Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế - Thực tiễn sử dụng ở một số nước trên thế giới và Việt Nam - Pdf 60

Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
Trờng Đại học ngoại thơng hà nội
Khoa kinh tế ngoại thơng

Khóa luận tốt nghiệp

Đề tài :
Các biện pháp tự vệ trong thơng mại- thực tiễn sử dụng
ở một số nớc trên thế giới và Việt Nam
Giáo viên hớng dẫn : pgs.ts. hoàng ngọc thiết
Sinh viên thực hiện : vũ thị phơng thảo
Lớp : pháp 1- k38e
Hà Nội, 2003
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
Khoa kinh tế Ngoại Thương, Thầy chủ nhiệm khoa
TS. Vũ Sỹ Tuấn đã tạo điều kiện cho em được học
tập và nghiên cứu trong một môi trường khoa học
thuận lợi. Em cũng xin cảm ơn Thầy giáo PGS.TS
Hoàng Ngọc Thiết, người đã tận tình hướng dẫn và
giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bản Khoá
luận tốt nghiệp này!
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
Bảng chữ cái viết tắt
Afta : Khu vực mậu dịch tự do asean.
Apec : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á- Thái Bình Dơng
Asean : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á.
Asem : Diễn đàn hợp tác á-âu.
Cept : Hiệp định thuế quan u đãi có hiệu lực chung khu vực asean
Eu : Liên minh Châu âu.
Gats : Hiệp định chung về thơng mại dịch vụ

cần thiết .............................................................................................25
1.3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo việc bồi thờng tổn thất thơng mại ...........26
1.3.3. Thủ tục, thời hạn và một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng biện
pháp tự vệ ............................................................................................27
1.3.3.1 Thủ tục điều tra ..........................................................................27
a. Căn cứ tiến hành điều tra ...................................................................27
b. Thủ tục điều tra .................................................................................28
1.3.3.2 áp dụng các biện pháp tự vệ ......................................................30
1.3.3.3 Thời hạn áp dụng .......................................................................31
1.3.3.4 Đình chỉ, rà soát, gia hạn và tái áp dụng các biện pháp tự vệ .32
Đình chỉ............................................................................................32
Rà soát..............................................................................................33
Gia hạn.............................................................................................33
Vấn đề tái áp dụng............................................................................34
Chơng 2: Thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ ở một số nớc và khu
vực trên thế giới..........................................................................................35
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
2.1. Thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ thơng mại ở Mỹ....................35
2.1.1. Lịch sử ra đời của các biện pháp tự vệ ở Mỹ.................................35
2.1.2. Thủ tục điều tra và áp dụng các biện pháp tự vệ ...........................37
2.1.3. Thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ .................................................40
2.1.4. Thực tế một số trờng hợp cụ thể về việc áp dụng các biện pháp tự
vệ ở Mỹ................................................................................................42
2.2. Thực tiễn sử dụng các biện pháp tự vệ thơng mại ở EU....................48
2.2.1. Sơ lợc về Quy chế 3285/94/EC- Quy chế về các biện pháp tự vệ
của EU..................................................................................................48
2.2.2. Thủ tục áp biện pháp tự vệ của EU................................................49
2.2.2.1 Thủ tục cung cấp thông tin và tham vấn ...................................49
2.2.2.2 Thủ tục điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ .............................50
2.2.3. áp dụng và thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ ...............................52

hàng hoá nớc ngoài vào Việt Nam ..................................................77
3.1.3.3 Tác động của việc ban hành Pháp lệnh về tự vệ........................79
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tự vệ thơng mại của
Việt Nam......................................................................................................80
3.2.1. Sự cần thiết và phơng hớng hoàn thiện pháp luật về tự vệ trong th-
ơng mại.................................................................................................80
3.2.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tự vệ thơng mại của
Việt Nam ...........................................................................................80
3.2.1.2 Phơng hớng triển khai và hoàn thiện công tác tự vệ thơng mại ở
Việt Nam trong thời gian tới.............................................................82
3.2.2. Một số kiến nghị nhằm thực hiện tốt công tác tự vệ thơng mại
trong nhập khẩu hàng hoá nớc ngoài vào Việt Nam ...........................83
3.2.2.1 Đối với Nhà nớc..........................................................................83
3.2.2.1.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp điều chỉnh thơng mại đặc biệt là
pháp luật về tự vệ thơng mại .......................................................83
3.2.2.1.2 Nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nớc và doanh nghiệp về
công tác tự vệ thơng mại ............................................................85
3.2.2.1.3 Xây dựng và kiện toàn bộ máy Nhà nớc chuyên trách trong
lĩnh vực tự vệ thơng mại .............................................................87
3.2.2.1.4 T vấn và hỗ trợ các doanh nghiệp những thông tin về tự vệ th-
ơng mại ......................................................................................88
3.2.2.2 Đối với doanh nghiệp .................................................................88
3.2.2.2.1 Tham gia vào các Hiệp hội Doanh nghiệp để tăng cờng sức
mạnh trong tự vệ thơng mại ........................................................88
3.2.2.2.2 Chủ động tiếp cận và chuẩn bị đầy đủ kiến thức về tự vệ thơng
mại để sử dụng khi cần thiết tiến hành tự vệ................................89
3.2.2.2.3 Khẩn trơng tìm hiểu và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, bằng chứng để
tiến hành yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ và biện pháp
trả đũa thơng mại........................................................................90
3.2.2.3 Một số kiến nghị khác.................................................................91

cho các doanh nghiệp trong và ngoài nớc tham gia tích cực vào hoạt động ngoại
thơng là cần thiết. Chính vì vậy, nhu cầu đặt ra cho nền kinh tế chuyển đổi và
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
đang từng bớc hội nhập vào kinh tế thế giới và khu vực nh Việt Nam là nghiên
cứu một cách nghiêm túc các quy định quốc tế, học tập kinh nghiệm của các nớc
đi trớc để vận dụng vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của mình. Thực tiễn thơng
mại của Việt Nam trong những năm qua đã chứng minh nhu cầu áp dụng biện
pháp tự vệ trong trờng hợp cần thiết để hạn chế sự gia tăng đột biến của một loại
sản phẩm cụ thể nào đó.
Gần đây chúng ta đã kịp thời ban hành Pháp lệnh về đối xử Tối hụe quốc và
đối xử quốc gia trong thơng mại quốc tế và Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu
hàng hoá nớc ngoài vào Việt Nam đợc Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội thông qua ngày
25 tháng 5 năm 2002 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 9 năm 2002. Sự
ra đời của hai Pháp lệnh này, đặc biệt là Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng
hoá nớc ngoài vào Việt Nam đã phần nào khắc phục đợc những thiếu sót của Pháp
luật Việt Nam về thơng mại quốc tế, tạo ra hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp
hoạt động thuận lợi và là bớc chuyển linh hoạt cho việc Việt Nam đàm phán gia
nhập Tổ chức thơng mại thế giới WTO.
Xuất phát từ thực tiễn thơng mại về bảo hộ hàng hoá nói chung và tự vệ
thơng mại nói riêng ở Việt Nam, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này
trên cơ sở đó có thể đóng góp một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
của hoạt động bảo hộ tự vệ thơng mại cũng nh của pháp luật về tự vệ thơng mại
ở Việt Nam, tôi đã quyết định chọn đề tài: Các biện pháp tự vệ trong thơng
mại quốc tế- Thực tiễn sử dụng ở một số nớc trên thế giới và Việt Nam làm đề
tài Khoá luận của mình. Công việc nghiên cứu bắt đầu từ việc tìm hiểu nội dung
chế định về tự vệ thơng mại theo quy định của Tổ chức thơng mại thế giới, tìm
hiểu lý thuyết và thực tiễn áp dụng biện pháp tự vệ ở một số nớc và khu vực điển
hình trên thế giới qua đó sẽ làm rõ nội dung các quy định của pháp luật quốc tế
cũng nh các quy định của luật pháp Việt Nam về vấn đề này để từ đó đề xuất ra
những giải pháp khắc phục, hoàn thiện hơn nữa cũng nh góp phần minh bạch

nên nhằm làm cho luồng hàng hoá, dịch vụ, t bản (vốn) và thể nhân đợc di
chuyển từ nớc này sang nớc khác đợc thuận lợi hơn trên cơ sở cạnh tranh bình
đẳng. Trên cơ sở lý thuyết về lợi thế so sánh, lợi ích lớn nhất của tự do hoá th-
ơng mại là thúc đẩy ngày càng nhiều nớc tham gia buôn bán trao đổi hàng hoá
quốc tế, từ đó thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Với ngời tiêu dùng, hàng hoá lu thông
dễ dàng hơn đem lại cho họ cơ hội lựa chọn hàng hoá tốt hơn với giá rẻ hơn. Ng-
ời tiêu dùng ở đây có thể hiểu là những nhà sản xuất nhập khẩu nguyên vật liệu
để sản xuất ra những hàng hóa khác.
Ngoài những lợi thế khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia vào luật
chơi chung của thế giới, các nớc cũng phải chấp nhận những nhợng bộ và chịu
những rủi ro nhất định. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà các nớc lại dựng lên
những hàng rào làm cản trở đến sự lu thông của hàng hoá. Lý do để các nớc làm
việc này là nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc trớc sự cạnh tranh của hàng hoá bên
ngoài. Điều này có ý nghĩa lớn vì sản xuất trong nớc suy giảm sẽ làm ảnh hởng
lớn đến công ăn việc làm và qua đó sẽ ảnh hởng đến tình hình ổn định xã hội
của một quốc gia.Mặt khác, việc bảo hộ thuơng mại một cách tràn lan, không
hạn chế sẽ làm cho các ngành sản xuất nội địa hoạt động trì trệ và sẽ ngăn cản
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Việc tự do hoá thơng mại ở những mức
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
độ khác nhau sẽ làm yếu đi hoặc mất dần các hàng rào nói trên. Qua đó, các
quy tắc chung của WTO đặt ra những ngoại lệ cho phép các doanh nghiệp trong
nớc và Chính phủ của họ thực hiện những hành động nhất định nhằm bảo vệ
quyền lợi của mình khi bị tác động bởi chính sách tự do hoá thơng mại. Đó
chính là các biện pháp tự vệ trong thơng mại quốc tế.
Các biện pháp tự vệ trong thơng mại quốc tế có thể đợc hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng, các biện pháp tự vệ bao gồm các biện pháp mà một nớc sử
dụng nhằm bảo hộ cho các nhà sản xuất hay hàng hoá của nớc đó trớc sự cạnh
tranh của hàng hoá nớc ngoài. Các biện pháp tự vệ theo nghĩa trên là rất rộng, đ-
ợc áp dụng trong nhiều trờng hợp khác nhau và chịu sự giám sát của các Hiệp
định đa biên của WTO, chẳng hạn nh các biện pháp kiểm dịch thực vật, các biện

một sản phẩm đợc nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết đó với số lợng tăng
mạnh và với điều kiện tới mức gây tổn hại hay đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng
cho các nhà sản xuất sản phẩm tơng tự hay cạnh tranh trực tiếp trong nớc thì bên
ký kết có thể dừng hay trì hoãn thực hiện toàn bộ hay một phần các cam kết theo
các Hiệp định của WTO về hàng hoá, có thể rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhợng về
thuế quan, trong chừng mực liên quan đến sản phẩm đó và trong thời gian cần
thiết để dự liệu và khắc phục tổn hại đó.
Trên cơ sở của Điều XIX của GATT 1947 và sau này Tổ chức thơng mại thế
giới WTO đã kế thừa, Điều II, Hiệp định đa biên về các biện pháp tự vệ trong
khuôn khổ WTO cũng đã quy định rằng một thành viên có thể áp dụng một
biện pháp tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi thành viên đó đã xác định đợc, theo
những điều khoản trong Hiệp định, là sản phẩm đó đợc nhập vào lãnh thổ
mình khi có sự gia tăng nhập khẩu tơng đối hay tuỵêt đối so với sản phẩm nội
địa, và theo đó có thể gây ra hoặc đe doạ gây ra tổn hại nghiêm trọng cho
ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra sản phẩm tơng tự hoặc các sản phẩm
cạnh tranh trực tiếp. Vậy nội dung của các quy tắc trên đợc hiểu ra sao?
Các quy tắc trên thừa nhận rằng khi thực hiện các cam kết của mình liên
quan đến chính sách tự do hoá thơng mại, một số ngành sản xuất nội địa có thể
gặp phải những khó khăn và phải đối phó lại với những vấn đề cần điều chỉnh
theo sự cạnh tranh tăng lên của hàng hoá nhập khẩu. Việc nhập khẩu hàng hoá
này gia tăng với số lợng tuyệt đối hoặc tơng đối so với ngành hàng sản xuất nội
địa mà họ không thể dự đoán đợc tình huống này vào thời điểm thực hiện các
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
cam kết. Sự gia tăng này tác động đến các ngành sản xuất nội địa, gây thiệt hại
hay đe doạ gây thiệt hại cho ngành chuyên sản xuất những hàng hoá giống với
hàng hoá nhập khẩu về chức năng, công dụng, tính năng kỹ thuật và các thuộc
tính cơ bản khác hoặc có thể là hàng hoá đợc ngời mua chấp nhận thay thế cho
hàng hoá thuộc phạm vi áp dụng các biện pháp tự vệ do u thế về giá và mục đích
sử dụng. Nhằm mục đích thực hiện các cam kết trong khuôn khổ của GATT, các
bên ký kết cũng thừa nhận tầm quan trọng của việc điều chỉnh cơ cấu và sự cần

Lời nói đầu Hiệp định về các biện pháp tự vệ
2
Xem điều V Hiệp định đa biên về hàng nông nghiệp- GATT 1994
3
Xem điều VI Hiệp định đa biên về hàng dệt may- GATT 1994
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
ớc trớc việc tự do hoá thơng mại mà hệ quả là sự xuất hiện của hàng hoá nớc ngoài
trên thị trờng nội địa. Trớc đây, khi vấn đề tự do hoá thơng mại cha đợc đặt ra, các
nớc thờng xuyên sử dụng các công cụ thuế quan và phi thuế quan rất cao để ngăn
chặn thậm chí là triệt tiêu số lợng hàng hoá nhập khẩu. Cùng với tiến trình tự do
hoá thơng mại và dỡ bỏ các rào cản thơng mại thì các biện pháp thuế quan và phi
thuế quan vẫn đợc sử dụng nhng chỉ ở mức độ thấp, hạn chế và tuỳ thuộc vào từng
trờng hợp. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta thờng nhầm lẫn bản chất của các biện pháp
tự vệ với các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp của Chính phủ. So với
biện pháp tự vệ, các biện pháp bảo hộ này có những điểm khác biệt chủ yếu sau
đây:
Thứ nhất, về bản chất và mục đích áp dụng, các biện pháp chống bán phá
giá và chống trợ cấp đều là những biện pháp chống lại các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong thơng mại quốc tế hoặc do bán phá giá (bán hàng hoá
thấp hơn giá trị sản xuất hoặc thấp hơn giá trị thông thờng nhằm xâm nhập thị
trờng một nớc khác, tiến tới triệt tiêu đối thủ cạnh tranh trong thị trờng đó) hoặc
do đợc trợ cấp của Chính phủ (các u đãi về miễn thu, thoái thu hoặc giảm những
khoản thu đáng ra phải đóng hoặc giao vốn trực tiếp). Hành vi bán phá giá là
hành vi cạnh tranh không lành mạnh xuất phát từ phía các doanh nghiệp, còn
hành vi trợ cấp là hành vi xuất phát từ phía Chính Phủ. Các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh này gây ảnh hởng tới hoạt động của các doanh nghiệp, các đối
thủ cạnh tranh khác và xa hơn là ảnh hởng tới ngời tiêu dùng, do vậy các nớc đặt
ra các biện pháp nhằm chống lại các hành vi này. Còn các biện pháp tự vệ đợc
áp dụng nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc trớc sự nhập khẩu hàng hoá quá mức,
không thể lờng trớc vào thị trờng nội địa và đang gây thiệt hại nghiêm trọng

khẩu, theo quy định của WTO, phải tuân thủ nguyên tắc Tối huệ quốc, không phân
biệt nguồn gốc xuất xứ hàng hoá: Nghĩa là một khi đã áp dụng biện pháp tự vệ đối
với loại hàng hoá nhập khẩu từ nớc nào thì cũng phải áp dụng các biện pháp đó cho
loại hàng hoá cùng loại nhập khẩu từ các nớc khác. Sở dĩ có sự khác biệt nh vậy là
vì các biện pháp tự vệ là biện pháp đánh vào hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích
hạn chế chứ không nhằm mục đích trừng phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh
của hàng hoá nhập khẩu.
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
Thứ năm, khác với các biện pháp chống lại hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, nớc áp dụng biện pháp tự vệ phải cam kết đảm bảo đa ra một mức bồi th-
ờng thoả đáng đối với các nớc chịu thiệt hại phát sinh từ hệ quả của việc áp dụng
các biện pháp tự vệ. Khi áp dụng các biện pháp tự vệ, bên áp dụng phải đa ra mức
đền bù thoả đáng trên cơ sở tham vấn, đàm phán với nớc cung ứng hàng hoá và
trong trờng hợp không đạt đợc mức bồi thờng thoả đáng, bên bị ảnh hởng có
quyền yêu cầu cơ quan giải quyết tranh chấp cho phép đợc tiến hành hành động
trả đũa. Vậy trả đũa là gì, nó có phải là các biện pháp tự vệ không? Trả đũa đợc
áp dụng trong trờng hợp nào, việc áp dụng nó sẽ có hệ quả gì, và trả đũa có liên
quan gì đến các cuộc chiến tranh thơng mại?
Biện pháp trả đũa cũng đợc xem là một trong những biện pháp bảo hộ hàng
hoá trong thơng mại quốc tế và là biện pháp tự vệ nếu hiểu theo nghĩa rộng. Còn
nếu xét cụ thể về mặt bản chất, mục đích áp dụng, điều kiện áp dụng hay mức
độ áp dụng thì biện pháp trả đũa và biện pháp tự vệ là hoàn toàn khác nhau. Biện
pháp trả đũa là hệ quả của việc vi phạm các nghĩa vụ trong thơng mại, không chỉ
từ việc các bên không thoả thuận đợc mức bồi thờng khi áp dụng biện pháp tự vệ
mà còn do việc áp dụng các biện áp chống cạnh tranh không lành mạnh không
có căn cứ và bên kia không tuân thủ các khuyến nghị của các cơ quan giải quyết
tranh chấp. Điều này có nghĩa là: chẳng hạn khi một bên vi phạm nghĩa vụ nêu
trong GATT hay các Hiệp định kèm theo, cơ quan giải quyết tranh chấp có thể
cho phép bên bị ảnh hởng nâng thuế suất đánh vào sản phẩm nhập khẩu từ nớc
vi phạm với kim ngạch mua bán của các sản phẩm này sẽ phải tơng đơng với

thần của Điều XIX, đoạn 2, không tham vấn trớc, gây thiệt hại hay đe doạ gây
thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nớc, trên lãnh thổ của một bên
ký kết khác chịu tác động của các biện pháp đó, khi mỗi sự chậm trễ có thể gây
ra thiệt hại khó có thể khắc phục đợc, bên ký kết này có quyền ngừng cho hởng
các nhân nhợng hay ngừng các nghĩa vụ khác trong thời hạn cần thiết để ngăn
ngừa hay khắc phục thiệt hại đó.
Trên thực tế, việc áp dụng các biện pháp trả đũa chỉ thực sự diễn ra giữa các
nớc có nền kinh tế mạnh và tỷ trọng thơng mại lớn. Việc trả đũa nhau giữa các
nớc lớn về kinh tế thực chất là những cuộc chiến thơng mại mà chúng ta thờng
thấy trong thời gian gần đây. Đối với các nớc mà tỷ trọng hàng hoá xuất nhập
khẩu trong thơng mại quốc tế không đáng kể thì việc trả đũa trong thơng mại
quốc tế là không thực tế, không hiệu quả và có thể gây ra những bất lợi trong
quan hệ thơng mại với các nớc có nền kinh tế lớn mạnh hơn.
1.1.2. Lịch sử phát triển của các biện pháp tự vệ trong th ơng mại quốc tế .
1.1.2.1 Theo quy định của GATT 1947.
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
Tự do hoá thơng mại không phải lúc nào cũng diễn ra một cách suôn sẻ,
trên thực tế đã xuất hiện không ít những trở ngại. Việc mở cửa biên giới, nếu nh
nó tạo ra những lợi ích cho ngời tiêu dùng và những nhà sản xuất phải nhập
khẩu nguyên liệu, sản phẩm là đầu vào thì ngợc lại, nó gây ra cho những nhà sản
xuất nội địa những khó khăn nhất định, thị trờng của họ bị đe doạ rơi vào tay các
t bản nớc ngoài. Nh vậy, ở đây diễn ra hai xu hớng một ủng hộ tự do hoá thơng
mại, một tìm cách hạn chế. Quốc gia là chủ thể điều hoà những lợi ích đối lập
trên khi hoạch định và xây dựng chính sách thơng mại của mình
1
.
T tởng tự do hoá thơng mại kết hợp với việc cơ cấu lại ngành sản xuất nội
địa bằng cách giúp đỡ các ngành công nghiệp bị ảnh hởng từ việc cạnh tranh
thay đổi hớng đi thích hợp từ đó có thể tận dụng những u thế của cạnh tranh và
giải quyết đợc những vấn đề khác trong đó có vấn đề việc làm. Việc chuyển đổi

Tuy nhiên , GATT 1947 mới chỉ là bớc mở đầu cho quan hệ giao thơng đợc
tự do phát triển. Cùng với quá trình phát triển chung của thơng mại toàn cầu nó
đã dần bộc lộ những hạn chế nhất định làm cơ sở cho một số Quốc gia lợi dụng
để từ bỏ các nghĩa vụ trong các cam kết của họ:
Thứ nhất GATT 1947 chỉ có duy nhất điều XIX quy định về tự vệ trong việc
nhập khẩu hàng hoá và do thiếu các quy định giải thích nên các thuật ngữ đợc sử
dụng trong GATT 1947 nh sự gia tăng quá mức và không thể lờng trớc đợc,
thiệt hại nghiêm trọng, ngành sản xuất trong nớc vv đợc sử dụng một cách
tuỳ tiện bởi các nớc nhập khẩu. Những đánh giá của các nớc này thờng mang
tính chủ quan.
Thứ hai, các điều khoản miễn trừ nghĩa vụ đợc bên nhập khẩu áp dụng một
cách đơn phơng mà không cân nhắc đến quyền lợi của các bên xuất khẩu do
không có quy định về thủ tục kiểm tra và giám sát việc thực hiện các biện pháp
tự vệ. Hơn nữa, các biện pháp tự vệ đợc áp dụng không hạn chế về thời gian nên
hệ quả là đợc sử dụng một cách thờng xuyên và liên tục.
Thứ ba, việc thực thi quy chế Tối huệ quốc không mang ý nghĩa tích cực do
bên nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ vùng xám hay còn gọi là biện pháp
hạn chế xuất khẩu tự nguyện dẫn đến việc đối xử không công bằng trong quan
hệ thơng mại giữa các Quốc gia. Điều này đi ngợc lại nguyên tắc cơ bản trong
hoạt động của WTO nói chung và GATT nói riêng.
Sự tồn tại của các hạn chế nói trên dẫn đến hệ quả là thơng mại bị cản trở, các
nớc sử dụng tối đa quy định về tự vệ trong thời gian không hạn chế. Theo thống
kê của cơ quan giải quyết tranh chấp thì cho đến trớc khi diễn ra vòng đàm phán
uruguay đã có hơn 150 vụ tranh chấp
1
liên quan đến việc vận dụng điều XIX của
GATT 1947. Tại vòng đàm phán Tokyo trớc đó, các quốc gia cũng đã thất bại khi
1
Xem Patrick Juillard & Dominique carreau, Manuel Droit international économique, Bản tiếng pháp, NXB Paris 1998
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo

Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
tham vấn các bên có liên quan để các bên này có quyền trình bày ý kiến, quan
điểm và đa ra chứng cứ bảo vệ quyền lợi của mình.
Thứ t, trong trờng hợp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại thì nớc nhập khẩu có
thể áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời trong một thời hạn hợp lý với điều kiện
các biện pháp điều tra vẫn đợc tiến hành sau đó.
Thứ năm, thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ không kéo dài nh trớc đây
mà giới hạn trong khoảng thời gian tối đa là 8 năm.
Thứ sáu, GATT 1947 cho phép tự do áp dụng các biện pháp thuế quan và
phi thuế quan trong khi GATT 1994 khuyến khích áp dụng các biện pháp thuế
quan và tiến tới hạn chế việc áp dụng biện pháp phi thuế quan.
1.1.3. Vai trò của các biện pháp tự vệ trong th ơng mại quốc tế.
Thứ nhất, các biện pháp tự vệ nhằm giảm nhẹ hay trợ giúp khắc phục thiệt
hại gây ra do việc nhập khẩu hàng hoá tăng một cách bất thờng, không thể lờng
trớc vào thị trờng nội địa.
Khi thực hiện các cam kết về tự do hoá thơng mại, các nớc phải chấp nhận
từ bỏ sự bảo hộ của mình đối với các mặt hàng sản xuất trong nớc và chấp nhận
rằng hàng hoá nhập khẩu từ nớc ngoài vào sẽ đợc hởng các lợi ích tơng tự và
bình đẳng nh hàng hoá trong nớc theo nguyên tắc đối xử Quốc gia. Tuy nhiên,
trong các quy định của WTO còn có những ngoại lệ nhất định nhằm đảm bảo
quyền lợi của các thành viên trong những trờng hợp khẩn cấp nh cho phép các
bên tham gia ký kết sử dụng các biện pháp tự vệ trong một khoảng thời gian hạn
chế nhất định không nhằm mục đích bảo hộ lâu dài cho sản xuất nội địa mà chỉ
để khắc phục hay giảm nhẹ những thiệt hại cho các doanh nghiệp trong nớc trớc
tình huống bất thờng từ việc hàng hoá nớc ngoài nhập khẩu không hạn chế về số
lợng vào thị trờng nội địa của họ. Các biện pháp tự vệ sẽ chấm dứt khi mối nguy
hiểm trong tình huống đặc biệt không còn nữa.
Thứ hai, các biện pháp tự vệ góp phần tăng cờng, khuyến khích tính cạnh
tranh thông qua việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất chứ không phải vì mục đích -
u đãi, bảo hộ ngành sản xuất trong nớc hay hạn chế sự cạnh tranh của hàng

nhằm bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nớc. Các biện pháp bảo hộ đợc sử dụng
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
phổ biến bao gồm: các biện pháp thuế quan, các biện pháp phi thuế quan (hạn
ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu, cấm xuất nhập khẩu, hạn chế xuất nhập khẩu
tự nguyện), và các biện pháp kỹ thuật khác.
Cùng với tiến trình tự do hoá thơng mại trên thế giới mà các hàng rào này
đã dần dần bị dỡ bỏ. Các quy định của Hiệp định về các biện pháp tự vệ cho
phép các quốc gia sử dụng biện pháp thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ sản
xuất trong nớc. Theo đó, các quốc gia sẽ lựa chọn, hoặc là tăng mức thuế đã cam
kết vợt lên trên mức thuế trần hay áp dụng các hạn chế định lợng nh quota. Khác
với biện pháp chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ đợc sử
dụng thuế quan bổ sung, các biện pháp tự vệ cho phép sử dụng các hạn chế định
lợng. Các nớc khi sử dụng các biện pháp tự vệ thì không đợc sử dụng các biện
pháp khác nh hạn chế xuất khẩu tự nguyện hay các công cụ của hàng rào kỹ
thuật Các quốc gia cũng có thể sử dụng biện pháp tự vệ tạm thời với điều kiện
phải tuân thủ các điều kiện của Hiệp định.
0Biện pháp thuế quan.
Các biện pháp bảo hộ hàng hoá trong thơng mại quốc tế đợc phép duy trì
với hai điều kiện: chỉ ở mức độ hợp lý và chỉ thông qua thuế quan. Đây là một
trong bốn quy tắc cơ bản của GATT và WTO. Vậy thuế quan là gì và vì sao chỉ
bảo hộ thông qua thuế quan mà không tính đến các công cụ bảo hộ khác?
Thuế quan hay còn gọi là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế quá cảnh
đợc đánh tuỳ theo đối tợng bị thu thuế. Về bản chất thì đây là loại thuế gián thu
đánh vào hàng hoá khi chúng di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ
hải quan khác.Thuế quan là công cụ đảm bảo tính minh bạch và dễ dự đoán, đợc
thể hiện bằng những con số rõ ràng. Do vậy ngời ta có thể dễ dàng thấy đợc mức
độ bảo hộ dành cho một ngành sản xuất. Thuế quan cao tức là mức độ bảo hộ
cao và nh vậy sẽ dẫn đến hệ quả là hàng hoá nớc ngoài khó xâm nhập đợc vào
thị trờng. Ngợc lại, thuế quan thấp có nghĩa là mức độ bảo hộ thấp, điều này có
thể hiểu rằng các ngành hàng của nớc đó có đợc một sự ổn định nhất định khi

kết của từng nớc. Chẳng hạn nh mức thuế mà các nớc dành cho nhau theo quy
chế Tối huệ quốc, mức thuế mà các nớc phát triển dành u đãi phổ cập cho các n-
ớc đang phát triển hay cũng có trờng hợp không đánh thuế đối với hàng hoá có
xuất xứ từ lãnh thổ của các nớc thành viên trong cùng khối liên minh kinh tế hay
khu vực mậu dịch tự do. Hiện nay, theo yêu cầu chung của WTO, các Quốc gia
thành viên đều có xu hớng và buộc phải cắt giảm thuế đến một mức tối thiểu,
Khoá luận tốt nghiệp Vũ Thị Phơng Thảo
thậm chí là triệt tiêu hẳn thuế quan tạo điều kiện cho hàng hoá có thể lu thông
một cách tự do mà không bị hạn chế. Các nớc đều có một lộ trình cắt giảm để
thực hiện nghĩa vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Hệ quả của việc cắt
giảm thuế quan này là hàng hoá nớc ngoài đợc nhập khẩu tự do và không bị hạn
chế gây ra bất lợi cho hàng hoá sản xuất trong nớc. Trong trờng hợp nh vậy các
nớc đợc phép sử dụng biện pháp thuế quan bằng cách tăng thuế nhập khẩu nhằm
mục đích tự vệ. Mức thuế gia tăng trong trờng hợp này phải hợp lý, có tính đến
việc không gây cản trở hơn cho hoạt động thơng mại giữa các nớc, chỉ đợc duy
trì mức tăng này trong một thời gian hợp lý và dần phải đợc dỡ bỏ. Hiệp định về
các biện pháp tự vệ thừa nhận rằng các nớc nhập khẩu có quyền lựa chọn một
trong hai biện pháp hoặc là biện pháp thuế quan hoặc là biện pháp phi thuế
quan, trên cơ sở u tiên sử dụng biện pháp thuế quan.
1Biện pháp phi thuế quan .
Các quy tắc của Hiệp định về các biện pháp tự vệ và Pháp lệnh về tự vệ
trong nhập khẩu hàng hoá nớc ngoài vào Việt Nam năm 2002 đề cập đến hai
biện pháp chủ yếu là biện pháp thuế quan và biện pháp hạn chế số lợng. Các
biện pháp hạn chế số lợng vốn dĩ là các biện pháp mang tính chất hành chính
pháp lý (khác với thuế quan là biện pháp kinh tế pháp lý)
1
. Biện pháp này ít khi
đợc sử dụng và cũng chỉ đợc sử dụng khi mà biện pháp thuế quan trở nên kém
tác dụng do lợng hàng hoá nhập khẩu vẫn tăng, không hề giảm xuống đáng kể,
do vậy nguy cơ gây hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa vẫn còn. Biện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status