Các biện pháp tự vệ trong tm- tt sd ở một số nước trên tg và vn - Pdf 12

Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :

CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ TRONG THƯƠNG MẠI- THỰC TIỄN SỬ
DỤNG
Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn :

Thảo

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN.
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương
ASEAN : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á.
ASEM : Diễn đàn hợp tác Á-ÂU.
CEPT : Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung khu vực
ASEAN
EU : Liên minh Châu âu.
GATS : Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
GATT : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại.
MOFTEC : Bộ Ngoại thương và Hợp tác kinh tế (Trung Quốc ).
METI : Bộ Kinh tế
, Thương mại và Công nghiệp (Nhật).
MOF : Bộ Tài Chính.
TRIPS : Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ.
SETC : Uỷ ban Kinh tế và Thương mại nhà nước Trung Quốc .
USITC : Uỷ ban Thương mại quốc tế Mỹ.
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới.

Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

MỤC LỤC
Trang

Lời nói đầu ....................................................................................................... 1

1.3.3.2 Áp dụng các biện pháp tự vệ .......................................................... 30
1.3.3.3 Thời hạn áp dụng ........................................................................... 31
1.3.3.4 Đình chỉ, rà soát, gia hạn và tái áp dụng các biện pháp tự vệ ...... 32
 Đình chỉ.....................................................................................................
32

 Rà soát.......................................................................................................
33

 Gia hạn......................................................................................................
33

 Vấn đề tái áp dụng ....................................................................................
34

Chương 2: Thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ ở một số nước và
khu vực trên thế giới ..................................................................................... 35
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

2.1. Thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ thương mại ở Mỹ .................... 35
2.1.1. Lịch sử ra đời của các biện pháp tự vệ ở Mỹ.................................... 35
2.1.2. Thủ tục điều tra và áp dụng các biện pháp tự vệ ............................. 37
2.1.3. Thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ .................................................... 40
2.1.4. Thực tế một số trường hợp cụ thể về việc áp dụng các biện pháp
tự vệ
ở Mỹ............................................................................................... 42
2.2. Thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ thương mại ở EU.................... 48
2.2.1. Sơ lược về Quy chế 3285/94/EC- Quy chế về các biện pháp tự vệ
của EU..................................................................................................... 48

3.1.2. Nguyên nhân của thực trạng trên ...................................................... 74
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

3.1.2.1 Nguyên nhân nhận thức .................................................................. 74
3.1.2.2 Nguyên nhân thực tiễn .................................................................... 75
3.1.3. Thực trạng pháp luật về tự vệ thương mại của Việt Nam ................ 76
3.1.3.1 Sự cần thiết phải ban hành văn bản pháp luật về tự vệ thương
mại ........................................................................................................ 76
3.1.3.2 Một số vấn đề cơ bản của Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu
hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam ..................................................... 77
3.1.3.3 Tác động củ
a việc ban hành Pháp lệnh về tự vệ ............................ 79
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tự vệ thương mại
của Việt Nam .................................................................................................. 80
3.2.1. Sự cần thiết và phương hướng hoàn thiện pháp luật về tự vệ
trong thương mại..................................................................................... 80
3.2.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tự vệ thương mại của
Việt Nam ............................................................................................... 80
3.2.1.2 Ph
ương hướng triển khai và hoàn thiện công tác tự vệ thương
mại ở Việt Nam trong thời gian tới....................................................... 82
3.2.2. Một số kiến nghị nhằm thực hiện tốt công tác tự vệ thương mại
trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam ........................... 83
3.2.2.1 Đối với Nhà nước............................................................................ 83
3.2.2.1.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp điều chỉnh thương mại đặc biệt
là pháp luật về tự vệ thương mại .......................................................
83
3.2.2.1.2 Nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp về
công tác tự vệ thương mại .................................................................

ngày 01 tháng 01 năm 1995 sau kết quả của vòng đàm phán Uruguay. Mục
đích khi thành lập tổ chức này là tạo một diễn đàn, là nơi để cho các Quốc gia
đàm phán thúc đẩy tự do hoá thương mại thông qua việc dỡ bỏ các hàng rào
làm trở ngại đến tiến trình này. Là một cơ chế quốc tế bao gồm các Hiệp định
đa biên và nhi
ều bên về thương mại, tổ chức thương mại thế giới tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp của các Quốc gia khác nhau có thể xâm nhập thị trường
nước ngoài một cách tự do, bình đẳng và không bị hạn chế nhằm tìm kiếm cơ
hội kinh doanh, thu lợi nhuận một cách hợp pháp.
Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của ASEAN, ASEM, APEC, tham
gia vào CEPT và khu vực mậu dịch tự do AFTA của khu vực Đông Nam Á và
đang tích c
ực tiến hành đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO.
Việc ký kết các Hiệp định thương mại song phương cũng như tham gia các
Hiệp định thương mại đa phương đã mở ra những cơ hội, đồng thời cũng đặt ra
nhiều thách thức đối với Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế theo
xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá. Thờ
i gian vừa qua, trong tiến trình đổi
mới, Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn trong việc xây dựng và điều chỉnh
chính sách pháp luật quốc gia cho phù hợp với pháp luật quốc tế. Luật doanh
nghiệp 1999, Luật đầu tư nước ngoài 1996 sửa đổi bổ sung năm 2000, Luật thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi năm 1998, Luật Hải quan năm 2001 lần lượt
ra đờ
i đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu của tiến trình cải cách hệ thống
pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế quốc tế nói riêng.
Thực hiện chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế
quốc tế, dần dần hội nhập kinh tế quốc tế một cách có hiệu quả trên cơ sở đảm
bảo độc lập tự chủ thì việc xây d
ựng một văn bản pháp lý có giá trị cao để điều
chỉnh các nguyên tắc cơ bản khi tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tạo

Việt Nam” làm đề tài Khoá luận của mình. Công việc nghiên cứu bắt đầu từ
việc tìm hiểu nội dung chế định về tự vệ thương mại theo quy định của Tổ
chức thương mại thế giới, tìm hiểu lý thuyết và thực tiễn áp dụng biện pháp tự
vệ ở một số nước và khu vực điể
n hình trên thế giới qua đó sẽ làm rõ nội dung
các quy định của pháp luật quốc tế cũng như các quy định của luật pháp Việt
Nam về vấn đề này để từ đó đề xuất ra những giải pháp khắc phục, hoàn thiện
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

hơn nữa cũng như góp phần minh bạch hoá chính sách và các quy định pháp
luật của Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã sử dụng phương pháp so
sánh, phân tích tổng hợp dựa trên sự vận dụng kết quả các công trình khoa học
đã công bố, các văn bản pháp luật, các tài liệu tham khảo…vv. Tuy vậy, đây là
một đề tài còn rất mới và chưa được nghiên cứu sâu, nguồn tài liệu tham khảo
còn hạn chế nên bài khoá luậ
n này không tránh được những thiếu sót, rất
mong nhận được sự phê bình, nhận xét và đóng góp ý kiến để bài viết được
hoàn thiện hơn.
Bài Khoá luận tốt nghiệp này bao gồm có Lời nói đầu và ba chương:
Chương I : Khái quát chung về các biện pháp tự vệ trong thương mại
quốc tế
Chương II: Thực tiễn sử dụng biện pháp tự vệ ở một số nước và khu
vực trên thế gi
ới
Chương III: Thực tiễn về tự vệ thương mại ở Việt Nam và một số kiến
nghị nhằm thực hiện tốt công tác này trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay.
Cuối cùng là phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo.

và chịu những rủi ro nhất định. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà các nước
lại dựng lên những hàng rào làm cản trở đến sự lưu thông của hàng hoá. Lý do
để các nước làm việc này là nhằm bảo hộ sản xuất trong nước trước sự cạnh
tranh của hàng hoá bên ngoài. Đi
ều này có ý nghĩa lớn vì sản xuất trong nước
suy giảm sẽ làm ảnh hưởng lớn đến công ăn việc làm và qua đó sẽ ảnh hưởng
đến tình hình ổn định xã hội của một quốc gia.Mặt khác, việc bảo hộ thuơng
mại một cách tràn lan, không hạn chế sẽ làm cho các ngành sản xuất nội địa
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

hoạt động trì trệ và sẽ ngăn cản sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Việc tự
do hoá thương mại ở những mức độ khác nhau sẽ làm yếu đi hoặc mất dần
các hàng rào nói trên. Qua đó, các quy tắc chung của WTO đặt ra những ngoại
lệ cho phép các doanh nghiệp trong nước và Chính phủ của họ thực hiện
những hành động nhất định nhằm bảo vệ quyền l
ợi của mình khi bị tác động
bởi chính sách tự do hoá thương mại. Đó chính là các biện pháp tự vệ trong
thương mại quốc tế.
Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế có thể được hiểu theo hai
nghĩa. Theo nghĩa rộng, các biện pháp tự vệ bao gồm các biện pháp mà một
nước sử dụng nhằm bảo hộ cho các nhà sản xuất hay hàng hoá của nước đó
trướ
c sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài. Các biện pháp tự vệ theo nghĩa
trên là rất rộng, được áp dụng trong nhiều trường hợp khác nhau và chịu sự
giám sát của các Hiệp định đa biên của WTO, chẳng hạn như các biện pháp
kiểm dịch thực vật, các biện pháp trợ cấp, các biện pháp chống bán phá
giá…Cần lưu ý là các Hiệp định đa biên tương ứng chịu trách nhiệm giám sát
việc thực thi các biện pháp trên trong nhữ
ng điều kiện chặt chẽ chứ không

thiết lập một sự giám sát đa phương trên cơ sở các biện pháp tự vệ và triệt tiêu
các biện pháp nhằm né tránh sự giám sát này. Theo đó, nế
u do hậu quả của
những diễn biến không lường trước được của các tình huống và do kết quả của
các cam kết theo Hiệp định này, một sản phẩm được nhập khẩu vào lãnh thổ
của bên ký kết đó với số lượng tăng mạnh và với điều kiện tới mức gây tổn hại
hay đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất sản ph
ẩm tương tự
hay cạnh tranh trực tiếp trong nước thì bên ký kết có thể dừng hay trì hoãn thực
hiện toàn bộ hay một phần các cam kết theo các Hiệp định của WTO về hàng
hoá, có thể rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng về thuế quan, trong chừng mực
liên quan đến sản phẩm đó và trong thời gian cần thiết để dự liệu và khắc phục
tổn hại đó.
Trên cơ sở củ
a Điều XIX của GATT 1947 và sau này Tổ chức thương mại
thế giới WTO đã kế thừa, Điều II, Hiệp định đa biên về các biện pháp tự vệ
trong khuôn khổ WTO cũng đã quy định rằng một thành viên có thể áp dụng
một biện pháp tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi thành viên đó đã xác định được,
theo những điều khoản trong Hiệp định, là sả
n phẩm đó được nhập vào lãnh
thổ mình khi có sự gia tăng nhập khẩu tương đối hay tuỵêt đối so với sản
phẩm nội địa, và theo đó có thể gây ra hoặc đe doạ gây ra tổn hại nghiêm
trọng cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra sản phẩm tương tự hoặc các
sản phẩm cạnh tranh trực tiếp. Vậy nội dung của các quy tắc trên được hiểu ra
sao?
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

Các quy tắc trên thừa nhận rằng khi thực hiện các cam kết của mình liên
quan đến chính sách tự do hoá thương mại, một số ngành sản xuất nội địa có

Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam năm 2002 cũng
khẳng định Chính Phủ Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp tự vệ trong
trường hợp một loại hàng hoá được nhập khẩu quá mức vào Việt Nam và gây ra
thiệt hại hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa.
Cũng giống như Hiệp định về các biện pháp tự vệ
, Pháp lệnh cũng đã giải thích
một số thuật ngữ như: nhập khẩu hàng hoá quá mức, thiệt hại nghiêm trọng,
ngành sản xuất trong nước, hàng hoá tương tự và hàng hoá cạnh tranh trực

1

Lời nói đầu Hiệp định về các biện pháp tự vệ

2

Xem điều V Hiệp định đa biên về hàng nông nghiệp- GATT 1994

3

Xem điều VI Hiệp định đa biên về hàng dệt may- GATT 1994

Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

tiếp… đồng thời cũng đưa ra những tiêu chí xác định làm cơ sở cho việc áp
dụng các biện pháp tự vệ.
Để hiểu rõ hơn về các biện pháp tự vệ, chúng ta phải đặt việc nghiên cứu
các trường hợp của việc áp dụng các biện pháp tự vệ với các biện pháp khác
có liên quan đến việc bảo hộ hàng hoá trong thương mại quốc tế như là các
biện pháp chống bán phá giá, các biện pháp chống tr

động của các doanh nghiệp, các đối thủ cạnh tranh khác và xa hơn là ảnh
hưởng tới người tiêu dùng, do vậy các nước đặt ra các biện pháp nhằm chống
lại các hành vi này. Còn các biện pháp tự vệ được áp dụng nhằm bảo hộ sản
xuất trong nước trước sự nhập khẩu hàng hoá quá mức, không thể lường trước
vào thị trường nội địa và đang gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc có bằng chứng
cho th
ấy sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành sản xuất nội địa. Khác với
các quy định về cạnh tranh không lành mạnh do bán phá giá và do được trợ
cấp, biện pháp tự vệ xuất phát từ việc hàng hoá nhập khẩu gia tăng đột biến
nhưng không bị quy là hành vi cạnh tranh không lành mạnh của nhà cung cấp
nước ngoài. Về bản chất, các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp
đều có mục đích là đưa cạ
nh tranh trở lại vị thế cân bằng trong khi đó biện
pháp tự vệ lại có mục đích hạn chế cạnh tranh trong điều kiện đặc biệt và chỉ
mang tính chất tạm thời để cho ngành sản xuất trong nước có thể tồn tại, cạnh
tranh sẽ không bị thủ tiêu và quan hệ thương mại được duy trì lâu dài.
Thứ hai, sự khác biệt giữa các biện pháp này nằm ở điề
u kiện áp dụng
theo đó mức độ tổn hại của ngành sản xuất được nêu lên để chứng minh hành
động tự vệ của Chính phủ cao hơn nhiều so với mức đòi hỏi của việc đánh
thuế đối kháng và thuế chống bán phá giá. Trong trường hợp áp dụng biện
pháp tự vệ thì thiệt hại đối với ngành sản xuất phải là nghiêm trọng. Trong khi
đó, bên yêu cầu áp dụng các biệ
n pháp chống lại hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong thương mại quốc tế chỉ cần chứng minh có hành vi cạnh tranh
không lành mạnh và hành vi đó đã gây ra thiệt hại vật chất là đủ.
Thứ ba, để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của nhà
sản xuất nước ngoài, nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp thuế quan.
Tức là họ chỉ được sử dụng thuế đối kháng, thuế ch
ống bán phá giá hay đánh

cho phép được tiến hành hành động trả đũa. Vậy trả đũa là gì, nó có phải là các
biện pháp tự vệ không? Trả đũa được áp dụng trong trường hợp nào, việc áp
dụng nó sẽ có hệ quả gì, và trả đũa có liên quan gì đến các cuộc chiến tranh
thương mại?
Biện pháp trả đũa cũng được xem là một trong những biện pháp bảo hộ
hàng hoá trong thương mại quốc tế và là biện pháp t
ự vệ nếu hiểu theo nghĩa
rộng. Còn nếu xét cụ thể về mặt bản chất, mục đích áp dụng, điều kiện áp
dụng hay mức độ áp dụng thì biện pháp trả đũa và biện pháp tự vệ là hoàn
toàn khác nhau. Biện pháp trả đũa là hệ quả của việc vi phạm các nghĩa vụ
trong thương mại, không chỉ từ việc các bên không thoả thuận được mức bồ
i
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

thường khi áp dụng biện pháp tự vệ mà còn do việc áp dụng các biện áp chống
cạnh tranh không lành mạnh không có căn cứ và bên kia không tuân thủ các
khuyến nghị của các cơ quan giải quyết tranh chấp. Điều này có nghĩa là:
chẳng hạn khi một bên vi phạm nghĩa vụ nêu trong GATT hay các Hiệp định
kèm theo, cơ quan giải quyết tranh chấp có thể cho phép bên bị ảnh hưởng
nâng thuế suất đánh vào sản phẩm nhập khẩu từ
nước vi phạm với kim ngạch
mua bán của các sản phẩm này sẽ phải tương đương với kim ngạch bị ảnh
hưởng bởi các biện pháp đang bị khiếu kiện
1
.
Các biện pháp trả đũa thông thường phải được cơ quan giải quyết tranh
chấp cho phép và trong cùng một lĩnh vực của GATT, GATS hay TRIPS. Tuy
nhiên, nếu cơ quan giải quyết tranh chấp xem xét thấy không thể áp dụng biện
pháp trả đũa trong cùng một lĩnh vực thì có thể cho phép trả đũa ở các lĩnh vực

nước khác vì mục đích gây ra một thiệt hại nhất định cho nước đó. Theo quy
định của Điều XIX khoản 3b của GATT thì “ nếu như các biện pháp tự vệ đã
áp dụng theo tinh thần của Điều XIX, đoạn 2, không tham vấn trước, gây thiệt
hại hay đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sả
n xuất trong nước,
trên lãnh thổ của một bên ký kết khác chịu tác động của các biện pháp đó, khi
mỗi sự chậm trễ có thể gây ra thiệt hại khó có thể khắc phục được, bên ký kết
này có quyền ngừng cho hưởng các nhân nhượng hay ngừng các nghĩa vụ
khác trong thời hạn cần thiết để ngăn ngừa hay khắc phục thiệt hại đó.
Trên thực tế, việc áp dụng các biện pháp trả
đũa chỉ thực sự diễn ra giữa
các nước có nền kinh tế mạnh và tỷ trọng thương mại lớn. Việc trả đũa nhau
giữa các nước lớn về kinh tế thực chất là những cuộc chiến thương mại mà
chúng ta thường thấy trong thời gian gần đây. Đối với các nước mà tỷ trọng
hàng hoá xuất nhập khẩu trong thương mại quốc tế không đáng k
ể thì việc trả
đũa trong thương mại quốc tế là không thực tế, không hiệu quả và có thể gây
ra những bất lợi trong quan hệ thương mại với các nước có nền kinh tế lớn
mạnh hơn.
1.1.2. Lịch sử phát triển của các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế
.
1.1.2.1 Theo quy định của GATT 1947.
Tự do hoá thương mại không phải lúc nào cũng diễn ra một cách suôn sẻ,
trên thực tế đã xuất hiện không ít những trở ngại. Việc mở cửa biên giới, nếu
như nó tạo ra những lợi ích cho người tiêu dùng và những nhà sản xuất phải
nhập khẩu nguyên liệu, sản phẩm là đầu vào thì ngược lại, nó gây ra cho
những nhà sản xuất nội địa những khó khă
n nhất định, thị trường của họ bị đe
doạ rơi vào tay các tư bản nước ngoài. Như vậy, ở đây diễn ra hai xu hướng
một ủng hộ tự do hoá thương mại, một tìm cách hạn chế. Quốc gia là chủ thể

2
. Năm 1947, Mỹ và 21 quốc gia khác đã thoả thuận đàm phán về
văn kiện GATT trong đó có chứa đựng điều khoản về hành động trong trường
hợp khẩn cấp. Thông qua Điều XIX trong GATT 1947 về thương mại hàng
hoá, Chính phủ các nước đã nhất trí về những điều khoản miễn trừ nghĩa vụ
tạm thời khi xảy ra tình thế cấp thiết.Theo đó, GATT 1947 quy định r
ằng nếu
do hậu quả của những diễn biến không lường trước được của các tình huống và
do kết quả của các cam kết theo Hiệp định này, khi một sản phẩm được nhập
khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết đó với số lượng tăng mạnh và với điều kiện
gây tổn hại hay đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất sản
phẩm tương tự hay cạnh tranh trực tiếp trong nước thì bên ký kết có thể dừng
toàn bộ hay một phần các cam kết, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng về thuế
quan, trong chừng mực liên quan đến sản phẩm đó và trong thời gian cần thiết
để dự liệu và khắc phục tổn hại đó.
Tuy nhiên , GATT 1947 mới chỉ là bước mở đầu cho quan hệ giao thương
được tự do phát triển. Cùng vớ
i quá trình phát triển chung của thương mại

2

Xem cuốn Về hệ thống thương mại thế giới, Luật lệ và chính sách về quan hệ kinh tế quốc tế, John.H.Jackson, bản dịch
của Phạm Viên Phương & Huỳnh Thanh, NXB Thanh niên 2001

Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

toàn cầu nó đã dần bộc lộ những hạn chế nhất định làm cơ sở cho một số Quốc
gia lợi dụng để từ bỏ các nghĩa vụ trong các cam kết của họ:
Thứ nhất GATT 1947 chỉ có duy nhất điều XIX quy định về tự vệ trong

giới(WTO),
một hệ thống các quy tắc thương mại đa biên đã được thiết lập và ngày càng

1

Xem Patrick Juillard & Dominique carreau, Manuel Droit international économique, Bản tiếng pháp, NXB Paris 1998

Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

được hoàn thiện hơn. Mục tiêu của hệ thống WTO là tạo cơ hội cho các sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ của các nhà xuất khẩu có thể thâm nhập vào thị
trường nước ngoài một cách tự do mà không gặp phải các rào cản thương mại
và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của các Quốc gia khác nhau có thể cạnh
tranh với nhau một cách bình đẳng và không bị gián đoạn bởi việc áp đặt các
hạn ch
ế. GATT 1994 và Hiệp định về các biện pháp tự vệ vẫn bảo lưu các quy
định của GATT 1947 đồng thời cũng có những sửa đổi bổ sung cho phù hợp
nhằm đảm bảo cho việc trao đổi, giao lưu thương mại giữa các quốc gia diễn ra
thuận lợi, đảm bảo cho các quốc gia nhập khẩu không phải chịu những thiệt hại
do tác động khi tham gia thương mại toàn cầu.Bên cạnh đó, Hi
ệp định cũng có
quy định việc bảo vệ quyền lợi của các nước cung ứng hàng hoá khi bị nước
nhập khẩu áp dụng các biện pháp tự vệ. So với các quy định của GATT 1947,
GATT 1994 và Hiệp định về các biện pháp tự vệ có những thay đổi cơ bản sau:
Thứ nhất, khác với quy định của GATT 1947, Hiệp định về các biện
pháp tự vệ đã giải thích cụ thể
các điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ đồng
thời làm rõ các khái niệm mà Hiệp định chung GATT 1947 không quy định
chặt chẽ. Việc giải thích này đã phần nào hạn chế việc sử dụng tuỳ tiện các

Khi thực hiện các cam kết về tự do hoá thương mại, các nước phải chấp
nhận từ bỏ sự bảo hộ của mình đối với các mặt hàng sản xuất trong nước và
chấp nhận rằng hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào sẽ được hưởng các lợi
ích tương tự và bình đẳng như hàng hoá trong nước theo nguyên tắc đối xử
Quốc gia. Tuy nhiên, trong các quy định của WTO còn có những ngoại lệ nh
ất
định nhằm đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong những trường hợp
khẩn cấp như cho phép các bên tham gia ký kết sử dụng các biện pháp tự vệ
trong một khoảng thời gian hạn chế nhất định không nhằm mục đích bảo hộ
lâu dài cho sản xuất nội địa mà chỉ để khắc phục hay giảm nhẹ những thiệt hại
cho các doanh nghiệp trong nước trước tình huố
ng bất thường từ việc hàng
hoá nước ngoài nhập khẩu không hạn chế về số lượng vào thị trường nội địa
của họ. Các biện pháp tự vệ sẽ chấm dứt khi mối nguy hiểm trong tình huống
đặc biệt không còn nữa.
 Thứ hai, các biện pháp tự vệ góp phần tăng cường, khuyến khích tính
cạnh tranh thông qua việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất ch
ứ không phải vì mục
đích ưu đãi, bảo hộ ngành sản xuất trong nước hay hạn chế sự cạnh tranh của
hàng hoá nước ngoài trong thị trường nội địa.
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phương
Thảo

Đây là một quy định mang tính chất nhân nhượng và ưu đãi dành cho
các nước đang phát triển, các nước đang trong thời kỳ chuyển tiếp mà nền
công nghiệp của họ chưa sẵn sàng và cũng chưa đủ sức đương đầu với cạnh
tranh quốc tế. Theo đó, một khoảng thời gian hợp lý sẽ dành cho họ để họ tháo
gỡ những khó khăn trước mắt, tìm ra đối sách lâu dài để nâng cao sứ
c hấp dẫn
của sản phẩm mà họ làm ra, thúc đẩy cạnh tranh với hàng nhập khẩu thông

được sử dụng phổ biến bao gồm: các biện pháp thuế quan, các biện pháp phi
thuế quan (hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu, cấm xuất nhập khẩu, hạn chế
xuất nhập khẩu tự nguyện), và các biện pháp kỹ thuật khác.
Cùng với tiến trình tự do hoá thương mại trên thế giới mà các hàng rào
này đã d
ần dần bị dỡ bỏ. Các quy định của Hiệp định về các biện pháp tự vệ
cho phép các quốc gia sử dụng biện pháp thuế quan và phi thuế quan để bảo
hộ sản xuất trong nước. Theo đó, các quốc gia sẽ lựa chọn, hoặc là tăng mức
thuế đã cam kết vượt lên trên mức thuế trần hay áp dụng các hạn chế định
lượng như quota. Khác với biện pháp chố
ng lại các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh chỉ được sử dụng thuế quan bổ sung, các biện pháp tự vệ cho phép
sử dụng các hạn chế định lượng. Các nước khi sử dụng các biện pháp tự vệ thì
không được sử dụng các biện pháp khác như hạn chế xuất khẩu tự nguyện hay
các công cụ của hàng rào kỹ thuật…Các quốc gia cũng có thể sử dụng biện
pháp tự vệ tạ
m thời với điều kiện phải tuân thủ các điều kiện của Hiệp định.
Biện pháp thuế quan.

Các biện pháp bảo hộ hàng hoá trong thương mại quốc tế được phép duy
trì với hai điều kiện: chỉ ở mức độ hợp lý và chỉ thông qua thuế quan. Đây là
một trong bốn quy tắc cơ bản của GATT và WTO. Vậy thuế quan là gì và vì
sao chỉ bảo hộ thông qua thuế quan mà không tính đến các công cụ bảo hộ
khác?
Thuế quan hay còn gọi là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế quá cảnh
được
đánh tuỳ theo đối tượng bị thu thuế. Về bản chất thì đây là loại thuế gián
thu đánh vào hàng hoá khi chúng di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh
thổ hải quan khác.Thuế quan là công cụ đảm bảo tính minh bạch và dễ dự
đoán, được thể hiện bằng những con số rõ ràng. Do vậy người ta có thể dễ

ạn ngạch.
Thuế quan giúp các nhà sản xuất nội địa có thể bán hàng trên thị trường
nội địa mà không phải chịu sức ép cạnh tranh, phục vụ cho các mục tiêu kinh
tế là bảo hộ sản xuất . Đây là chức năng quan trọng nhất của thuế quan.
Thuế quan có tác dụng tăng thu cho ngân sách nhà nước, nhất là đối với
những nước đang phát triển thì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách. Vi
ệc
cắt giảm thuế quan khi gia nhập vào tiến trình tự do hoá thương mại theo xu
hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá đã gây ra những ảnh hưởng nhất định đối
với các khoản thu cho ngân sách và khiến cho nhà nước phải tìm các khoản
thu khác để bù đắp.
Thuế quan là công cụ phục vụ các mục tiêu phi kinh tế như giảm bớt
việc nhập khẩu các hàng hoá mà nhà nước không khuyến khích vì nó ảnh

Trích đoạn Nguyên tắc không phân biệt đối xử Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ trong phạm vi và mức độ Thủ tục, thời hạn và một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng Thủ tục cung cấp thông tin và tham vấn Thủ tục điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status