Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với việt nam - Pdf 10

84

Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của một số nước
trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Ngô Thị Út Quyên Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Chuyên ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. GVC. Nguyễn Lan Nguyên
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá các quy định pháp luật quốc tế và quốc gia về bảo vệ
người tiêu dùng. Nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số
quốc gia trên thế giới, đồng thời rút ra kinh nghiệm và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật
Việt Nam về vấn đề này. Đề xuất cơ chế thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Keywords: Luật kinh tế; Luật Quốc tế; Người tiêu dùng; Việt Nam; Bảo vệ quyền lợi

Content.

MỞ ĐẦU
Quan hệ kinh tế chủ yếu trong xã hội, bên cạnh quan hệ giữa các nhà sản xuất với nhau, là quan hệ
giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, là lực lượng hết sức đông đảo. Nhưng vì chưa nhận thức đầy đủ các
quyền và trách nhiệm của mình, không có đầy đủ kiến thức về mọi mặt và thường hành động riêng lẻ nên
trong mối quan hệ giữa họ và nhà sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng thường đứng ở thế yếu và chịu nhiều

- Yêu cầu các quy định của pháp luật quốc gia phải phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế.
Chính vì những nguyên nhân trên mà việc nghiên cứu pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là một vấn đề
cấp thiết.
1.2. Điểm mới của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam và thực thi có hiệu quả các quy định đó. Do đó, luận
văn có những đóng góp khoa học mới sau:
- Tổng hợp những nội dung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Liên hợp quốc và các quốc gia
trên toàn thế giới.
- Chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của các quy định của các nước trên thế giới về bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng, từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định
pháp luật về vấn đề này.
- Chỉ ra được những hạn chế của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trên cơ sở
nghiên cứu một số vụ việc điểm hình gây ra nhiều bức xúc trong thời gian qua.
- Đề xuất hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cơ chế thực
86

thi có hiệu quả.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiêm cứu trên thế giới
Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng hay trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp luôn được coi là vấn đề
quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Hầu như năm nào, các bài nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng liên quan đến trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp cũng được đăng tải. Trong số đó,
nhiều bài nghiên cứu đề cập tới chế độ trách nhiệm sản phẩm ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Hoa
Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản. Sau đây là một số bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này:
- Bài viết “The Japanese Products Liability Law (Pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản)” của
Jason F.Cohen (nghiên cứu sinh Đại học Fordham – Hoa Kỳ) đăng trên tạp chí “Fordham International Law
Journal, November 1997” đã làm rõ cơ sở chính sách và những đặc điểm cơ bản của chế độ trách nhiệm sản
phẩm ở Nhật Bản.
- Bài viết “The future of products liability in America (Tương lai của pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở

quyền lợi của người tiêu dùng năm 1999, Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 thay thế Pháp lệnh bảo vệ
người tiêu dùng năm 1999 và nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật dân sự 2005, Pháp lệnh chất
lượng hàng hoá 1999 (được thay thế bàng Luật chất lượng sảm phẩm hàng hoá 2007), Luật cạnh tranh 2004,
Luật thương mại 2005, Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành….
Bên cạnh đó, phải kể tới là các bài viết trên nhiều tạp chí chuyên nghành luật như Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tạp chí Luật học, tuy nhiên số lượng vẫn
còn chưa nhiều.
Không những thế, liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp
đã phối hợp với Dự án Hỗ trợ cải cách pháp luật của Canada tại Việt Nam (dự án Lerap) tổ chức Hội thảo “Cơ
chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng: thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” (tổ chức tại Khách sạn Melia
trong 03 ngày từ ngày 14/8/2007 đến ngày 16/8/2007) với sự tham gia của gần 70 đại biểu là đại diện các cơ
quan bảo vệ người tiêu dùng (Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Thương mại, Cục quản lý thị trường – Bộ Thương
mại, Cục an toàn vệ sinh thực phẩm – Bộ Y tế…), đại diện Bộ Tư pháp, Tòa Dân sự - Tòa án nhân dân Tối
cao, Tòa Dân sự - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, đại diện Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng
Việt Nam, đại diện Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng một số tỉnh, thành phố, các chuyên gia pháp lý,
đại diện phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đại diện một số hiệp hội doanh nghiệp, đại diện của
một số doanh nghiệp, các cơ quan truyền thông, báo chí, một số chuyên gia của Canada. Với hơn 10 bài tham
luận tại Hội thảo, các đại biểu đã nêu rõ những khoảng trống pháp lý trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở
Việt Nam hiện nay, trong đó có khoảng trống về chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp. Nhiều ý
kiến tham luận tại Hội thảo đã đề xuất việc hoàn thiện chế định trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó, năm 2010, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp đã xây dựng Đề tài nghiên cứu “Trách nhiệm
sản phẩm của doanh nghiệp – công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng”. Có thể nói đây là một Đề tài nghiên
cứu tiếp cận rất sâu về bản chất, đặc điểm của chế định trách nhiệm sản phẩm. Đề tài đã luận giải mô hình chế
định trách nhiệm sản phẩm của doanh ghiệp và từ đó có các đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tiêu
dùng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, kể từ khi Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 (có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 07 năm
2011) ra đời, mặc dù đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ người tiêu dùng được tốt hơn so với
88

trước đây, nhưng tình trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng, khó khăn trong việc áp dụng luật vẫn là

- Đưa ra các khuyến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện cũng như việc thực thi các quy định pháp luật về
bảo vệ người tiêu dùng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
89

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp luận biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước và pháp luật.
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: trong luận văn này tác giả tìm hiểu nghiên cứu các quy định của pháp
luật một số quốc gia trên thế giới về bảo vệ người tiêu dùng. Từ đó có sự so sánh, đối chiếu với nhau để tìm ra
các quy định mới và phát triển.
- Phương pháp phân tích các quy phạm của pháp luật quốc tế cũng như các quốc gia khác về bảo vệ
người tiêu dùng.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo. Luận văn được triển khai theo 3 chương:
Chương 1. Cơ sở pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Chương 2. Các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số quốc gia trên thế giới
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng ở Việt Nam

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG
Trong chương này tác giả nghiên cứu hai mục lớn đó là: 1.1. Các quy định của Liên hợp quốc về bảo
vệ người tiêu dùng và 1.2. Tổ chức quốc tế người tiêu dùng (Consumers International – CI).
Tại mục 1.1. Các quy định của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng được quy định trong Bản
hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng của Liên hợp quốc năm 1999. Đây là một tài liệu cơ bản và toàn diện về
bảo vệ người tiêu dùng. Bản hướng dẫn này giúp ích cho các chính phủ, đặc biệt là các nước đang phát triển,
trong việc hoạch định các chính sách và luật pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bản hướng dẫn đã được
gửi cho các chính phủ thành viên Liên hợp quốc, trong đó có chính phủ Việt Nam. Theo đó, nội dung cơ bản

mình đối với “Các nguyên tắc và quy tắc công bằng, nhất trí của nhiều bên và các điều lệ về kiểm soát các thủ đoạn
hạn chế buôn bán” do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua trong Nghị quyết 35/63 ngày 5 tháng 12 năm 1980.
Bản hướng dẫn cũng yêu cầu các nước cần phê chuẩn hoặc duy trì các chính sách làm rõ trách nhiệm của nhà sản
xuất phải đảm bảo hàng hóa đáp ứng được nhu cầu hợp lý về độ bền, công dụng và độ tin cậy, phù hợp với mục đích
sử dụng, và người bán phải biết được những yêu cầu này đã được đáp ứng hay chưa. Về vấn đề hợp đồng giao kết
giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, Bản hướng dẫn cũng yêu cầu có các quy định để bảo vệ người tiêu dùng tránh
những gian lận trong hợp đồng, như hợp đồng do một bên quy định tiêu chuẩn, hợp đồng bỏ ra ngoài những quyền
cơ bản và những điều kiện giao nhận không sòng phẳng của người bán. Việc xúc tiến thương mại và việc thực hiện
buôn bán phải tuân theo các nguyên tắc đối xử công bằng với người tiêu dùng và hợp pháp.
+ Các tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng của sản phẩm và dịch vụ. Để đảm bảo cho sản phẩm và dịch
vụ được lưu thông trên thị trường cũng như xuất khẩu vào các nước được thuận lợi thì tùy từng vào điều kiện
của mỗi nước cần xây dựng hoặc xúc tiến việc soạn thảo và thực hiện các tiêu chuẩn theo hình thức tự nguyện
hoặc các hình thức khác, ở cấp độ quốc gia và quốc tế về an toàn và chất lượng của hàng hóa và dịch vụ, và
phải công bố công khai những tiêu chuẩn đó. Những quy định và tiêu chuẩn quốc gia về an toàn và chất lượng
sản phẩm này cần phải được thường xuyên xem xét để khi có điều kiện, đảm bảo cho những quy định và tiêu
91

chuẩn đó phù hợp với những tiêu chuẩn chung đã được quốc tế công nhận. Đối với những nước do điều kiện
kinh tế mà phải áp dụng những tiêu chuẩn thấp hơn những tiêu chuẩn phổ biến được quốc tế công nhận, thì
phải cố gắng nâng cao những tiêu chuẩn đó càng sớm càng tốt. Bên cạnh đó, để đảm bảo an toàn và chất
lượng của sản phẩm và dịch vụ các nước cần khuyến khích và đảm bảo các phương tiện để kiểm nghiệm và
xác nhận độ an toàn, chất lượng của hàng hóa và dịch vụ thiết yếu của người tiêu dùng.
+ Các phương tiện phân phối hàng tiêu dùng thiết yếu. khi tiến hành phân phối hàng tiêu dùng thiết yếu,
các nước cũng chú ý xem xét hai vấn đề sau: Thứ nhất, phê chuẩn hoặc duy trì các chính sách để đảm bảo sự phân
phối hiệu quả hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng; ở nơi thích hợp, cần xem xét các chính sách đặc biệt để
đảm bảo việc phân phối những hàng hóa và dịch vụ thiết yếu ở những nơi việc phân phối gặp khó khăn, đặc biệt
đối với các khu vực nông thôn. Thứ hai, khuyến khích việc thành lập các hợp tác xã tiêu thụ và các hoạt động
thương mại có liên quan, cũng như thông tin về các hoạt động đó, đặc biệt ở các vùng nông thôn.
+ Các biện pháp giúp người tiêu dùng được bồi thường. Bản hướng dẫn yêu cầu các nước cần thiết lập hoặc
duy trì những biện pháp hành chính và/hoặc pháp chế để giúp người tiêu dùng hoặc, nếu phù hợp, các tổ chức liên

hành động để đảm bảo rằng chất lượng sản phẩm và những thông tin liên quan tới các sản phẩm đó không
thay đổi trong các nước trên thế giới để có thể gây tác hại cho người tiêu dùng.
Tại mục 1.2. Tổ chức quốc tế người tiêu dùng (Consumers International – CI) bao gồm hai nội dung
đó là: tìm hiểu lịch sử hình thành và các lĩnh vực hoạt động chủ yếu.
Về lịch sử hình thành Tổ chức quốc tế người tiêu dùng bắt đầu từ những năm 1950 khi một số nước
phát triển thành lập các hội người tiêu dùng và đặc biệt là từ năm 1960, khi một tổ chức người tiêu dùng có
tầm hoạt động quốc tế được thành lập. Tên gọi ban đầu là Liên hiệp các tổ chức người tiêu dùng quốc tế
(International Organisation of Consumer Unions – gọi tắt là IOCU). Năm 1994, Đại hội thể giới Quốc tế
người tiêu dùng họp ở Montpellier (Pháp) quyết định đổi tên tổ chức thành Quốc tế người tiêu dùng
(Consumers International, gọi tắt là CI).
Về những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Tổ chức quốc tế người tiêu dùng bao gồm:
- Công tác tiêu chuẩn hóa. Ủy ban tư vấn về chính sách đối với người tiêu dùng bên cạnh Tổ chức
Tiêu chuấn hóa quốc tế (ISO) COPOLCO đã hoạt động trong nhiếu năm, góp phần đưa lợi ích người tiều
dùng vào các chính sách tiêu chuẩn hóa của ISO, tham gia các cuộc họp về tiêu chuẩn. Trong 20 năm, CI đã
có ảnh hưởng chủ yếu trong các tiêu chuẩn về an toàn cho xe ô tô cho thấy các nhà chế tạo ô tô đã có nhiều
cải tiến làm cho ô tô được an toàn hơn. Quốc tế người tiêu dùng đại diện cho người tiêu dùng trong nhiều ủy
ban tiêu chuẩn hóa quốc tế như Tổ chức Tiêu chuấn hóa quốc tế ISO, Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Ủy
ban Tiêu chuẩn hóa thực phẩm (CODEX)…
- Chính sách về lương thực, thực phẩm. CI đã hoạt động tích cực cho việc dán nhãn sản phẩm lương
thực, thực phẩm nhằm cung cấp những thông tin đầy đủ và trung thực cho người tiêu dùng. CI cũng thành
công trong việc không cho phép quy định mức độ dư lượng tối đa của một số chất độc, gây ô nhiễm thực
phẩm như dư lượng thuốc trừ dịch hại, thuốc thú y được phép có trong thực phẩm vì điều này sẽ gây nên
những tác hại lớn cho sức khỏe người tiêu dùng. CI đã cố gắng đề nghị các Ủy ban Codex quốc gia phải có
đại diện của người tiêu dùng. Đại diện của người tiêu dùng ngày nay được coi như một khâu thiết yêu không
thể thiếu trong việc soạn thảo và ban hành các tiêu chuẩn về thực phẩm. Đề nghị Liên hợp quốc ban hành một
danh mục các sản phẩm bị cấm.
- Xây dựng luật bảo vệ người tiêu dùng mẫu. Dùng Bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng của Liên
93

hợp quốc làm điểm xuất phát, Quốc tế người tiêu dùng đã phát triển một bản luật bảo vệ người tiêu dùng mẫu

tập huấn để người tiêu dùng có thể tham gia vào việc hoạch định chính sách và giám sát việc điều hành các
dịch vụ cơ bản, nhờ đó mà nâng cao được chất lượng, hạ giá cung ứng dịch vụ công cộng, làm cho việc cung
ứng được minh bạch và trung thực hơn.
94

- Trách nhiệm xã hội của nhà sản xuất, kinh doanh. Điều lệ của Quốc tế người tiêu dùng trong mục nói
về Thương mại toàn cầu đã nêu lên những vấn đề đối với nhà kinh doanh như đạo đức trong cư xử, cạnh
tranh, tiêu chuẩn sản phẩm, tiếp thị, ghi nhãn và cung cấp thông tin, bồi thường cho người tiêu dùng… Những
khuyến nghị về đầu tư trực tiếp của nước ngoài cũng được nêu lên một cách chi tiết trong bản báo cáo thường
niên năm 1997 có tiêu đề: “Người tiêu dùng mong muốn gì ở các quy định quốc tế về đầu tư trực tiếp” Quốc
tế người tiêu dùng đã phát triển nhiều chương trình huấn luyện, giúp đỡ về tài chính, kỹ thuật, thông tin, trao
đổi các chương trình và liên kết hành động, nhằm nâng cao hiểu biết và kỹ năng hoạt động của các nước thành
viên.
Như vậy, cùng với việc phát triển về kinh tế, vấn đề người tiêu dùng hiện nay không còn chỉ giới hạn
trong phạm vi một quốc gia mà đã trở thành vấn đề quan tâm của toàn thế giới. Ở nhiều nước, có những nhóm
người tiêu dùng hoạt động theo từng lĩnh vực. Quốc tế người tiêu dùng hiện nay là một tổ chức của người tiêu
dùng lớn nhất thế giới, hoạt động toàn diện, vì lợi ích của người tiêu dùng. Quốc tế người tiêu dùng đặc biệt
quan tâm đến người tiêu dùng nghèo, người tiêu dùng còn chịu thiệt thòi và người tiêu dùng ở các nước đang
phát triển trong đó có Việt Nam.

Chƣơng 2
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG CỦA
MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Trong chương này tác giả nghiên cứu bốn mục lớn bao gồm: 2.1. Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của
Hoa Kỳ; 2.2. Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Công đồng Châu Âu; 2.3. Pháp luật bảo vệ người tiêu
dùng của một số nước Châu Á; 2.4. Một số kinh nghiệm rút ra từ việc nghiện cứu pháp luật của một số quốc gia trên
thế giới về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Tại mục 2.1. Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Hoa Kỳ, tác giả tập trung nghiên cứu các
quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật của Hoa Kỳ bao gồm các nội dung: về khuyết tật

Qua nghiên cứu cho ta thấy:
- Cộng đồng Châu Âu đã chú ý đến việc điều chỉnh vấn đề trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất từ
khá sớm. Chỉ thị về trách nhiệm sản phẩm năm 1985 là Chỉ thị quan trọng nhất của Cộng đồng Châu Âu. Chỉ
thị đã tạo ra một quan niệm, một nhận thức mới về trách nhiệm sản phẩm. Như đã trình bày ở phần trên, Chỉ
thị này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Chỉ thị số 1999/34/EC với những nội dung mới, tiến bộ hơn. Có thể thấy,
việc quan tâm đến vấn đề điều chỉnh trách nhiệm sản phẩm đã giúp cho Cộng đồng Châu Âu tạo ra một môi
trường kinh doanh có tính trách nhiệm cao, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đúng kịp thời, hiệu quả. Hơn
nữa, với việc ban hành các quy phạm liên quan đến trách nhiệm sản phẩm ngay từ đầu thì sẽ mang lại một
hiệu quả tích cực đối với quá trình sửa đổi, bổ sung, cập nhật theo những yêu cầu mà thực tiễn áp dụng vào
Chỉ thị đặt ra.
- Các quy định của Công đồng Châu Âu về trách nhiệm sản phẩm khá đồng nhất và phù hợp, được các
nước thành viên nội luật hóa khá đầy đủ, góp phần tạo ra những sự thay đổi lớn và hài hòa hóa trong pháp luật
các nước thành viên về trách nhiệm sản phẩm. Các quy định của Cộng đồng Châu Âu được ban hành trong
Chỉ thị mang tính mềm dẻo, có khả năng xác định những định hướng cho các nước thành viên trong quá trình
xây dựng pháp luật quốc gia mình. Chính ưu điểm này đã làm cho hệ thống pháp luật của Cộng đồng Châu Âu
96

trở thành một hình mẫu đáng chú ý trong việc điều chỉnh quan hệ trách nhiệm sản phẩm.
- Các quy định của Cộng đồng Châu Âu về trách nhiệm sản phẩm khá cụ thể, rõ ràng. Cụ thể, những
nội dung quan trọng nhất trong chế định này như phạm vi chủ thể, khái niệm sản phẩm, vấn đề thời hạn, thời
hiệu được quy định khá chi tiết. Quan trọng hơn, các Chỉ thị của Cộng đồng Châu Âu đã có những phần
chung, rất mở để tạo điều kiện cho các nước thành viên quy định chi tiết như vấn đề mức bồi thường thiệt hại.
Do vậy, pháp luật của Cộng đồng Châu Âu vừa cụ thể, vừa linh hoạt phù hợp với những đặc điểm trong hoạt
động lập pháp của Cộng đồng Châu Âu. Đáng chú ý, các quy định pháp luật của Cộng đồng Châu Âu về giải
quyết tranh chấp liên quan đến trách nhiệm sản phẩm khá cụ thể và chi tiết. Quy định này tạo điều kiện cho
các nước thành viên giải quyết các vấn đề xung đột pháp luật, đồng thời tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại dễ
dàng khởi kiện theo pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất. Chính vì lý do này, pháp luật về bảo
vệ người tiêu dùng, trong đó có pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Cộng đồng Châu Âu được coi là nghiêm
khắc và có khả năng thực thi nhất và hệ quả của nó là người tiêu dùng Châu Âu được bảo vệ rất hiệu quả.
- Pháp luật Cộng đồng Châu Âu về trách nhiệm sản phẩm đã đạt được thành công trong việc bảo vệ

Kỳ là quốc gia có tính tiên phong trong việc hoàn thiện quy định này theo hướng cho phép quy kết trách
nhiệm đối với nhà sản xuất ngay cả khi nhà sản xuất không có lỗi trong việc gây ra khuyết tật của sản phẩm.
Việc quy định như thế đã nhanh chóng tạo cảm hứng cho các nhà lập pháp, người tiêu dùng, các Hội bảo vệ
người tiêu dùng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, lỗ lực của luật hóa các quy định này đối với nhà sản
xuất không hề đơn giản. Ở Châu Âu cũng phải mất khá nhiều thời gian, các quốc gia thành viên Cộng đồng
Châu Âu mới đạt được sự đồng thuận về sự cần thiết áp dụng quy tắc này trong thực tiễn pháp lý của mình. Sự
kiện đánh dấu là vào năm 1985, Cộng đồng Châu Âu đã ban hành được Chỉ thị 85/374/EEC và năm 1999 là
Chỉ thị 1999/34/EC.
- Nhìn chung các quốc gia xây dựng các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng không chỉ trong
một đạo luật riêng về bảo vệ người tiêu dùng mà còn ở Luật về trách nhiệm sản phẩm và các văn bản pháp
luật khác về như: vệ sinh an toàn sản phẩm, môi trường….
- Sự lựa chọn của các quốc gia và khu vực trong quá trình xây dựng và phát triển luôn chịu sự tác động
của các yếu tố kinh tế, địa lý hoặc các truyền thống pháp luật khác trên thế giới, thể hiện:
+ Sự chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội, địa lý: Pháp luật một mặt, luôn gắn liền với sự
phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội; mặt khác luôn phải đáp ứng nhu cầu của xã hội. Bởi vậy, pháp luật về
bảo vệ người tiêu dùng không nằm ngoài quy luật đó. Có thể dẫn chứng ra một số trường hợp như: Luật bảo
vệ người tiêu dùng của Indonesia được ban hành sau 20 năm tranh luận, như một phần của gói cải cách kinh tế
trong thỏa thuận với Quỹ tiền tệ quốc tế. Các Chỉ thị của EU về trách nhiệm sản phẩm để bảo vệ người tiêu
dùng đã được ban hành xuất phát từ nhu cầu hài hòa hóa các quy định của các thành viên Liên minh này; ….
+ Ảnh hưởng của các hệ thống pháp luật khác. Có thể thấy pháp luật về trách nhiệm sản phẩm – công
cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng của Hoa Kỳ đã ảnh hưởng sâu sắc và lan rộng ra các khu vực và quốc gia
khác trên thế giới. Quy định này được hình thành và phổ biến trước tiên ở Hoa Kỳ sau dó được chấp nhận
rộng rãi ở các quốc gia công nghiệp phát triển khác như các quốc gia Châu Âu và Nhật Bản. Hiện nay, quy
định này cũng được quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia đang phát triển trong đó có các quốc gia
thuộc khổi ASEAN như: Indonesia, Malaysia và Philipines. Mô hình xây dựng các quy định này dựa trên một
giả định về thực tế là người tiêu dùng luôn ở vị trí yếu thế so với nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm trong việc
phòng ngừa, khắc phục, gánh chịu những rủi ro phát sinh từ quá trình tiêu dùng sản phẩm khi những rủi ro đó
98

có nguyên nhân trực tiếp từ tình trạng khuyết tật trong sản phẩm được tiêu dùng.

- Quy định của Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 chưa có những chế tài đặc thù, đủ sức răn
đe để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật;
- Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong công tác bảo vệ người tiêu dùng chưa được
99

quy định một cách rõ ràng;
- Chưa có cơ chế hữu hiệu để các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng hoạt động một cách hiệu quả.
Thứ hai, tình hình thực thi các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tác giả tập
trung nghiên cứu: báo cáo Khảo sát Thực trạng xâm phạm quyền lợi Người tiêu dùng và thực tiễn bảo vệ
Người tiêu dùng ở Việt Nam do Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) và Dự án MUTRAP III thực hiện
quyền lợi người tiêu dùng trong các lĩnh vực được khảo sát, các hành vi vi phạm chủ yếu là vi phạm quy định
về chất lượng, về ghi nhãn hàng hoá, về đo lường và hành vi kinh doanh hàng hoá; báo cáo của văn phòng
phía Nam của VINATAS tại thành phố Hồ Chí Minh về số liệu các khiếu nại của người tiều dùng trong 3 năm
2007, 2008 và 2009; kết quả điều tra xã hội học năm 2010 của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp về khiếu
kiện của người tiêu dùng và một số vụ việc điển hình đã xảy ra trên thực tế. Như vậy, vấn đề bảo vệ người
tiêu dùng trước khi Nhà nước ta ban hành Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 đã bộc lộ nhiều hạn chế,
khiến cho việc thực thi cũng như vấn đề đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng còn nhiều vướng mắc. Hiện
trạng trên đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có việc hoàn thiện
pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Về thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam sau khi ban hành Luật bảo vệ
người tiêu dùng năm 2010 bao gồm hai nội dung:
Một là, thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong phần
này tác giả nghiên cứu hai nội dung đó là: những điểm mới của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
của Việt Nam và những hạn chế của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam hiện nay.
Trong đó, đề cập đến một số điểm mới của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2011 như:
- Quy định về vấn đề bảo vệ thông tin của người tiêu dùng. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
2010 đã đưa nguyên tắc bảo vệ thông tin của người tiêu dùng thành một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật,
trong đó khẳng định: Người tiêu dùng được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch, sử
dụng hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. Trường hợp thu thập, sử dụng,
chuyển giao thông tin của người tiêu dùng thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm: thông

tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành đối với hàng hóa do mình cung cấp,
trong thời gian bảo hành phải cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa tương tự để sử dụng tạm thời hoặc có
hình thức giải quyết khác được người tiêu dùng chấp nhận, phải chịu chi phí về sửa chữa và vận chuyển hàng
hóa, linh kiện được bảo hành… Đối với hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thông báo
công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, tiến hành thu hồi và báo kết quả với cơ quan quản lý nhà
nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Về vai trò của tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Luật cũng đã có thêm những
quy định mới nâng cao vai trò của tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, góp phần xã hội hóa công tác bảo vệ người
tiêu dùng như: quy định quyền tự khởi kiện vì lợi ích công cộng của tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Vấn đề giải quyết tranh chấp tại tòa án giữa người tiêu dùng và các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ theo thủ tục đơn giản. Luật đã có quy định rất tiến bộ, đặc biệt phương thức giải quyết tranh chấp
tại tòa án. Theo đó, tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong trường hợp vụ án dân sự đơn giản, cá nhân là người tiêu dùng khởi kiện; tổ chức, cá nhân trực tiếp
cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng bị khởi kiện; vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng; giá trị giao
dịch dưới 100 triệu đồng. Quy định này giúp cho những tranh chấp nhỏ, đơn giản được giải quyết nhanh
101

chóng, thuận tiện cho người tiêu dùng.
- Bổ sung phương thức thương lượng để giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Theo đó, người tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ để thương lượng khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hành thương lượng với người tiêu
dùng trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Pháp luật không can thiệp vào việc lựa chọn sử dụng phương thức này cũng như quá trình thương
lượng và thi hành kết quả thương lượng thành của các bên. Tuy nhiên, Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010
quy định không được thương lượng, hoà giải trong trường hợp tranh chấp gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà
nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng
- Về việc miễn nghĩa vụ chứng minh lỗi và miễn tạm ứng án phí. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng năm 2010 cũng đưa ra quy định miễn nghĩa vụ chứng minh lỗi và miễn tạm ứng án phí cho người tiêu
dùng khi tiến hành khởi kiện các tổ chức cá nhân vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

về bảo vệ người tiêu dùng thì Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng để được nhà nước hỗ trợ kinh
phí khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ nhà nước về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, để được thực hiện nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ của nhà nước thì phải
thỏa mãn đủ bốn điều kiện sau: được thành lập theo quy định của pháp luật; có tôn chỉ, mục đích hoạt động vì
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; có thời gian hoạt động tối thiểu là một (01) năm; có phạm vi hoạt động từ
cấp tỉnh trở lên. Quy định điều kiện như vậy cũng gây khó khăn cho các tổ chức xã hội khi muốn được giao
kinh phí hỗ trợ để bảo vệ người tiêu dùng. Bởi vì, kinh phí hoạt động của tổ chức xã hội đa phần là nguồn
kinh phí tự chủ nên nếu quy định phải có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm thì trong khoảng thời gian
một năm đó hoạt động của tổ chức xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, pháp luật chỉ có các quy định
về nhiệm vụ nhà nước giao là những nhiệm vụ nào và thẩm quyền giao nhiệm vụ còn việc quy định về thủ tục,
cách thức, thông tin công bố từ đâu để được nhận hỗ trợ kinh phí pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể. Điều
này sẽ gây khó khăn cho các tổ chức xã hội nếu muốn thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao để bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng.
Như vậy, các quy định pháp luật mới được ban hành của nước ta về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
tuy đã khắc phục được những hạn chế của các quy định pháp luật trước đây nhưng vẫn còn tồn tại một số
vướng mắc. Điều này đã khiến hoạt động bảo vệ người tiêu dùng gặp nhiều khó khăn cũng như tình trạng xâm
phạm quyền lợi người tiêu dùng vẫn còn xảy ra ngày càng nhiều.
Hai là, tình hình thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam.
Trong phần này tác giả tập trung phân tích và đưa ra nhận xét đánh giá một số vụ việc điển hình xảy ra kể từ
khi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có hiệu lực. Qua các vụ việc đã phân tích, ta thấy các
doanh nghiệp tuy đã có sự quan tâm đến người tiêu dùng nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, mà
chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng bảo hiểm cũng như theo các quy định của pháp luật
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Tại mục 3.2. Giải pháp hoàn thiện và thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt
Nam hiện nay bao gồm hai nội dung đó là: phương hướng hoàn thiện và kiến nghị nhằm thực thi pháp luật về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam hiện nay.
Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bao gồm:
103

- Phải nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phải coi bảo vệ

khởi kiện vụ án bảo vệ người tiêu dùng vì lợi ích công cộng và thực hiện các nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ của
Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Cần nâng cao ý thức trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật. Đầu tiên,
104

cần phải tăng cường năng lực cho các cơ quan hành chính như Cục quản lý cạnh tranh, Cục An toàn vệ sinh
thực phẩm, Cục quản lý thị trường về các điều kiện như trình độ quản lý, ngân sách hoạt động, thẩm quyền
để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. cần phải nâng cao năng lực cho hệ thống tòa án nhân dân, hoàn thiện cơ
chế pháp lý giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng tại tòa án. Các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về bảo vệ người tiêu dùng cần phối hợp đồng bộ với nhau và với các cơ quan có thẩm
quyền khác thường xuyên tiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức cá
nhân kinh doanh, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ người tiêu
dùng, nhất là các hành vi vi phạm an toàn chất lượng sản phẩm. Các cơ quan chức năng thường xuyên họp
báo, cung cấp thông tin cho báo chí, công bố rộng rãi và nhanh chóng các thông tin vi phạm pháp luật bảo vệ
người tiêu dùng, về chất lượng hàng hóa, tránh tình trạng bưng bít thông tin như vụ nước tương có chứa 3-
MCPD vượt tiêu chuẩn hàm lượng cho phép. Việc công khai và minh bạch thông tin sẽ tạo niềm tin cho người
tiêu dùng đồng thời tác động trực tiếp đến các nhà sản xuất.
- Cần nâng cao ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Để thực hiện được việc
đó trước hết, cần phải hoàn thiện khung pháp lý về trách nhiệm của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng, xử
lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp. Chỉ khi nào pháp luật hoàn thiện và nghiêm
minh thì nhà sản xuất, kinh doanh mới ý thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sản phẩm,
bảo vệ người tiêu dùng. Nhà sản xuất phải ý thức tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, nâng cao năng
lực sản xuất, nâng cao chất lượng các loại sản phẩm hàng hóa phục vụ tiêu dùng bằng các biện pháp như đầu
tư khoa học công nghệ hiện đại, cải tiến kỹ thuật nhằm giảm thiểu các loại rủi ro, khuyết tật của sản phẩm.
Nhà sản xuất phải tiến hành các biện pháp ngăn chặn, khắc phục kịp thời khi xảy ra các rủi ro cho người tiêu
dùng, thực hiện nghiêm túc trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây nên.
- Nâng cao ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng. Để làm được điều này, cần phải thực hiện một số biện
pháp như sau: tiến hành tuyên truyền, giáo dục pháp luật bảo vệ người tiêu dùng một các rộng rãi và có hiệu quả để
người tiêu dùng biết và thực hiện các quyền của mình, đặc biệt là quyền khiếu nại, khởi kiện yêu cầu bồi thường
thiệt hại; thực hiện phổ biến, giáo dục các kiến thức tiêu dùng; cung cấp, hướng dẫn thông tin về tiêu dùng an toàn

nghiệp sản xuất cung ứng hàng hoá dịch vụ. Trong nền kinh tế thị trường vai trò của người tiêu dùng vô cùng quan
trọng, vì vậy muốn thúc đẩy sản xuất phát triển hơn nữa, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh hơn, thì cần bảo vệ
quyền và lợi ích của người tiêu dùng một cách hiệu quả và tốt nhất.

References.

Tiếng Việt
1. Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ người quyền lợi người tiêu dùng”,
Tạp chí Luật học, (11), tr. 3-11.
2. Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005
3. Bộ Luật Hình sự Việt Nam 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
4. Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Thương mại (2006), Sổ tay công tác bảo vệ người tiêu dùng, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
5. Cục Quản lý cạnh tranh và Dự án MUTRAP III (2008), Báo cáo Khảo sát Thực trạng xâm phạm quyền lợi
Người tiêu dùng và thực tiễn bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, Hà Nội
106

6. Vũ Duy Cương (2004), Trách nhiệm sản phẩm theo Bản chỉ thị 85/374/EEC và quy định pháp luật Việt
Nam, Luận văn thạc sỹ, ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh.
7. Nguyễn Văn Cương (2006), “Chế định trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật Việt Nam”, Thông tin khoa
học pháp lý, (Số 04 - 05), tr.46-52.
8. Đại hội đồng Liên hợp quốc (09/5/1985), Nghị quyết số 39/948 “Các nguyên tắc chỉ đạo để bảo vệ người
tiêu dùng”
9. Phạm Phương Đông (2007), “Bảo đảm quyền của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và
giải pháp”, Tạp chí Cộng sản (Số 125)
10. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001)
11. Nguyễn Thái Hoàng (2008), Pháp luật trách nhiệm sản phẩm và một số đề xuất xây dựng Luật trách
nhiệm sản phẩm tại Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội.
12. Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam văn phòng phía Nam (2008), “Báo cáo công tác bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Tạp chí Bảo vệ người tiêu dùng, Hồ Chí Minh

32. Nguyễn Thị Tường Vi (2009), Trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật Cộng đồng Châu Âu và Việt Nam, Khoá luận
tốt nghiệp, ĐH Luật TP.Hồ Chí Minh
33. Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp (2010), Trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp – công cục pháp
lý bảo vệ người tiêu dùng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội
34. Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật (1997), Tìm hiểu luật bảo vệ người tiêu dùng của các nước và vấn đề
bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, NXB Lao Động, Hà Nội
35. www.tintuc.vnn.vn
36. www.hids.hochiminhcity.gov.vn
37. www.tuoitre.com.vn
38. www.thanhnien.com.vn
39. www.nguoitieudung.com.vn
40. www.vcad.gov.vn
41. www.nld.com.vn
42. www.vibonline.com.vn
43. www.vietnamnet.vn
44. www.vnexpress.net
45. www.wikipedia.com
46. www.hg.org
47. www.eur-lex.europa.eu
48. www.legal-dictionary.thefreedictionary.com
49. www.europa.eu
50. www.europa.eu
51. www.lawnet.lk
52. www.ts.nist.gov
53. www.tabunka.org
54. www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com
55. www.afca.vn
108

56. www.yume.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status