KIẾN TRÚC MỸ THUẬT CHÙA TÂY PHƯƠNG CHÙA KIM LIÊN THỜI LÊ TRỊNHNHỮNG PHÁT HIỆN MỚI potx - Pdf 12

KIẾN TRÚC CHÙA TÂY PHƯƠNG CHÙA KIM LIÊN THỜI LÊ TRỊNH-
NHỮNG PHÁT HIỆN MỚI
Xưa nay, đa số chúng ta chỉ tiếp cận với bản dịch của tác phẩm: Vũ trung tùy bút
dựa theo bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và tập hạ là Tang thương
Ngẫu lục dựa theo bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện(1). Ngoài ra là dựa trên
một số văn bia kể về lịch sử của hai chùa nhưng hiểu chưa được đầy đủ, phân tích
cặn kẽ, có liên quan đến một số danh sĩ đã viết rất cụ thể về lịch sử chùa mà họ là
người trong cuộc và là nhân chứng lịch sử của ba triều đại kế tiếp nhau: Lê- Trịnh,
Tây Sơn và Nguyễn.
Những phát hiện trong quá trình tìm hiểu tác phẩm Vũ trung tùy bút của Phạm
Đình Hồ, nhà nghiên cứu Trần Thị Kim Anh(2) đã công bố còn là các bản dịch còn
thiếu hai đoạn nhắc đến việc trùng tu xây dựng chùa Kim Liên và chùa Tây
Phương. Những tư liệu đó có thể góp phần vào việc xác định niên đại kiến trúc hai
ngôi chùa này nên chúng tôi xin được trích dịch để bạn đọc tham khảo. Hai đoạn
văn nói trên nằm trong văn bản được sao chép vào niên hiệu Thành Thái thứ 8
(1906), có nội dung sai khác khá nhiều so với văn bản Đông châu Nguyễn Hữu
Tiến dịch ra quốc ngữ mà bạn đọc lâu nay vẫn quen thuộc. Hai đoạn văn này nằm
ở tập hạ. Xin được dịch ra như sau:
Đoạn một: “Nay khảo Hồng Đức bản đồ thì Câu Lậu ở Thừa Tuyên Sơn Tây chỉ
vào ngọn núi ở làng Nguyên Xá, huyện Thạch Thất không còn nghi ngờ gì nữa.
Trên núi có chùa Tây Phương thời Trinh Uy Vương (Trịnh Giang) đạo hương công
tu sửa suốt ba năm không xong. Dân ở Sơn Tây nhiều nhà vì việc này mà khốn

điểm giống nhau là: cùng họ Trần, cùng quê ở huyện Đan Phượng, cùng đỗ tiến sĩ
khoa Quý sửu niên hiệu Long Đức thứ 2 (1733) (Thời xưa thường danh xưng bằng
họ). Tiến sĩ Trần Mô khi được thả ra đã ôm cả đòn, võng đến phủ chúa trình tờ
khải về việc sửa chữa chùa, việc mới chịu dừng (việc bắt ông). Những thông tin
này cho thấy Tiêu Trung Hầu trông coi xây dựng hai chùa Tây Phương và Bảo
Lâm nên đã có cùng một kiểu thiết kế kiến trúc mang đặc điểm là làm Hành cung
của chúa Trịnh.
2. Đoạn thứ hai Phạm Đỉnh Hồ cho biết thời Thuận Vương, Tiêu Trung Hầu đã lấy
gỗ lim từ Nghệ An, lợp ngói kiểu mới trung tu chùa Bảo Lâm ở phía Tây Phủ
Chúa, cực kỳ tráng lệ. Đến đời chúa Trịnh Sâm (Thịnh Vương) đã cho dời về Nghi
Tàm và đặt tên là chùa Kim Liên. Những sự việc này còn được ghi lại ở bia đá đời
Vua Tự Đức thứ 21 (1867): “Năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771) vua sai công thần là
Thiều quận công Phan Huy Đĩnh và Thái giám Tuân sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân
di chuyển gỗ chùa Bảo Lâm ở phía Tây thành đến đây. Nhân có cái nền cũ mà xây
dựng chùa gọi tên là Kim Liên” (tấm bia này hiện dựng tại chùa Kim Liên). Cũng
sự việc này ta còn thấy ghi trong sách Tây hồ chí: “Năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771)
chúa Trịnh Sâm sai lấy gỗ chùa Bảo Lâm và chùa Quán sứ sang để sửa chữa chùa
này và đổi tên thành Kim Liên. Quan Đại học sĩ thời ấy là Phan Trọng Phiên còn
làm bia ghi lại nay vẫn còn”(4)
ở phần hai (tư liệu mới phát hiện) Phạm Đình Hồ còn cho biết một số chi tiết quan
trọng là tư đồ Nguyễn Văn Dũng đến thăm chùa Kim Liên và đã có một cử chỉ rất
văn hóa là bắt cất tượng của uy vương Trịnh Giang đi mà không đập phá. Ông còn
dạy rằng “sau này cứ thờ ta như thờ chủ cũ của ngươi là được”, lúc này là chùa
Kim Liên còn nguyên vẹn. Như vậy ông đến thăm vào lúc nào? Đại tướng Võ Văn
Dũng theo Quang Trung ra giải phóng Thăng Long tháng giêng năm Kỷ Dậu
(1789) tiêu diệt quân Thanh, ông giữ chức Đại tư đồ tước quận công, Kinh lược sứ
Bắc Hà, Tổng trấn binh mã 4 trấn Bắc Hà từ năm 1789 đến 1792. Sau chiến thắng
Võ Văn Dũng còn phải lo việc phòng thủ, ổn định nhân dân nên ông chỉ có thế đến
thăm chùa Kim Liên vào khoảng năm 1790 (trước khi về thăm quê làng Đan Giáp,
Thanh Miện, Hải Dương) đến đầu năm 1792. Tháng 4 năm 1792, Đại tư đồ Võ

Tây Sơn lại không được ông nói đến? (dẫn theo Trần Thị Kim Anh)
Sự nhầm lẫn về niên đại xây dựng chùa Tây Phương từ năm 1734 lùi xuống năm
1794
Trên thượng lương (xà nóc) chùa Tây Phương hiện nay còn ghi rõ dòng chữ: “Giáp
Dần niên quý đông cát nhật tạo” (1734) là năm ghi ngày khởi công xây dựng chùa
niên hiệu Long Đức. 5 tháng sau, tháng 4 năm ất Mão (1735) chúa Trịnh Giang lập
vua ý Tông lên ngôi đổi niên hiệu là Vĩnh Hựu năm thứ nhất, việc làm chùa vẫn
tiếp tục tới năm Canh Thân niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 6 (1740). Đến tháng 3
năm 1740, bãi việc xây hành cung ở chùa Tây Phương và Quỳnh Lâm (Đại Việt sử
ký tục biên trang 165). Đợt trùng tu, làm tượng này kéo dài tới 6 năm, chùa làm đã
xong nên trong lời tự của Phan Huy ích về việc làm chùa Tây Phương vào đời
Vĩnh Hựu là đúng và hoàn toàn phù hợp. Tiếc thay sách chùa Tây Phương viết:
“Năm Giáp Dần ở đây gắn với năm Mậu Ngọ 1798) viết bài minh chuông, hẳn là
năm 1794, đã dựng lại chùa theo đúng kiểu chùa Kim Liên (Hà Nội) dựng năm
1792” (Lịch sử chùa Tây Phương trang 12). Đây là lời suy luận rất vu vơ không
dựa trên một chứng cớ cụ thể văn bản cổ nào. Bài Mỹ thuật thời Tây Sơn lấy lý do
năm Giáp Dần (1734) chưa phải là niên hiệu Vĩnh Hựu nên cho lời Phan Huy ích
viết làm chùa năm Vĩnh Hựu là không phù hợp, đẩy năm Giáp Dần lùi lại 60 năm
và khẳng định phải là Giáp Dần năm 1794. Lúc đó là triều vua Cảnh Thịnh nhà
Tây Sơn.
Hai lý do tự suy luận này đã không thể đứng vững vì những sự kiện lịch sử thời
điểm này của nhà Tây Sơn với những văn bản thư tịch, bia đá và những nhân
chứng lịch sử đã biết và mới phát hiện như đã trình bày ở trên và sau đây: Kiến
trúc và điêu khắc tượng phật, La Hán, Kim Cương chùa Tây Phương có được độc
đáo đỉnh cao về nghệ thuật là do phát triển nghệ thuật tích tụ trong nhiều đời, một
thời gian dài gần hai thế kỷ Lê Trịnh. Theo bia Tây Phương sơn sùng phúc tự bi:
“Ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Thân (1632) trùng tu chùa Sùng Phúc núi Tây
Phương điện 3 gian. Hậu đường và hành lang 22 gian ngày 2 tháng 2 năm ất Hợi
đặt lễ hội an tượng, khai quang điểm nhãn (1635) Nguyên soái, tổng quốc chính
sư phụ Thanh Vương” (Chúa Trịnh Tráng) sau đó còn kéo dài bổ sung do công

của, hưng công tu tạo đúc quả chuông lớn nặng chừng 200 cân. Tiếng chuông lại
ngân vang như xưa. Mỗi khi rảnh rỗi, tôi thường đến đây thăm thú”. Như vậy, việc
đại tu lớn về kiến trúc, làm tượng chùa Tây Phương năm 1794 thời Tây Sơn không
xảy ra đề ông có thể ca ngợi, nói đến và viết vào bài minh trên chuông với tư cách
ông quan Tây Sơn sau đó hai năm. Tới năm 1809, triều Nguyễn lên ông viết bài
thơ: Mùa thu trèo lên chùa núi Tây Phương ghi lại những cảnh nhìn thấy (Thu đăng
Tây Phương sơn tự ký kiến) cũng ghi lời chú nhấn mạnh rằng chúa Uy vương
Trịnh Giang đã sai sửa chùa và tạc “mười pho tượng cực kỳ khéo léo” điều đó ông
đã lại đề cập đến việc làm tám vị tượng kim cương, bộ tượng tam thế, tượng A đi
đà tọa sen chạm khắc tinh vi họa tiết rực rỡ, trang trí cân đối, đẹp đẽ dưng di về tạo
hình vào thế kỷ XVIII.
Phan Huy ích là một ông quan lớn, hưởng lộc của triều Tây Sơn, năm 1802 ông
cùng Ngô Thì Nhậm bị vua Gia Long bắt giam rồi cùng bị đem ra Văn Miếu đánh
đòn. Ông đã góp nhiều công sức trong việc bang giao khôn khéo, hòa hiếu với nhà
Thanh, đề cao tinh thần độc lập với nhà Thanh, luôn viết về lịch sử chùa Tây
Phương mà lại không nói đến việc đại trùng tu thời Tây Sơn là điều ta buộc phải
suy nghĩ rằng điều đó đã không xảy ra và không có nghệ thuật Tây Sơn.
Bối cảnh lịch sử khó khăn, mâu thuẫn nhiều biến động bi tráng thời Tây Sơn
Năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi ở Phú Xuân (Huế) sách danh lam xứ Huế viết:
“Năm 1786 quân Tây Sơn chiếm Huế cùng chùa Thiền Lâm có quy mô to lớn,
tráng lệ chùa bị chiếm dùng làm dinh quan thái sư Bùi Đắc Tuyên. Ông dùng nơi
này làm dinh thự làm việc, tiếp khách, có người hầu hạ. Phan Huy ích khi vào làm
quan thượng thư đã lui tới nơi này (DLXH/22) nhiều chùa bị biến thành cơ
xưởng quân giới như chùa Hàm Long, Thiên Thọ (Sđd/25) Phan Huy ích ở Huế
năm 1797 ông trở lại thăm chùa Thiên Mụ, một ngôi chùa lớn và đẹp, thấy cảnh
phật tiêu điều, hoang phế ở kinh đô Phú Xuân thời Tây Sơn không khỏi ngậm ngùi
với hai câu thơ:
Am xưa nay biến tế đàn
Chùa xưa thờ Phật nay toàn để xe(6)
Vương triều Tây Sơn nội bộ lục đục, chém giết, mâu thuẫn hai anh em sâu sắc. Từ

Bảo Lâm được nói rõ là chúa Trịnh Giang cho làm có cả tượng thờ ngài. Năm
1771 Thịnh Vương Trịnh Sâm lại cho dỡ chùa Bảo Lâm, sai Quận thiều Phạm Huy
Đĩnh và Tuân sinh hầu trông coi việc trung tu chùa đặt tên mới là Kim Liên tự (ba
đại tự này giát vàng) đặt ở tam quan cổng chùa. Tam quan chùa Kim Liên dựng
trên 4 cột lớn đội các vì kèo chạm khắc, các đầu mái uốn cong vút gắn tứ linh bằng
gốm nung màu cam lộng lẫy. Cổng tam quan của Kim Liên là lối kiến trúc vào
vương phủ chúa Trịnh ở Thăng Long.(8)
Ngoài ra những tư liệu lịch sử phức tạp khó khăn, mâu thuẫn của triều đình Tây
Sơn từ 1789 đến 1792 được 3 năm vua Quang Trung chết. Đến năm 1793 vua Thái
Đức, anh cả nhà Tây Sơn chết cho ta thấy rõ một triều đại quá ngắn ngủi vì nội bộ
lục đục tự chém giết nhau, chưa đủ thời gian hưng thịnh để có thể xây dựng được
những công trình kiến trúc, những pho tượng hiện thực, sinh động đẹp đẽ như vậy.
Trong lời dẫn Nhà xuất bản Mỹ thuật có viết một câu rất hay: “Dù đã không ít bài
và sách viết về chùa Tây Phương, song theo dõi vẫn thấy còn những mảng hổng và
có một số thông tin chưa chuẩn xác” đó là những ý kiến nghiêm túc. Với những tư
liệu mới và quá trình nghiên cứu trong thời kỳ đổi mới cho phép ta tư duy mới để
đạt những kết quả nghiên cứu về mỹ thuật chuẩn xác về nghệ thuật cổ Việt Nam.
Một điểm cần lưu ý về từ ngữ của danh sĩ Phan Huy ích, ông có ba lần nói về việc
xây chùa làm tượng ở Tây Phương.
1. Trong lời chú của bài thơ Qua chùa Tây Phương năm 1788 viết: “Còn tượng
phật chùa chiền dựng trên đỉnh núi là vào khoảng niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1740)
Thuận Vương có ủy cho viên Trung xứ đến xây”
2. Năm 1798 ông viết trong bài minh chuông chùa Tây Phương, ông lại viết khác
đi một chữ “Lê “: “Trước đây dưới triều vua Lê, niên hiệu Vĩnh Hựu, vua sai trung
sứ xây dựng lại thiền viện to lớn, điêu khắc tượng pháp, chế tác pháp âm tiếng kêu
vang bên tai”. Chữ Lê là chỉ vua Lê và ông đã không viết là chúa Trịnh Uy vương
cho làm? Chính vì thời Tây Sơn lúc đó giương cao khẩu hiệu “Phù Lê diệt Trịnh”
do mưu của Nguyễn Hữu Chỉnh bầy ra giúp cho Bắc Bình vương Nguyễn Huệ ra
đánh Bắc Hà. Đặc điềm này cũng giúp cho bài minh và quả chuông tồn tại trong
thời Tây Sơn là vua Lê, né tránh ca ngợi xây dựng của chúa Trịnh thật là khôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status