận 7 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA Hình 1. Lặp lại nhóm tế bào trong vùng dịch vụ

Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất đã bao gồm hàng loạ
t các hệ thống
ở các nước khác nhau như: NMT phát triển ở Châu Âu, NTT ở Nhật, TACS ở Anh…
Các hệ thống này đều sử dụng công nghệ truy cập FDMA có sơ đồ khái quát như sau:
HL
R
HL
R
HL
R

MSC
HL
R

HL
R


thích nhau làm cho sự chuyển giao không đủ rộng (việc liên lạc ngoài biên giới là
không thể). Do sử dụng kỹ thuật truyền tiếng nói tương tự nên hiệu suất sử dụng phổ
tần không cao và chất lượng kém. Những vấn đề này đặt ra cho hệ thống thông tin di
động hế hệ 2 ph
ải lựa chọn giải pháp kỹ thuật tương tự hay số. Và kỹ thuật số đã được
lựa chọn , trước hết là sự bảo đảm chất lượng cao hơn, khả năng tiềm tàng về một
dung lượng lớn hơn.
1.2.2. Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai
Ra đời vào đầu những năm 1990: Chuẩn GSM của Châu Âu và IS-54 (tồn tại
song song với AMPS) của M
ỹ và ngay sau đó là chuẩn IS-95 cho phương pháp đa truy
nhập CDMA. Hệ thống thông tin di động thế hệ hai dựa trên kỹ thuật đa truy cập phân
chia theo thời gian TDMA và kỹ thuật đa truy cập phân chia theo mã CDMA, truyền
dẫn song công theo tần số TDD, điều chế QPSK, FSK…
Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai theo chuẩn IS-95 được phát triển ở
Mỹ. Hệ thống này sử dụng lại băng tần 824MHz - 849MHz cho tuyến lên và 869MHz
– 894MHz cho tuyế
n xuống, dùng 20 kênh có độ rộng mỗi kênh là 1,25MHz.
Hệ thống thông tin di động GSM ra đời và sử dụng rộng rãi ở Châu Âu, băng
tần sử dụng gồm hai dải tần: 890MHz – 915MHz cho tuyến lên và 935MHz –
Lương Thị Thuận 9 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA
960MHz cho tuyến xuống. Dải tần này lại được chia nhỏ ra thành các dải con rộng
200KHz (gọi là kênh tần số vô tuyến tuyệt đối ARFCN hay kênh vật lý). Mỗi kênh vật
lý chia thành 8 khe thời gian (Time Slot) ứng với 8 kênh dịch vụ. Về lý thuyết số kênh
vật lý trên dải tần 25MHz là 25000/200=125 kênh. Tổng số kênh lưu lượng là
125x8=1000 kênh, nghĩa là phục vụ đồng thời 1000 thuê bao mà chưa sử dụng lại tần
số.
Dưới đây là sơ
đồ khối của hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM( Global

HL
R
MSC
VLR
BTS
BSC
B
SS
OSS
MS
Hình 3. Mô hình cấu trúc mạng thông tin di động GSM

SS Switching System Hệ thống chuyển mạch
AUC Authentication Center Trung tâm nhận thực
HLR Home Location Register Bộ ghi định vị thường trú
VLR Visitor Location Register Bộ ghi định vị tạm trú
EIR Equipment Identify Register Thanh ghi nhận dạng thiết bị
MSC Mobile Service Switching Center Trung tâm chuyển mạch các
nghiệp vụ di động
Lương Thị Thuận 10 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA
BSS Base Station System Hệ thống trạm gốc
BSC Base Station Controller Đài điều khiển trạm gốc
BTS Base Transceiver Station Trạm thu phát gốc
MS Mobile Station Trạm di động
OSS Operation & Support System Hệ thống khai thác và hỗ trợ
NSS Network Switching System Hệ thống chuyển mạch mạng
ISDN Integrated Service Digital
Network
Mạng số đa dịch vụ tích hợp

tần số hiệu quả hơn.
Điều khiển truy nhập và chuyển giao hoàn hảo hơn, dung lượng tăng, báo hiệu
dễ dàng xử lý băng phương pháp số.
Có nhiều dịch vụ mới nhận thực hơn (kết nối với ISDN).
Nhược điểm :
Các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai cũng tồn tại một số nhược điểm
như sau:
Độ rộng dải thông băng tần của hệ thống là hạn chế nên các dịch vụ ứng dụng
cũng bị hạn chế ( không thể đáp ứng được các yêu cầu phát triển cho các dịch vụ thông
tin di động đa phương tiện cho tương lai).
Tiêu chuẩn cho các hệ
thống thông tin di động thế hệ thứ hai là không thống
nhất. Do Mỹ và Nhật sử dụng TDMA băng hẹp còn Châu Âu sử dụng TDMA băng
rộng, mặc dù cả hai hệ thống này đều có thể coi như là sự tổ hợp của FDMA và
TDMA vì người sử dụng thực tế dùng các kênh được ấn định cả về tần số và các khe
thời gian trong băng tần. Do đó việc chuyển giao toàn cầu chưa th
ực hiện được.
1.2.3. Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba
Ra đời vào những năm cuối của thập niên 90 nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin
di động gia tăng. Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba sử dụng các kỹ thuật đa truy
nhập: đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA một sóng mang và đa sóng mang
DECT, CDMA đa sóng mang(CDMA2000 hay IS2000), CDMA băng rộng theo thời
gian (WCDMA-TDD) và theo tần số (WCDMA- FDD). Nó có dải thông khá rộng là
1885MHz-2025MHz và 2110MHz – 2200MHz trên toàn thế gi
ới theo tiêu chuẩn IMT-
2000. So với hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất và thứ hai thì hệ thống thông
tin di động thế hệ thứ ba là hệ thống đa dịch vụ và đa phương tiện được phủ sóng khắp
toàn cầu. Nó có thể chuyển mạng, hoạt động mọi nơi, mọi lúc. Nó có thể thực hiện các
dịch vụ thông tin dữ liệu tốc độ cao và thông tin đa phương tiệ
n băng rộng như: hộp


GSM
(
900
)
GSM
(
1800
)
GSM
(
1900
)
IS-136
(
1900
)
IS-95
(
1900
)
IS-136
TDMA (800)
IS-95CDMA

cho hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai không đáp ứ
ng nổi. Những nhu cầu này
chính là động lực để phát triển hệ thống thông tin di động tốc độ cao nhằm phát triển
truyền thông đa phương tiện và đa dịch vụ. Do vậy thế hệ 2,5 dã ra đời và trở thành kỹ
thuật trung gian quá độ sang hệ thống thông tin thế hệ thứ ba.
1.3. Các phương pháp đa truy nhập trong thông tin di động
Để làm tăng dung lượng của dải vô tuyến dùng trong hệ thống thông tin di
động người ta sử dụng các kỹ thuật ghép kênh. Trong mỗi hệ thống ghép kênh đều sử
dụng khái niệm đa truy cập, điều này có nghĩa là các kênh vô tuyến được nhiêù thuê
bao dùng chung tài nguyên tần số hoặc khe thời gian hoặc cả hai. Có ba hình thức đa
truy nhập cơ bản là:
Đa truy nhập phân chia theo tần số FDMA
Đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA
Đa truy nhập phân chia theo mã CDMA
1.3.1.
Đa truy nhập phân chia theo tần số FDMA
Trong hệ thống thông tin di động sử dụng kỹ thuật FDMA toàn bộ dải thông
của băng tần được chia thành 2N dải con, mỗi dải con gọi là một kênh vô tuyến. Như
vậy sẽ có N kênh kế tiếp dành cho liên lạc hướng lên, sau một dải tần phân cách là N
kênh kế tiếp dành cho liên lạc hướng xuống. Mỗi thuê bao sẽ được cấp phát một cặp
kênh trong suốt quá trình liên lạc.Với kiểu truy nh
ập này các kênh sẽ phát đi liên tục
đồng thời một số sóng mang. Do vậy nhất thiết phải cung cấp các khoảng bảo vệ giữa
mỗi dải mà một sóng mang chiếm, để tính đến sự không hoàn hảo của các bộ tạo dao
động và các bộ lọc. Kỹ thuật FDMA có khả năng sử dụng được với cả hệ thống truyền
dẫn số và truyền dẫn tương tự. Kỹ
thuật này có ưu điểm nổi bật là đơn giản và không
cần đồng bộ giữa bên thu và bên phát. Tuy nhiên, nó có một số nhược điểm: Thiếu linh
hoạt trong trường hợp tái cấu hình, tổn thất dung lượng khi số các truy nhập tăng lên
do phát sinh các sản phẩm xuyên điều chế giữa các sóng mang, cần phải điều khiển

• Hiệu suất truyền cao dù số lượng truy nhập là rất lớn.
• Không cần phải khống chế công suất phát của các trạm.
• Đơn giản hoá việc điều hưởng do phát và thu trên cùng một tần số.
• Việc xử lý tín hiệu số dẫ
n đến sự đơn giản hoá trong vận hành.
Tuy nhiên, TDMA cũng có những nhược điểm nhất định:
• Cần phải đồng bộ hoá.
• Cần phải mở rộng kích thước của trạm để phát với hiệu suất cao.
• Giá thành đắt do trang thiết bị phức tạp.
Lương Thị Thuận 15 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA
Sơ đồ mô tả sự phân chia khe thời gian (hay phổ TDMA) cho những người sử
dụng hệ thống thông tin TDMA. Người sử dụng 1 Người sử dụng 2 Người sử dụng 3
Khe thời
gian 1
Khe
thời gian 2
Khe thời
gian 3
Khe thời
gian 4
Khe thời
gian 5
Khe thời
gian 6
dụng 1

Khe thời
gian 3
Người sử
dụng 2

Khe thời
gian 4
Người sử
dụng 3

Khe thời
gian 5

3 thuê bao số với tốc độ cao nhất trên một kênh Lương Thị Thuận 16 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA
Lương Thị Thuận 17 Trường Đại học Công Nghệ
1 khung =972 ký hiệu (1994 bit) Người sử
dụng 1


Hình 6. Cấu trúc khun
g
TDMA

Dạng khe thời gian của hệ thống TMDA được mô tả như sau: 6
G
16
R
16
DAT
28
TRAININ
122
DATA
12
SACC
12
CDV
122
DATA
324 bit

Hình 7 (a). Dạng khe thời gian máy di động đến trạm gốc
28

Hệ thống TMDA Châu Âu :
Đây là hệ thống GMS, một hệ thống thông tin số sử dụng hệ thống TDMA và
sử dụng băng tần (890 - 915) MHz để truyền dẫn tín hiệu từ máy di động đến BS và
băng tần (935 - 960) MHz để truyền dẫn tín hiệu từ BS đến máy di động.
Cấu trúc khung hệ thống TDMA như sau:
1 siêu siêu khung = 2048 siêu khung
= 2715648 khung
0 1 2 3 4 5 2047
1siêu khung=26 khung(hoặc51 khung)
0 1 2 3 4 5 49 50

51 khung 26 khung
đa khung (120 ms) đa khung (235,4 ms)

0 1 2 3 4 5 24 25
0 1 2 … 25
0 1 2 … 50
0 1 2 3 4 5 6 7
Hình 8. Cấu trúc khung TDMA
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA

1 khung TDMA = 8 khe thời gian (4.615 ms) 1.3.3. Đa truy nhập phân chia theo mã CDMA
Lý thuyết về CDMA đã được xây dựng từ năm 1950 và được áp dụng trong
thông tin quân sự từ những năm 1960. Cùng với sự phát triển của công nghệ bán dẫn

được sử dụng trên mạng.
Đầu thu tạo ra một dãy giả ngẫu nhiên như ở đầu phát và khôi phục lại tín
hiệu gốc nhờ việc giải trải phổ các tín hiệu đồng bộ thu được.
CDMA hơn hẳn so với các kỹ thuật đa truy cập khác: dung lượng cao hơn
đáng để, khả năng chống nhiễ
u tốt, bảo mật cao, giảm phađinh đường truyền, bảo đảm
truyền dẫn chất lượng cao và cho phép chuyển vùng mềm giữa các trạm gốc.
1.4. Xu thế phát triển của thông tin di động
Hiện nay thông tin di dộng vẫn đang trong giai đoạn phát triển như vũ bão,
đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng của khách hàng cả về số lượng, chất lượng và loại
hình dịch vụ. Về cơ bản có thể chia thành các hướng phát triển như sau:
Phát triển theo chuẩn IMT-2000, được quyết địng bởi ITU, nhằm thống nhất
các hệ thống di động đa năng thế hệ thứ ba ở
các khu vực trên thế giới.
Xu hướng phát triển mạng vô tuyến trong nhà dùng cho các trụ sở, công ty lớn
(trên tần số cao 18GHz)
Từ những năm 1990 đã có những nghiên cứu rộng lớn trên thế giới nhằm phát
triển hệ thống vô tuyến cá nhân: Kết hợp sự thông minh của mạng PSTN, xử lý tín
hiệu số hiện đại và công nghệ RF. Các kỹ thuật chung cho điều chế, đa truy cập và kỹ
thuật m
ạng cũng được lựa chọn nhằm đem dich vụ đến tận cá nhân người sử dụng như
PCS (Person Communication Servise) (ví dụ cụ thể như mạng Cityphone). PCN
(Person Communication Network ) là khái niệm mạng mà người dùng có thể thu và
tiến hành cuộc gọi ở bất cứ đâu dùng thiết bị cá nhân nhỏ nhẹ.
Phát triển viễn thông kết hợp vệ tinh: Cùng với sự phát triển của công nghệ vũ
trụ , hệ thông tin vệ tinh ph
ối hợp với hệ di động mặt đất tạo nên hệ viễn thông kết nối
toàn cầu thích hợp cho mọi địa hình và mọi loại hình
Hiện nay các quốc gia phát triển sau có cơ hội đi nhanh vào các kỹ thuật tiên
tiến nhất và lựa chọn các mô hình thích hợp với phát triển của tương lai. [5]
RF
Băng tần gốc
Sóng mang tạp
âm băng rộng
Sóng mang
hình sin
Sóng mang
hình sin
Băng tần gốc
Bộ lọc
RF
Bộ giải
điều chế
Dạng sóng
di
g
ital
Sóng mang tạp âm
băng rộng
+ Đồng nhất và đồng
bộ theo thời gian
Dạng sóng

Dữ liệu nhị phân
Điều chế BPSK
b
(t)p(t)
p(
t
)

Bộ tạo
mã PN
b(
t
)

Bộ tạo sóng mang
Acos(2πf
ct + θ(t))

Hình 10. Quá trình trải phổ DS/SS - BPSK

Lương Thị Thuận 22 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA
Bản tin nhị phân cần phát có tốc độ bit R
b

θ(t) là pha của sóng mang được điều chế
Tín hiệu b(t)p(t) có tốc độ bằng t
ốc độ chip, nghĩa là T = NTc . Dạng sóng của
các tín hiệu khi N = 7 như sau: b(t)
p
(t)
b(t).p(t)
s(t)

Hình 11. Dạng sóng tín hiệu DS/SS
Lương Thị Thuận 23 Trường Đại học Công Nghệ
Luận văn tốt nghiệp Kĩ thuật trải phổ CDMA Sơ đồ khối quá trình giải trải phổ như sau: Dữ liệu nhị phân
Tín hiệu số
liệu thu được
Điều chế BPSK
Bộ khôi phục
sóng mang
Acos(2πf

= Ab(t- τ)p(t- τ) + Ab(t- τ)p(t- τ) cos{2πfc(t- τ) + θ(t))}
Bộ lọc thông dải của bộ tách sóng loại bỏ các thành phần tần số cao và chỉ giữ
lại thành phần tần số thấp u(t) = b(t)p(t). Sau đó, thành phần này được nhân với mã nội
tại p(t- τ) được tạo ra ở máy thu đã được đồng bộ.
Do p(t- τ) = ±1 nên p
2
(t- τ) =1.Tại đầu ra của bộ nhân sẽ có:
x(t) = b(t- τ)p(t- τ)p(t- τ) = b(t- τ)p
2
(t- τ) = b(t- τ)
Lương Thị Thuận 24 Trường Đại học Công Nghệ

Trích đoạn Cấu trúc hệ thống CDMA 2000 1x Xử lý cuộc gọi trạm di động Trạng thái truy nhập Trạng thái kênh lưu lượng Các dịch vụ giá trị gia tăng S-Fone
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status