Quản lý vốn Nhà Nước tại doanh nghiệp nước ngoài - Pdf 12

MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, thành phần kinh tế nhà nước (mà trong đó
doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt) giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước thực hiện giao
vốn cho doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước hoàn thành nhiệm vụ
nhà nước giao. Việc Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước đặt ra yêu cầu
phải quản lý số vốn đó. Đồng thời, việc thay đổi phương thức quản lý hiện vật sang
phương thức quản lý bằng giá trị là chủ yếu đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa vai trò
của nhà nước trong công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Song thực tế
cho thấy, công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
còn có những bất cập trong chế độ chính sách quản lý, trong tổ chức bộ máy quản lý
và trong tổ chức thực hiện. Điều đó khiến vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp
đang bị ăn mòn và việc thực hiện vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước bị
hạn chế. Do vậy, việc hoàn thiện công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp
nhà nước trở thành yêu cầu cấp bách hiện nay. Trong điều kiện ngân sách nhà nước
còn hạn hẹp, công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước càng cần
được thực hiện tốt hơn.
Trong thời gian thực tập tại Nhà máy len Hà Đông, em đã nghiên cứu tìm hiểu về
công tác quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy và thấy rằng bên cạnh những thành tựu
Nhà máy gặt hái được trong những năm gần đây còn tồn tại nhiều hạn chế trong
công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại Nhà máy (cả khi giao vốn và trong
quá trình sử dụng vốn). Do đó, để thực hiện nhiệm vụ bảo toàn và phát triển vốn nhà
nước giao, công tác quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy cần sớm được hoàn thiện.
Em chọn đề tài: “Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
(Nghiên cứu vận dụng tại Nhà máy len Hà Đông)”
với mục đích qua nghiên cứu phát hiện những hạn chế trong công tác quản lý đối
với phần vốn tại Nhà máy len Hà Đông, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó,
Trang 1
từ đó đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn nhà nước tại Nhà
máy len Hà Đông.
Nội dung đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

nước có tên gọi, con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.
Trang 3
Doanh nghiệp nhà nước mang các đặc điểm chung với các loại hình doanh
nghiệp khác như:
Thứ nhất, chức năng kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước bao gồm: sản xuất-
cung ứng trao đổi, hợp tác và tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá dịch vụ.
Hai là, doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân. Tư cách pháp nhân của
doanh nghiệp nhà nước là điều kiện cơ bản quyết định sự atồn tại của doanh nghiệp
nhà nước trong hệ thống kinh tế quốc dân. Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp nhà
nước đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước phải tự chịu trách nhiệm về quản lý, về nghĩa
vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi doanh nghiệp phá sản
hay giải thể. Với tư cách là một pháp nhân độc lập, doanh nghiệp nhà nước có các
quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tư cách này tạo cho doanh nghiệp nhà nước địa vị pháp lý để đảm bảo độc
lập tự chủ.
Ba là, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cũng chịu sự
chi phối và tác động của môi trường kinh tế.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhà nước có thể được phân biệt với các loại hình
doanh nghiệp khác bởi các đặc điểm sau đây:
Một là, doanh nghiệp nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ra
quyết định thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao.
Như vậy doanh nghiệp nhà nước không chỉ được thành lập để thực hiện các hoạt
động kinh doanh (nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế) mà còn để thực hiện các
hoạt động công ích (nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội). Các loại hình doanh
nghiệp khác không phải do nhà nước thành lập mà chỉ được nhà nước cho phép
thành lập trên cơ sở đơn xin thành lập của các chủ thể kinh doanh.
Hai là, doanh nghiệp nhà nước do nhà nước tổ chức quản lý. Nhà nước tổ chức
bộ máy quản lý các doanh nghiệp nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng; nhà
nước bổ nhiệm các cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, phê duyệt chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch dài hạn hay trung hạn của doanh nghiệp...

phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy, doanh nghiệp nhà nước được
Trang 5
bố trí xây dựng ở những khu vực ngành nghề cần thiết tạo điều kiện cho nền kinh tế
phát triển đồng đều giữa các vùng của đất nước;
Thứ ba, chức năng đảm bảo sức mạnh vật chất để nhà nước điều tiết và hướng
dẫn nền kinh tế thị trường. Chức năng này được hiểu là các doanh nghiệp nhà nước
phải có đóng góp thích đáng cho sự phát triển kinh tế bằng việc kinh doanh có hiệu
quả; doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm vai trò quyết định này để Chính phủ có
đủ nguồn lực chỉ đạo và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo mục tiêu đề ra.
1.1.2. Tính tất yếu của việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
1.1.2.1. Vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Vốn Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng là vốn được cấp từ
ngân sách, vốn có nguồn gốc ngân sách và vốn của doanh nghiệp nhà nước tự tích
luỹ.
Từ khái niệm trên có thể thấy vốn nhà nước được cấu thành bởi ba bộ phận:
Một là, vốn được cấp từ ngân sách, là vốn doanh nghiệp nhà nước được cấp phát
lần đầu khi mới hoạt động (xác định từ thời điểm giao nhận vốn), vốn được cấp bổ
sung trong quá trình hoạt động; vốn được tiếp quản từ chế độ cũ để lại.
Hai là, vốn có nguồn gốc ngân sách, là các khoản vốn tăng thêm do được miễn,
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc được cấp lại các khoản phải nộp ngân sách
theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chênh lệch giá tài sản cố
định, vật tư, hàng hoá tồn kho qua các lần kiểm kê, điều chỉnh giá; các nguồn vốn
viện trợ: viện trợ nhân dân, viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế, quà tặng
theo qui định phải ghi tăng vốn ngân sách cấp;
Ba là, vốn của doanh nghiệp nhà nước tự tích luỹ, chính là phần thu nhập sau
thuế doanh nghiệp nhà nước giữ lại để tái đầu tư.
Trang 6
Hình thức thực hiện đầu tư của Chính phủ vào các doanh nghiệp nhà nước cụ thể
như sau:
Một là, giá trị quyền sử dụng đất, Chính phủ giao đất cho doanh nghiệp nhà nước

chính đối với doanh nghiệp nhà nước, theo dõi và kiểm tra việc chấp hành các chế
độ đó. Việc theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước
giúp cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình thực tế tại các doanh nghiệp, theo dõi
tiến trình thực hiện các văn bản. Từ đó thu thập thông tin để chỉnh sửa, bổ sung,
hoàn thiện các chính sách cho kịp thời, phù hợp với thực tế. Đồng thời thông qua
công tác quản lý vốn, nhà nước mới có những thông tin chính xác để đánh giá đúng
chất lượng kinh doanh ở các doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở các thông tin đánh
giá này, nhà nước có kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các doanh nghiệp, vốn và lao động,
hoàn thiện các khâu quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh doanh và thực hiện các mục
tiêu xã hội.
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, phần lợi
nhuận sau thuế thuộc về nhà nước. Nhà nước sử dụng lợi nhuận đó để duy trì và tái
sản xuất mở rộng doanh nghiệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó của nhà nước. Do
đó, để lợi nhuận sau thuế được tối đa hoá, nhà nước phải quản lý phần vốn đầu tư
của mình để nó được sử dụng một cách có hiệu quả, trên cở sở đó tăng lợi ích nhà
nước.
Tóm lại, việc nhà nước quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước là một
đòi hỏi khách quan để bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu trong việc bảo toàn vốn và tài
sản cũng như để thực hiện vai trò quản lý của mình.
1.2. Nội dung công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
1.2.1. Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Trang 8
Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước là việc làm
cần thiết nhằm tạo cơ sở giúp các đơn vị được giao vốn thực hiện quản lý vốn được
giao và giúp các cơ quan kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ giám sát của mình.
Hình thức biểu hiện cụ thể của nội dung công tác này là việc xây dựng hệ thống văn
bản pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Khác với cách thức quản
lý doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết, Nhà nước quản lý doanh nghiệp một cách gián tiếp theo nguyên tắc:
Nhà nước điều chỉnh thị trường, thị trường điều chỉnh doanh nghiệp. Nhà nước ban

nhà nước hoạt động công ích như: hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khi thực hiện các
nhiệm vụ nhà nước giao, bảo đảm thoả đáng lợi ích vật chất cho người lao động
trong các doanh nghiệp nhà nước này...Đồng thời thiết lập cơ chế quản lý hợp lý đối
với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà nước giao.
Chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước bao trùm các
nội dung quản lý sau:
a, Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước:
Doanh nghiệp nhà nước có thể được đầu tư vốn khi mới thành lập hoặc đầu tư
bổ sung trong quá trình hoạt động. Ngoại trừ các doanh nghiệp hình thành do kết
quả quốc hữu hoá, các doanh nghiệp nhà nước đều được hình thành trên cơ sở
nguồn vốn cấp phát ban đầu của nhà nước. Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế
mà nhà nước quyết định cấp dưới hình thức trực tiếp (cấp thẳng từ ngân sách nhà
nước) hay gián tiếp (qua các hình thức ghi thu-ghi chi như: chuyển vốn từ doanh
nghiệp nhà nước này sang doanh nghiệp nhà nước khác hoặc cho doanh nghiệp nhà
nước nhận trực tiếp các khoản viện trợ để đầu tư...). Đối với vốn lưu động, nhà
nước có thể cấp theo định mức một phần, phần còn lại doanh nghiệp phải huy động
trên thị trường vốn và chịu lãi suất thị trường. Đồng thời, tuỳ thuộc vào khả năng
của ngân sách nhà nước của mỗi nước mà chính sách đầu tư vốn cho doanh nghiệp
Trang 10
nhà nước ở các nước là khác nhau. Ở Pháp, những doanh nghiệp nhà nước hoạt
động theo yêu cầu của nhà nước thì cấp vốn 100%, các doanh nghiệp do nhà nước
quản lý nhưng tự chọn chính sách phát triển, phải cạnh tranh với doanh nghiệp khác
thì nhà nước không cấp vốn. Ở Nhật, mức vốn đầu tư cho doanh nghiệp tăng nhưng
mức độ kiểm soát cũng chặt chẽ hơn. Ở Malaysia, nguồn vốn của các doanh nghiệp
nhà nước được hình thành như sau: Vốn cố định ban đầu được nhà nước cấp 100%
và hàng năm, doanh nghiệp phải trả lãi (theo lãi suất ưu đãi) trên tổng số vốn đầu tư
của nhà nước; vốn lưu động thì các công ty phải vay theo lãi suất thị trường. Còn ở
nước ta, việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nước được
hướng dẫn cụ thể trong Thông tư số 62/1999/TT-BTC ngày7/6/1999, Nhà nước đầu
tư vốn cho các doanh nghiệp nhà nước mới thành lập ở những ngành, những lĩnh

hạn từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các doanh nghiệp
khác, các cá nhân (kể cả các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp), được phát
hành trái phiếu huy động vốn để đầu tư phát triển.
Thứ tư, huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, cổ phiếu thường mới để bán
cho công nhân viên chức trong doanh nghiệp và ngoài xã hội.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể huy động vốn cho sản xuất kinh doanh từ chính
các quỹ của doanh nghiệp. Nhà nước có quy định cụ thể về việc sử dụng các quỹ
này.
b, Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước
• Quản lý sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước là một đơn vị sản xuất kinh
doanh độc lập, được tự chủ trong hoạt động kinh tế và tự chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước thực hiện việc giao quyền sử dụng
vốn và tài sản cho doanh nghiệp nhằm tạo ra sự độc lập tương đối trong việc tổ chức
Trang 12
sản xuất kinh doanh. Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản lý sử dụng vốn và tài
sản là bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp có nghĩa vụ
theo dõi chặt chẽ sự biến động của vốn và tài sản, đảm bảo theo đúng các nguyên
tắc kế toán hiện hành, tránh thất thoát tài sản, mất vốn của nhà nước. Đồng thời
doanh nghiệp cũng phải được trao quyền lựa chọn cơ cấu tài sản và các loại vốn cho
hợp lý nhằm phát triển kinh doanh có hiệu quả.
Doanh nghiệp có trách nhiệm mở sổ và ghi sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ
tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế toán, thống kê hiện hành; phản
ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản và vốn trong quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn và qũy để kinh doanh theo nguyên tắc có
hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn. Trường hợp sử dụng các loại vốn và qũy khác
với mục đích sử dụng đã quy định cho các loại vốn và qũy đó thì phải theo nguyên
tắc hoàn trả, như: dùng các qũy dự phòng, qũy khen thưởng, qũy phúc lợi...để kinh
doanh thì phải hoàn trả qũy đó khi có nhu cầu sử dụng. Doanh nghiệp được quyền

nhân và trách nhiệm đưa ra biện pháp xử lý.
Doanh nghiệp được đánh giá lại tài sản và hạch toán tăng giảm vốn khoản chênh
lệch do đánh giá lại tài sản trong các trường hợp sau: Kiểm kê đánh giá lại tài sản
theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thực hiện cổ phần hóa, đa
dạng hóa hình thức sở hữu, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; Dùng tài sản để liên
doanh, góp vốn cổ phần (khi đem tài sản đi góp vốn và khi nhận tài sản về).
• Quản lý vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp:
Trang 14
Doanh nghiệp được sử dụng vốn, tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo
nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảo nhiệm
vụ thu nộp Ngân sách nhà nnớc; việc đầu tư phải tuân theo các quy định hiện hành
của pháp luật.. Các hình thức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp gồm: mua cổ phiếu, góp
vốn liên doanh, góp cổ phần và các hình thức đầu tư khác ...
Doanh nghiệp Nhà nước được phép đưa vốn và tài sản đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài theo quy định của pháp luật.
• Bảo toàn và phát triển vốn:
Bảo toàn vốn và phát triển vốn là nghĩa vụ của doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích
của Nhà nước về vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp ổn định và phát triển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu nhập cho người
lao động và làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. Các biện pháp bảo toàn vốn
thường được áp dụng là:
Thứ nhất, thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản theo các qui định
của Nhà nước;
Thứ hai, thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng
của doanh nghiệp. Tiền mua bảo hiểm được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh
doanh;
Thứ ba, doanh nghiệp Nhà nước được hạch toán vào chi phí kinh doanh, chi phí
hoạt động khác một số khoản dự phòng theo quy định như: Dự phòng giảm giá hàng
tồn kho, dự phòng các khoản nợ thu khó đòi, dự phòng giảm giá các loại chứng
khoán trong hoạt động tài chính...

Thứ ba, công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, được Chính phủ
giao vốn ban đầu và đầu tư bổ sung vốn trong quá trình hoạt động.
Thứ tư, chức năng của công ty là kinh doanh vốn nhà nước. Điều này khẳng định
mục đích đầu tư vốn vào các doanh nghiệp nhà nước là để đảm bảo đồng vốn chẳng
những được bảo toàn mà còn được phát triển (gia tăng giá trị của chủ sở hữu).
Thứ năm, đối tượng hoạt động của công ty là các doanh nghiệp, bao gồm: doanh
nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác có phần
vốn góp của nhà nước như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Ở Việt Nam, tháng 10/1999, Chính phủ quyết định giải thể Tổng cục quản lý vốn
và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, thành lập Cục tài chính doanh nghiệp trực
thuộc Bộ tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính đối với doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đại diện chủ sở hữu đối với số vốn nhà
nước đã đầu tư vào doanh nghiệp. Chức năng của Cục tài chính doanh nghiệp được
cụ thể hoá như sau:
Một là, thống nhất quản lý nhà nước về tài chính doanh nghiệp thuộc các thanh
phần kinh tế trong cả nước, có thể tóm tắt các công việc cơ bản như sau:
+ Tổ chức nghiên cứu chiến lược và đề xuất các vấn đề cóm liên quan đến tài
chính doanh nghiệp; dự báo khả năng động viên tài chính từ doanh nghiệp, qua đó
xây dựng các chính sách, chế độ quản lý tài chính doanh nghiệp, chế độ quản lý, bảo
toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp, chế độ hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp và
các chế độ khác có liên quan đến quản lý tài chính doanh nghiệp theo quy định của
Bộ trưởng Bộ tài chính;
Trang 17
+ Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ quản lý tài chính; chế
độ quản lý vốn nhà nước; chế độ kế toán, kiểm toán doanh nghiệp thống nhất trong
cả nước;
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trong cả nước,
đồng thời tổ chức thông tin tài chính doanh nghiệp nhằm cung cấp cho các cơ quan
quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và khách hàng những thông tin cập nhật, chính

đối với doanh nghiệp do tỉnh thành phố thành lập hoặc góp vốn, tổng hợp phân tích
tình hình tài chính doanh nghiệp trên địa bàn;
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ tài chính giao.
Dưới Cục tài chính doanh nghiệp, ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có
các Chi cục tài chính doanh nghiệp thuộc Sở tài chính vật giá. Cục tài chính doanh
nghiệp quản lý trực tiêp các doanh nghiệp nhà nước trung ương. Các doanh nghiệp
nhà nước địa phương chịu sự quản lý trực tiếp của các Chi cục tài chính doanh
nghiệp thuộc Sở tài chính-vật giá tỉnh, thành phố.
Hình thức phân công mới này có ưu điểm ở chỗ do doanh nghiệp nhà nước vẫn
được tổ chức theo hai hình thức, đó là doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp địa
phương, đồng thời việc tổ chức cán bộ ở địa phương do UBND tỉnh quyết định, ở
trung ương do Bộ ngành quyết định. Mặt khác các doanh nghiệp trung ương lớn
thường có các chi nhánh ở các địa phương khác nhau nên việc quản lý theo vùng sẽ
hạn chế, đặc biệt là các Tổng công ty thường tập trung ở các địa bàn thành phố lớn
như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh... sẽ khiến cho việc quản lý ở các
địa phương rất phức tạp.
Sơ đồ quản lý như sau:
Trang 19
BỘ TÀI CHÍNH
Cục tài chính doanh nghiệp
Chi cục tài chính doanh
nghiệp tỉnh, thành phố
Quản lý vốn các doanh
nghiệp trung ương
Quản lý vốn các doanh
nghiệp địa phương
Có thể nói rằng, sự ra đời và đi vào hoạt động theo hệ thống dọc từ Trung ương
tới các tỉnh, thành phố đã giải quyết được những vấn đề có tính nguyên tắc trong
quản lý doanh nghiệp nhà nước, đó là thu gọn đầu mối, thực hiện nguyên tắc một
đầu mối cho từng chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, từng bước xoá

năm kế tiếp theo phương pháp phần trăm trên doanh thu khá đơn giản.
Thứ hai, phương pháp hồi quy, đây là phương pháp dự tính dài hạn, bản chất của
phương pháp này dựa trên lý thuyết tương quan trong toán học. Khi sử dụng phương
pháp này, nhà quản lý vốn cũng cần xuất phát từ doanh thu tiêu thụ. Phương pháp
hay được sử dụng để xem xét khả năng nguồn đối với các khoản có liên quan trực
tiếp tới tăng giảm doanh thu.
Sau khi đã xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền tiến hành đầu tư, giao vốn cho doanh nghiệp, công việc này được thực hiện
căn cứ vào các quy định đã được nêu ra trong các văn bản pháp luật liên quan.
Ở nước ta, cấp vốn đã trở thành hình thức đắc lực nhất đối với doanh nghiệp nhà
nước trong suốt thời kỳ bao cấp. Đến nay tuy đã giảm nhiều song các doanh nghiệp
nhà nước vẫn được bao cấp nhiều qua giá và qua cấp vốn từ ngân sách nhà nước.
Trước đây và hiện nay, Nhà nước cấp toàn bộ vốn cố định và một phần vốn lưu
động cho các doanh nghiệp nhà nước căn cứ vào nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp, thường là 30%. Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
được xác định theo công thức sau:

Nhu cầu vốn lưu động =
Tổng doanh thu
Vòng quay vốn lưu động
Trang 21
Nếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thiếu vốn, số vốn thiếu
xin được cấp bổ sung. Nhu cầu vốn cấp bổ sung tính theo công thức:
Số vốn thiếu xin được
cấp bổ sung
=
Nhu cầu vốn lưu động
-
Số vốn lưu động hiện có
tài doanh nghiệp

tư thành lập nhưng vốn nhà nước không đủ mức tối thiểu cho sản xuất kinh doanh.
Có tới 60% doanh nghiệp nhà nước không đủ vốn pháp định theo Nghị định 50/CP.
Trên 50% các doanh nghiệp nhà nước chưa đủ vốn lưu động tương ứng với quy mô
hoạt động kinh doanh. Tổng công ty nhà nước được ưu tiên các điều kiện vật chất,
nguồn lực để phát triển song hiện vẫn có tới gần 80% số Tổng công ty có mức vốn
nhà nước dưới mức vốn bình quân của các Tổng công ty, trong đó 35% Tổng công
ty có mức vốn nhà nước dưới 1000 tỷ đồng. Con số này chứng tỏ có tình trạng
chênh lệch về vốn khá lớn giữa các Tổng công ty và số Tổng công ty thiếu vốn, ít
vốn là chiếm đa số.
Bên cạnh nguồn vốn nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng, nguồn
vốn huy động được bằng việc sử dụng các khoản nợ, đặc biệt là các khoản vay cũng
được quản lý khá chặt chẽ do nó ảnh hưởng đến cơ cấu vốn, cơ cấu tài sản của
doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. Ở nước ta,
các khoản nợ phải trả cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của các doanh
nghiệp nhà nước. Theo kết quả kiểm kê nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước thời
điểm 0 giờ ngày 1/1/2000, tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước là
527.267 tỷ đồng trong đó vốn chủ sở hữu là 173.857 tỷ đồng (chiếm 32,9%), còn
tổng vốn huy động qua các khoản nợ phải trả là 353.410 tỷ đồng (chiếm tới 67%
tổng nguồn vốn). Việc huy động vốn qua các khoản nợ cũng ngày một tăng. Nợ của
các doanh nghiệp nhà nước ngày càng tăng về quy mô cũng như về tỷ trọng trong cơ
cấu vốn đối với một số doanh nghiệp nhà nước. Điều này phản ánh khả năng huy
động vốn của các doanh nghiệp có tăng lên.
b, Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước
Trang 23
Là một loại hình doanh nghiệp nên doanh nghiệp nhà nước cũng có những đặc
điểm như các loại hình doanh nghiệp khác về tư cách pháp nhân, về điều kiện và
mục đích kinh doanh. Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh
tế khác, doanh nghiệp nhà nước là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước. Vì
vậy để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ lợi ích của mình với tư cách là chủ sở

quy định, thông qua báo cáo công khai tình hình tài chính tại thị trường vốn, thị
trường chứng khoán.
Hai là, giám sát trực tiếp: được thực hiện bằng các hoạt động kiểm tra, thanh
tra, khảo sát nắm tình hình trực tiếp tại doanh nghiệp.
Ngoài ra, còn có thể thông qua các công ty tư vấn (bao gồm công ty tư vấn tài
chính kế toán, thuế, các công ty kiểm toán độc lập, công ty đánh giá tài sản...) để
thực hiện các dịch vụ về giám sát doanh nghiệp.
Có thể giám sát trước, trong quá trình thực hiện và sau khi thực hiện:
+ Giám sát trước khi thực hiện là việc kiểm tra tính khả thi của các dự án như
kế hoạch ngắn hạn hoặc dài hạn; dự án đầu tư xây dựng hoặc đầu tư ra ngoài
doanh nghiệp, dự án huy động vốn...
+ Giám sát trong quá trình thực hiện là theo dõi, kiểm tra hoặc thanh tra tính
hiệu lực của các quy định pháp luật, nguyên tắc quản lý điều hành của doanh
nghiệp và hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp.
+ Giám sát sau khi thực hiện là việc theo dõi, kiểm tra, thanh tra các kết quả
hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở các báo cáo kết quả hoặc quyết toán định
kỳ và giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật, quyết định của chủ sở
hữu hoặc điều lệ doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước, có thể sử dụng
một số chỉ tiêu sau:
Trang 25

Trích đoạn Tổ chức bộ máy quản lý Sự phù hợp của các văn bản pháp luật liên quan Môi trường kinh tế-chính trị-xã hộ Tổng công ty dệt may Việt Nam Cơ sở thực hiện quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy len Hà Đông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status