Tổng quan về điện toán đám mây - Pdf 12

MỤC LỤC
I. Mở đầu .
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống mạng Internet toàn cầu, các
dịch vụ cho thuê phần mềm qua mạng ( Software as a Service, viết tắt là là SaaS) dần dần
thay thế cho mô hình bán phần mềm cổ điển. Mô hình SaaS có ưu điểm chính như sau :
Ưu điểm thứ nhất là về mặt chi phí. Sản phẩm phần mềm sau khi đã mua thì không có
khả năng hoàn vốn nếu doanh nghiệp muốn thay đổi sang phần mềm khác, trong khi thuê
thì phải chi trả chi phí rải ra theo từng khoảng thời gian ngắn ( ví dụ theo từng tháng).
Trong khi đó ngoài chi phí mua phần mềm, người chi có thể phải chi thường xuyên cho
bảo trì. Chi phí ban đầu cho mua phần mềm thường lớn hơn chi phí thuê phần mềm nên
doanh nghiệp vừa và nhỏ thường ngần ngại trong việc triển khai. Ngoài ra khi mua phần
mềm ở càng nhiều máy càng mất nhiều chi phí còn phần mềm cho thuê thì không giới
hạn về số lượng. Ưu điểm thứ hai là về mặt triển khai. Phần mềm cho thuê có thể dễ dàng
triển khai trên diện rộng ( do chỉ cần browser truy cập mạng là sử dụng được phần mềm)
trong khi phần mềm mua phải cài đặt trên từng máy tính. Mỗi khi thêm máy mới, thay
đổi máy, hỏng máy(do virut hoặc hỏng phần cứng) lại phải cài đặt lại phần mềm. Không
những thế, khi hỏng máy còn dẫn đến việc mất mát dữ liệu. Những trường hợp này đơn
vị mua phần mềm thường khó được sự hỗ trợ nhanh chóng của nhà cung cấp phần mềm
vì khoảng cách địa lý và chi phí. Đối với phần mềm cho thuê thì không thành vấn đề vì
mọi việc bảo trì sửa chữa đều nằm tập trung trên máy chủ không cần đến máy khách.
Ưu điểm thứ ba là về mặt hiệu quả. Phần mềm cho thuê có thể có những lợi ích
rất rõ ràng trong việc làm việc nhóm, làm việc từ xa. Với việc sử dụng phần mềm qua
mạng thì ở bất cứ đâu người chủ doanh nghiệp cũng có thể kiểm soát được công việc tại
doanh nghiệp, các nhóm làm việc có thể dễ dàng trao đổi tài liệu , kế hoạch số liệu với
nhau, các chi nhánh của một công ty có thể dễ dàng tổng hợp số liệu báo cáo cho tổng
công ty Một phần mềm cho thuê tốt có thể triển khai trên toàn công ty thậm chí còn
tạo ra được những nét văn hóa riêng cho doanh nghiệp. Tóm lại là hiệu quả do sự thống
nhất trong việc quản lý của toàn tổ chức.
Tuy có những ưu điểm kể trên nhưng phần mềm cho thuê cũng tồn tại nhiều yếu
điểm chưa dễ gì khắc phục được. Điển hình là việc doanh nghiệp e ngại khi lưu trữ dữ
liệu chung trên server của nhà cung cấp, nhất là đối với những dữ liệu nhạy cảm. Việc

Phần mềm dịch vụ hướng khách hàng.
Ý tưởng nền tảng của các phần mềm dịch vụ là chuyển giao trách nhiệm triển khai
cũng như duy trì sản phẩm cho nhà cung cấp, giảm thiểu mức độ phức tạp và rủi ro
cho khách hàng. Các doanh nghiệp không cần thiết phải mua sắm, quản lý phần cứng,
chi phí bảo trì hệ thống, đó là công việc của nhà cung cấp dịch vụ.
• Những lợi ích của SaaS
Xét trên cả hai khía cạnh kĩ thuật và thương mại, SaaS là mô hình phù hợp cho các nhà
doanh nghiệp vừa và nhỏ:
- Các doanh nghiệp cũng nằm trong quá trình chuyển đổi từ mô hình khách – chủ ( client
– server) truyền thống sang kiến trúc đa tầng ( multi – tiered architectures ) có thể đạt
được những chức năng mạnh mẽ hơn, hiệu suất tốt hơn , tính ổn định và mức độ bảo mật
cũng được nâng cao.
- Việc thay đổi các nguyên tắc cũng như áp lực kinh doạn cùng với sự chuyển ,ình của
tiến trình toàn cầu hóa thúc đẩy như cầu sử dụng các dịch vụ SaaS.
- Khách hàng mua sản phẩm và dịch vụ từ cách công ty luôn có nhu cầu liên hệ tạo mọi
thời điểm. Đặc biệt với các tập đoàn đa quốc gia, hệ thống Công nghệ của họ phải luôn
sẵn sàng 24/7.
- Chuyển giao việc quản lý các tài nguyên hệ thống cho nhà cung cấp dục vụ sẽ giúp
doanh nghiệp không mất thời gian trong việc duy trì hệ thống, có điều kiện tập trung hơn
vào các hoạt động khác, đồng thời cắt giảm một phần chi phí dành cho Công nghệ.
- Khách hàng có thể lựa chọn việc mua toàn bộ hay từng phần của hệ thống.
- Việc cung cấp loại hình thuê bao phần mềm sẽ giảm bớt gánh nặng tài chính cho doanh
nghiệp trong quá trình đầu tư về mặt Công nghệ.
- SaaS tăng cường sự hiện diện của doanh nghiệp đối với khách hàng.
- Mô hình phần mềm dịch vụ SaaS giúp doanh nghiệp khai thác nguồn lực Công nghệ
thông tin.
- Trên phương diện kĩ thuật, phần mềm dịch vụ có tính ổn định và độ tin cậy cao.
II. Mục đích
Triển khai mô hình điện toán đám mây theo phương thức SaaS.
III. Yêu cầu

Nhờ khả năng co giãn (elasticity) nên tài nguyên luôn được sử dụng một cách hợp lý nhất,
theo đúng nhu cầu của khách hàng, không bị lãng phí hay dư thừa. Đối với nhà cung cấp dịch vụ,
công nghệ ảo hóa giúp cho việc khai thác tài nguyên vật lý hiệu quả hơn, phục vụ nhiều khách
hàng hơn.
Tính linh hoạt
Các dịch vụ Điện toán đám mây có thể được truy xuất ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào thông
qua mạng internet.
Khách hàng có thể lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ nào đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của
mình với giá cả và chất lượng dịch vụ hợp lý nhất.
V.1.2. Khái niệm cơ bản về điện toán đám mây
Nhắc đến Điện toán đám mây (Cloud Computing) là nhắc đến những ứng dụng và các
dịch vụ chạy trên một mạng phân tán sử dụng tài nguyên ảo hóa và được truy cập bởi các giao
thức và các chuẩn phổ biến của Internet. Với điện toán đám mây tài nguyên là ảo và vô hạn.
Vận hành hệ thống phần cứng, phần mềm được tách biệt ra khỏi người dùng.
Điện toán đám mây cung cấp computation, software, data access, và storage resources mà
không đòi hỏi người sử dụng biết vị trí và các chi tiết khác của cơ sở hạ tầng máy tính.
Người dùng cuối có thể truy cập các ứng dụng dựa trên đám mây thông qua một trình
duyệt web hoặc một phần mềm nhỏ được cung cấp sẵn hay các ứng dụng di động. Trong khi đó
các phần mềm kinh doanh và dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ tại một địa điểm từ xa. Nhà cung
cấp dịch vụ ứng dụng, phát triển Điện toán đám mây cung cấp cho các dịch vụ tương tự hoặc
hiệu suất tốt hơn các chương trình phần mềm đã được cài đặt cục bộ trên máy tính người dùng
cuối.
Ở nền tảng của Điện toán đám mây là khái niệm rộng hơn về cơ sở hạ tầng hội tụ
(Converged Infrastructure) và các dịch vụ chia sẻ. Điện toán đám mây làm môi trường
Datacenter cho phép các ứng dụng của doanh nghiệp được chạy nhanh hơn, quản lý dễ dàng hơn
và bảo trì ít hơn, và cho phép CNTT nhanh chóng điều chỉnh nguồn tài nguyên (chẳng hạn như
máy chủ, lưu trữ, và kết nối mạng) để đáp ứng nhu cầu kinh doanh biến động và không thể đoán
được trước.
Điện toán đám mây nắm giữ công nghệ, dịch vụ và ứng dụng tương tự như Internet và
chuyển hướng tới các công cụ tự động phục vụ. Sử dụng từ khóa "Cloud" tạo ra 2 khái niệm bản

hình thành cốt lõi của định nghĩa. Các đặc tính cần thiết cho bất kỳ giải pháp được gọi là một
"Cloud" sự thật giải pháp bao gồm:
• On-demand self-service
• Broad network access
• Resource pooling
• Rapid elasticity
• Measured service
Có 2 kiểu Điện toán đám mây:
 Deployment Models: Quy định xác định vị trí và quản lý của nền tảng cloud.
 Service Models: Các thành phần liên quan đến kiểu dịch vụ mà bạn có thể truy cập trong
nền tảng Điện toán đám mây.
NIST cũng định nghĩa ba mô hình dịch vụ, hoặc đôi khi được gọi là lớp kiến trúc:
• Infrastructure as a Service (IaaS)
• Software as a Service (SaaS)
• Platform as a Service (PaaS)
Cuối cùng, NIST định nghĩa mô hình triển khai:
• Private Cloud
• Community Cloud
• Public Cloud
• Hybrid Cloud
Mô hình điện toán đám mây do NIST định nghĩa
V.1.3. Mô hình dịch vụ
* Service models:
Trong deployment model, ta phân biệt các kiểu cloud khi triển khai cơ sở hạ tầng. Bạn có
thể nghĩ về cloud như đường ranh giới giữa một mạng của client, ban quản lý, và những người có
trách nhiệm với nhà cung cấp dịch vụ cloud.
Đây là nhiều kiểu dịch vụ service khác nhau được mô tả trong tài liệu.
Saas hoặc <something> as a Service
Đây là 3 kiểu service được chấp nhận rộng rãi:
Ba kiểu cung cấp dịch vụ của điện toán đám mây.

• Windows Azure Platform
Với SaaS, Thì khách hàng sử dụng các application cần thiết và không phải bận tâm cho
việc cài đặt, duy trì, hoặc bảo dưỡng nó. Một ví dụ cho SaaS là gói accounting online, với phiên
bản online của Quichken và Quichbooks. Hình dưới là trang chủ của Quichbooks online plus tại
web site Intuit.com
Home page của 1 khách hàng Quichbooks trong Intuit.com.
Infrastructure as a Service (IaaS)
Infrastructure as a Service (IaaS) là một mô hình dịch vụ của điện toán đám mây trong khi
phần cứng được ảo hóa. Trong mô hình này, nhà cung cấp dịch vụ sở hữu các: Servers, Storage,
network infrastructure.v.v
Người phát triển tự tạo ra những phần cứng trong khi phát triển các application và các ứng
dụng. Về bản chất thì nhà cung cấp IaaS đã tạo 1 dịch vụ tiện ích phần cứng mà người sử dụng
quy định nguồn tài nguyên ảo theo yêu cầu.
Các nhà phát triển tương tác với mô hình IaaS để tạo ra các máy chủ riêng ảo, lưu trữ riêng
ảo, mạng riêng ảo. Sau đó các hệ thống ảo này sẽ đưa vào các ứng dụng và dịch vụ cần thiết để
hoàn thành giải pháp này. Trong IaaS, nguồn tài nguyên ảo hóa được ánh xạ tới các hệ thống
thực. Khi khách hàng tương tác với một dịch vụ IaaS và yêu cầu các nguồn lực từ các hệ thống
ảo, những yêu cầu được chuyển hướng đến các máy chủ vật lý thực hiện công việc.
Platform as a Service (PaaS)
Giải pháp PaaS là nền tảng phát triển cho các tool development, được lưu trữ trong các
đám mây và truy cập thông qua một trình duyệt. Với PaaS, các nhà phát triển có thể xây dựng
web application mà không cần cài đặt bất cứ công cụ nào trên máy tính của họ. Và sau đó, triển
khai những ứng dụng mà không cần bất kỳ kỹ năng quản trị hệ thống quản đặc biệt nào nào.
Với Platform as a Service (PaaS), bạn có thể phát triển các application hoặc các services
trong cloud mà không phụ thuộc vào một nền tảng nào đặc biệt, và ta có thể tạo ra giá trị rộng rãi
cho người dùng thông qua Internet. PaaS cung cấp toàn bộ giải pháp end-to-end cho các testing,
deploying, collaborating on, hosting, và duy trì ứng dụng. Trong dịch vụ điện toán đám mây,
Paas là sự lựa chọn đúng đắn cho một số nhà phát triển.
Ta có thể sử dụng PaaS để tạo application cho người nhiều người thuê. Mà nó là dịch vụ
được truy cập bởi nhiều người dùng một lúc. Kiến trúc mở của PaaS có thể hỗ trợ tích hợp với

Amazon Web Services (AWS) đã thiết lập dịch vụ PaaS cho các nhà phát triển, chủ yếu
tích hợp thông qua các đối tác để cung cấp nền tảng phát triển cùng với AWS. Ví dụ, Pegasytems
Inc, là một nhà cung cấp giải pháp phần mềm Company procedure management (BPM), cung
cấp nền tảng Smartpass như một dịch vụ chạy trên AWS. Một nhà cung cấp PaaS khác như
Google App Engine, phục vụ các ứng dụng trên cơ sở hạ tầng của Google.
Sun Microsytems mô tả 2 quan điểm của PaaS của các nhà sản xuất hoặc người tiêu dùng
từ các dịch vụ này:
 PaaS - ai đó sản xuất có thể tạo ra một nền tảng tích hợp với một hệ điều hành, chương
trình ứng dụng, và cũng làm một môi trường phát triển sau đó cung cấp cho khách hàng
sử dụng dịch vụ.
 Cung cấp đóng gói PaaS dưới dạng API cho người sử dụng.
Software as a Service (SaaS)
Đây là mô hình dịch vụ mà trong đó nhà cung cấp dịch vụ sẽ cung cấp cho khách hàng một
phần mềm dạng dịch vụ hoàn chỉnh. Khách hàng chỉ cần lựa chọn ứng dụng phần mềm nào phù
hợp với nhu cầu và chạy ứng dụng đó trên cơ sở hạ tầng Cloud. Mô hình này giải phóng người
dùng khỏi việc quản lý hệ thống, cơ sở hạ tầng, hệ điều hành… tất cả sẽ do nhà cung cấp dịch vụ
quản lý và kiểm soát để đảm bảo ứng dụng luôn sẵn sàng và hoạt động ổn định.
Trước khi điện toán đám mây được trao đổi rộng rãi trong giới IT hiện nay, thực ra dịch vụ
phần mềm (SaaS) đã xuất hiện từ lâu, phổ biến nhất đó là các dịch vụ thư điện tử như hotmail,
yahoo mail, gmail… Các dịch vụ này cũng cung cấp cho các tổ chức dịch vụ thư điện tử với tên
miền riêng với một mức phí tương đối rẻ. Các dịch vụ phần mềm SaaS cho doanh nghiệp gần
đây đang phát triển nhiều hơn: ví dụ như, các dịch vụ ứng dụng văn phòng Office 365 của
Microsoft với các ứng dụng email, cộng tác, truyền thông nội bộ; các ứng dụng quản lý khách
hàng (CRM) của SalesForce, các ứng dụng thương mại điện tử của Amazon…
Các dịch vụ ứng dụng SaaS đem đến cho tổ chức, doanh nghiệp nhiều lợi ích. Đơn vị trả
chi phí theo mức độ sử dụng hàng tuần, hàng tháng mà không phải trả toàn bộ phí bản quyền
ngay từ đầu. Ngân sách của doanh nghiệp không phải gánh một khoản đầu tư ban đầu lớn mà sẽ
chi trả dần dần và tăng lên khi thực sự có nhu cầu. Bên cạnh đó, tổ chức, doanh nghiệp cũng có
lợi thể dùng thử và lựa chọn phần mềm SaaS phù hợp, giảm thiểu được chi phí.
V.1.4. Mô hình triển khai

theo yêu cầu của người sử dụng.
Mô hình Public Cloud.
Tuy nhiên Public Cloud có một trở ngại, đó là vấn đề mất kiểm soát về dữ liệu và vấn đề
an toàn dữ liệu. Trong mô hình này mọi dữ liệu đều nằm trên dịch vụ Cloud, do nhà cung cấp
dịch vụ Cloud đó bảo vệ và quản lý. Chính điều này khiến cho khách hàng, nhất là các công ty
lớn cảm thấy không an toàn đối với những dữ liệu quan trọng của mình khi sử dụng dịch vụ
Cloud.
Private Cloud
Trong mô hình Private Cloud, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ được xây dựng để phục vụ cho
một tổ chức (doanh nghiệp) duy nhất. Điều này giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm soát tối đa
đối với dữ liệu, bảo mật và chất lượng dịch vụ. Doanh nghiệp sở hữu cơ sở hạ tầng và quản lý
các ứng dụng được triển khai trên đó. Private Cloud có thể được xây dựng và quản lý bởi chính
đội ngũ IT của doanh nghiệp hoặc có thể thuê một nhà cung cấp dịch vụ đảm nhiệm công việc
này.
Như vậy, mặc dù tốn chi phí đầu tư nhưng Private Cloud lại cung cấp cho doanh nghiệp
khả năng kiểm soát và quản lý chặt chẽ những dữ liệu quan trọng.
Private Cloud và Public Cloud.
Với mô hình private cloud có hai biến thể sau:
 Đám mây riêng bên trong:
Đám mây riêng bên trong được tổ chức trong phạm vi của một trung tâm dữ liệu riêng của
doanh nghiệp. Mô hình này cung cấp tốt nhất các tính năng đã được chuẩn hóa cho đám mây
nhất là tính năng bảo mật, nhưng mặt khác bị giới hạn ở khía cạnh của kích thước và khả năng
mở rộng. Ngoài ra cần phải đầu tư vốn ban đầu và các chi phí hoạt động cho các tài nguyên vật
lý. Đây là lựa chọn tốt nhất nếu doanh nghiệp thấy cần thiết phải có sự chủ động hoàn toàn đối
với cấu hình và an ninh của hạ tầng mạng.
 Đám mây riêng bên ngoài:
Đám mây riêng bên ngoài được tổ chức bên ngoài doanh nghiệp bởi một nhà cung cấp điện
toán đám mây, trong đó doanh nghiệp được nhà cung cấp bảo đảm đầy đủ các quyền riêng tư đối
với đám mây. Điều này là lựa chọn tốt nhất cho các doanh nghiệp muốn có một đám mây riêng,
nhưng không phải loại đám mây riêng bên trong, và cũng không muốn chia sẻ các nguồn tài

networking như một môi trường hoạt động liền mạch và năng động, cũng như quản lý được sự
phức tạp trong trung tâm dữ liệu.
Các thành phần trong Vmware vSphere là:
Kiến trúc VMware vSphere.
Trong đó lớp virtualzation Layer đảm nhiệm ảo hóa cơ sở hạ tầng bao gồm computer,
storage, và network cung cấp như một dịch vụ. Ngoài ra nó còn cung cấp các Application Service
tính năng hỗ trợ tốt hệ thống nâng cao chất lượng dịch vụ. Như các ứng dụng Hight Availability
đáp ứng độ sẵn sàng cao trong hệ thống. Và các ứng dụng đáp ứng bảo mật và khả năng mở
rộng.
Management layer là lớp sử dụng vCenter Server làm công cụ điều khiển cho toàn bộ hệ
thống. Nó điều hành, giám sát, cấu hình là môi trường cho IT quản trị hệ thống VMware
vSphere.
Interface Layer là lớp giao diện dành cho người dùng. Sử dụng các công cụ như vSphere
Client, vSphere Web Client kết nối đến vCenter và các ESXi host để thao tác cấu hình và điều
hành quản lý.
Việc quản lý nền tảng ảo hóa mà hệ thống VMware vSphere cung cấp theo mô hình sau:
Virtual Infrastructure Management
Quay trở lại với mô hình IaaS (Infrastructure as a Service), theo định nghĩa nó là mô
hình cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng trong điện toán đám mây. Với mô hình này thì toàn bộ cơ sở
hạ tầng sẽ được cung cấp như một dịch vụ. Để thể hiện rõ hơn ta có hình mô tả kiến trúc cơ bản
của IaaS.
Kiến trúc cơ bản.
Với mô hình trên ta có thể nhận thấy rằng những thành phần cụ thể trong IaaS. Vậy
VMware vSphere sẽ xây dựng những thành phần này như nào? Ta sẽ điểm từng thành phần một:
Hardware layer
Các lớp phần cứng bao gồm các thiết bị trong trung tâm dữ liệu và hệ thống cơ khí, cũng
như lưu trữ, mạng và cơ sở hạ tầng điện toán. Mỗi yếu tố này đều phải cung cấp cho phép giao
diện quản lý dễ tương tác mức độ cao nhất.
VMware Ready Hardware Certification Program cho phép công nghệ Technology Alliance
Parters (TAP) cung cấp cho khách hàng giải pháp phần cứng. Chương trình này tạo ra chứng

hóa (hỗ trợ tối đa 32GB RAM và 1 máy ảo mà không cần mua thêm giấy phép).
Hyper-V có thể chạy trên nhiều loại phần cứng, như được mô tả trong Windows Server
Catalog. Nó cũng mềm dẻo hơn khi cấu hình thiết bị lưu trữ và hỗ trợ nhiều thiết bị điều khiển
đĩa (disk controller) hơn ESXi. Hyper-V có thể được cài đặt tự động hóa thông qua WMI và mặc
dù không hỗ trợ trực tiếp PowerShell, bạn vẫn có thể sử dụng PowerShell của WMI.
Bạn có thể triển khai Hyper-V trên Windows Server Core, biến nó thành một máy chủ
chuyên dùng cho VM. Khi đó, bạn sẽ quản trị thông qua một công cụ Hyper-V management
tools trên một máy khác chạy Windows Server 2008 hoặc Vista/Win 7. Đây cũng là cách triển
khai được Microsoft khuyến nghị sử dụng.
Một cách khác (dù không được Microsoft khuyến khích) là cài đặt Hyper-V như là một
Server Role trên một hệ thống sử dụng Windows Server 2008 cài đặt đầy đủ sử dụng với một vài
Server Role. Khi đó bạn sẽ đăng nhập bằng RDP và quản trị các VM trực tiếp trên máy chủ cũng
bằng công cụ Hyper-V management tools như trường hợp trên. Một ví dụ ưu điểm của cách triển
khai này là khi bạn đã cài đặt Windows Server 2008 Standard như là SQL Server rồi sau đó cài
đặt Hyper-V. Việc cài đặt được thực hiện khá đơn giản chỉ cần khởi động lại là hoàn tất. Tuy
không được khuyến khích, việc này giúp dễ dàng mở rộng tính năng mà không phải cài đặt lại
máy phù hợp với một thực tế là doanh nghiệp nhỏ và vừa muốn triển khai nhiều ứng dụng với số
lượng thiết bị tối thiểu.
Với Vmware ESX/ESXi
VMware ESXi hỗ trợ rất nhiều hệ điều hành máy khách (guest OS). Đây cũng là một ưu
thế của VMware so với Microsoft Hyper-V. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa
thường chỉ sử dụng một loại hệ điều hành. Ngoài ra, VMware còn cung cấp các bộ cài đặt được
cấu hình trước (preconfigured appliances) giúp người dùng cài đặt một số ứng dụng cụ thể dễ
dàng hơn.
Một ưu điểm của ESXi so với Hyper-V là kích thước. ESXi chỉ chiếm khoảng 70Mb trong
Hyper-V yêu cầu 2Gb đối với bản server core và 10Gb đối với bản cài đặt đầy đủ. Ngoài ra thời
gian cài đặt các hệ điều hành máy khách (guest OS) trên ESXi nhanh hơn so với Hyper-V. Tốc
độ thực hiện tác vụ vào ra (IOP) của VMware khá cao 100,000 IOPs. Mặc dù cũng có một kết
quả khác do Qlogic tiến hành cho thấy IOPs của Hyper-V cao hơn 180,000 IOPs nhưng đây là
thử nghiệm với hệ thống lưu trữ thể rắn (solid state storage) nên kết quả so sánh có thể không

phải chịu rủi ro về virus, Trojan
dump là không thể tránh khỏi.
Quản lý tập trung Virtual Infrastructure được nói đến
nhiều nhất hiện nay với khả năng quản
lý tập trung. Tuy nhiên với mỗi gói sản
phẩm khác nhau. Các công nghệ lại
được thêm bớt tùy theo giá trị các trả
cho vmware
Microsoft vẫn còn ở tương lại.
Hỗ trợ tài nguyên ESX/ESXi là sản phẩm hỗ trợ tài
nguyên mức cao. OS chỉ chiếm hơn
200Mb
Chỉ ở mức trung bình. Còn
Windows của microsoft chiếm hơn
1Gb cho hệ điều hành 64bit.
Guest OS Support Hầu như tất cả các OS phát triển trên
kiến trúc x86 bao gồm cả hệ điều hành
32bit và 64bit
Chỉ một số ít
Live Migration
Di chuyển máy ảo đang
chạy
Hỗ trợ với vMotion Quick Migration (Không hỗ trợ di
chuyển máy ảo đang chạy)
Quick Migration (Host Clustering)
High Availability (HA) Hỗ trợ Không
Dynamic Resources Hỗ trợ Không
Storage vMotion Hỗ trợ Không
Hỗ trợ Disk boot từ SCSI Có Không
Hỗ trợ phần cứng lớn

lý tài nguyên hay việc truy cập quản lý phần cứng.
VMkernel quản lý và lên lịch biểu việc truy cập đến một tài nguyên phần cứng cụ thể nào
đó trên một Host. VMkernel cung cấp các máy ảo để cài đặt các hệ điều hành lên đó. Đây là phần
cốt lõi tạo nên sự khác biệt của ESX từ những gói phần mềm có sẵn khác. VMkernel cho phép ta
truy cập trực tiếp các tài nguyên phần cứng từ bốn phần cốt lõi của tài nguyên. Nó quản lý bộ
nhớ của các máy ảo, lên lịch biểu cho các bộ vi xử lý trên máy ảo, các switch ảo thì duy trì việc
kết nối mạng giữa các máy ảo cục bộ hay việc lưu trữ từ xa.
Phần kernel này được xây dựng cụ thể cho những công việc trên. Không giống như
Windows hay các máy chủ Linux được xây dựng lên để có được các máy chủ với nhiều mục đích
khác nhau. Mục đích của VMkernel được xây dựng lên chỉ là chia sẻ và quản lý truy cập tài
nguyên hệ thống. Điều này làm cho nó nhanh lên gấp nhiều lần (ít hơn 80M cho một gói cài đặt)
nhưng vẫn rất nhanh. Hiệu suất của VMWAREESX ước tính khoảng 3%-8%, trong khi đó ở hệ
điều hành khác trong các máy chủ thường là từ 10%-20% đôi khi lên đến 30% tùy thuộc từng
cấu hình.
Virtual Machines
Virtual Machines là một máy ảo tập hợp các phần cứng ảo, hỗ trợ hệ điều hành khách và
các ứng dụng của nó chạy trên đó.
Bạn có thể tạo một máy ảo trong một số cách khác nhau. Chọn phương pháp chính xác có
thể giúp bạn tiết kiệm thời gian và làm cho quá trình triển khai quản lý và khả năng mở rộng.
Với hệ thống ảo hóa. Một máy ảo là những tệp tin đặt chung vào một thư mục. Bao gồm
các tệp tin sau:
Tên tệp tin Định dạng tệp tin
Configuration file (<VM_name>.vmx)
Swap files (<VM_name>. vswp)
BIOS file (<VM_name>. nvram)
Log files (vmware.log)
Disk descriptor file (<VM_name>. vmdk)
Disk data file (<VM_name>. flat -vmdk)
Suspend state file (<VM_name>. vmss)
Snapshot data file (<VM_name>. vmsd)


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status