KIẾN TRÚC CỔNG LÀNG ƯỚC LỄ
Làng Ước Lễ thuộc địa phận huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cách Hà Nội trên
30km. Làng vốn có hai cổng, một cổng trước, một cổng sau. Năm 1988, người ta
đã làm lại một cổng mới ngay gần cổng trước. Cổng làng mà tôi tìm hiểu ở đây là
cổng trước, nằm ở đầu làng, được xây từ thời Mạc. Cổng này cũng đã bị sửa chữa
ở phần lầu gác trên đỉnh, chỉ có phần dưới là còn cổ xưa như nó vốn có. Cổng làng
Ước Lễ, xây dựng từ thời Mạc, là một trong những cổng làng vào loại sớm, đẹp
nhất ở Hà Tây còn lại đến ngày nay. Nhìn từ xa, nó cho ta cảm giác về một công
trình kiến trúc vững chắc, đồ sộ như một công trình quân sự. Cổng nằm ở đầu làng,
chiếm một không gian lớn với cây cầu, cổng vòm, tường gạch có kích thước khá
lớn. Cổng hình vòm cuốn, mái cong vút, hai cột bên và trên hai mặt đều đắp nổi
chữ Hán. Thoạt trông cổng như một gác chuông chùa nhưng lại gây một cảm giác
chế ngự của một công trình quân sự. Có thể nói, cổng làng Ước Lễ là một công
trình kiến trúc đậm chất cổ kính và mang nhiều ý nghĩa đối với không gian văn hóa
làng Việt.
Lịch sử cổng làng Việt ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành phát triển của
làng. Có thể ban đầu chỉ là những cái cổng sơ khai làm bằng tre, đan bằng dong có
nhiều gai nhọn để ngăn cản thú dữ vào làng phá phách, bắt súc vật. Dần dần, do sự
phát triển, các loại đá nhất là đá ong, cùng với gạch ngói, vôi vữa và các loại vật
liệu khác được sử dụng trong xây dựng ở nông thôn, cổng làng cũng được xây
dựng bền vững, bề thế hơn, mang những giá trị nghệ thuật kiến trúc. Sự hiện diện
của những chiếc cổng làng khiến cho không gian của làng đẹp và sinh động. Nếu
soạn thành một bộ sưu tập thì khó có thể tìm thấy ở Hà Tây hai chiếc cổng nào
cổng, mặt cổng, trụ cổng và mái cổng. Những thành phần kiến trúc này không rời
rẽ mà cấu kết với nhau, tạo sự bền vững, hài hòa, có giá trị thẩm mỹ.
Trước đây, khi nước có giặc, cổng làng, lũy tre trở thành những chiến lũy để dân
làng đánh giặc, giữ làng, chống lại sự tàn phá của quân thù. Không những thế,
cổng làng còn có ý nghĩa bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa tinh thần, từ bao
đời được tiếp nối, trở thành gương mặt của làng. Và lẽ sống của người làng được
ghi tạc ở cổng làng, luôn sáng ngời những giá trị chân, thiện, mỹ. Những đại tự
được ghi tạc đắp nổi ở trên cổng làng đã nói lên điều đó. Đây chính là thành phần
đặc biệt quan trọng kiến tạo nên mặt cổng.
Trên mặt trước cổng, đắp nổi ba chữ Ước Lễ môn (Cổng làng Ước Lễ). Ước Lễ
không chỉ là tên làng mà còn là triết lý của Nho Giáo được dân làng tiếp nhận.
Ước, Lễ là chữ dùng xuất phát từ lời của Khổng Tử (Bác học dĩ văn, ước chi dĩ lễ),
ý nói muốn học rộng thì phải dựa vào văn (tức văn hóa); học đã rộng rồi thì phải
chế định (Ước) bằng Lễ, ấy là điều cần thiết của người học rộng. Lấy Ước Lễ đặt
tên làng thể hiện quan niệm trong cuộc sống phải luôn luôn giữ lễ. ở mặt sau cổng
làng Ước Lễ và ở nhiều cổng làng khác có chữ Thiểu cao đại. Ba chữ này là một
điển tích trong Hán thư, nói về ông quan đời Hán tên là Vu Định Quốc, làm quan
trong triều. Khi về quê ông thấy con cháu đang làm nhà, bèn dặn con cháu, làm cửa
phải cao hơn một chút (thiểu cao đại). Có ý mong cho sau này con cháu làm quan
to, thì xe ngựa mới đi vừa. Dùng điển tích xưa đắp trên cổng nơi dân làng thường
qua lại, cũng là nhắc nhở mọi người phải có chí học hành, tiến thủ để được thành
đạt trong cuộc sống.
Cổng làng Ước Lễ được xây dựng ở đầu làng, mở lối đi lại trên con đường chính
vào làng. Do vậy, thành phần kiến trúc thứ hai, phần rất quan trọng của cổng là
vòm cổng (lối cổng). Tùy theo vị trí, địa thế, điều kiện của mỗi làng mà vòm cổng
có quy mô bề thế khác nhau, nhưng bắt buộc phải đảm bảo đi lại thuận tiện cho cả
làng. Vòm cổng làng Ước Lễ xây cuốn hình vòm parapol, đây chính là sự phối hợp
của hình vuông và hình tròn theo triết lý âm dương của người Việt. Vòm cổng
được ghép bằng gạch viên và chít bằng vữa tạo thành vòm cong với đường lượn
khéo léo. Trước đây, dưới vòm cổng còn có cửa làm bằng gỗ lim kiên cố, do tuần
thêm yếu tố biểu hiện cũng như ý nghĩa tượng trưng của cổng. Cùng với những họa
tiết trang trí mang đậm ý nghĩa Nho giáo, những thành phần kiến trúc này càng góp
thêm phần làm rõ ý nghĩa của chữ Ước Lễ Môn.
Trước hết, một thành phần trang trí tương đối quan trọng đó là đôi câu đối chữ Hán
hai bên cổng. Về nội dung, đó là phép cộng của nghệ thuật văn chương với nghệ
thuật kiến trúc trong tính chất tổng hợp của nghệ thuật cổ. Về hình thức, đó là bố
cục nghệ thuật có tính quy luật, cân đối, góp phần tạo nên không khí trang trọng
của kiến trúc cổng, đề cao chữ Lễ.
Thường xuất hiện nhiều ở các cánh cửa, nghi môn là hình tượng dơi dưới dạng
ngậm chữ phước, gắn với yếu tố cầu phúc. ở cổng làng Ước Lễ, dơi được thể hiện
trong tư thế bám vào cạnh mặt cổng có ghi đại tự, đầu lộn xuống hướng về câu đối
cạnh cổng. Dơi được tạo hình gần với thực nhưng cánh mảnh và dài hơn, đầu cánh
được cuộn tròn lại và phần nào trông giống như hoa lá cách điệu. Hai con dơi chạm
trên cổng này ít nhiều đã được khái quát hóa, hình thức mảnh mai và được vũ trụ
hóa bằng vân xoắn trên thân để mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng. Như thế, nó
không chỉ mang tư cách trang trí đơn thuần mà còn chứa đựng một ý nghĩa cao xa
hơn: con đường, lối cổng vào làng chính là cánh cửa đến nơi hạnh phúc.
Hình ảnh cá chép thể hiện trên cổng gần gũi với thực tế, có đường nét sinh động
mà cách giải quyết lại hết sức đơn giản. Khúc đuôi của cá được uốn nhẹ chút ít, tạo
nên thế cong vừa đủ để phá đi cái nặng, tĩnh của đầu và thân. Từ trên hai trụ cổng,
đôi cá lao xuống chầu vào mặt và vòm cổng, giống như hình ảnh của tranh dân
gian Lý ngư vọng nguyệt.
ở nhiều di tích kiến trúc, lân là một linh vật khá phổ biến. Lân có nhiệm vụ đứng ở
cửa đình, đền với tư cách là thú chầu hai bên linh đạo. ở cổng làng Ước Lễ, lân
được chạm khắc cũng với ý nghĩa như vậy. Lân được chạm tròn và xử lý khéo về
hình thức khiến nó hòa nhập hoàn toàn với mảng chạm đại tự trên mặt cổng, làm
cho phần mặt cổng trở nên sinh động hơn. ở đây, lân được chạm đi đôi với rùa
trong hình thức đắp nổi. Biểu tượng muôn thủa mà rùa thường mang theo là sự bền
vững, tượng trưng cho sự trường tồn và cao quý, thể hiện cho mong muốn những
lời dạy bảo của người xưa dành cho con cháu sẽ được giữ mãi