MỞ ĐẦU
Quan hệ kinh tế chủ yếu trong xã hội, bên cạnh quan hệ giữa các nhà sản
xuất với nhau, là quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, là lực lượng
hết sức đông đảo. Nhưng vì chưa nhận thức đầy đủ các quyền và trách nhiệm
của mình, không có đầy đủ kiến thức về mọi mặt và thường hành động riêng
lẻ nên trong mối quan hệ giữa họ và nhà sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng
thường đứng ở thế yếu và chịu nhiều thiệt thòi. Bên cạnh đó, người tiêu dùng
còn có nguy cơ sử dụng hàng hoá, dịch vụ thiếu độ an toàn đặc biệt là đối với
hàng hoá, dịch vụ thiết yếu và hàng hoá, dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp tới
sức khoẻ con người. Điều này thực sự đã kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Chính vì vậy, nhiều nước trên thế giới đã thấy sự cần thiết của việc bảo vệ
người tiêu dùng, có chính sách tôn trọng các quyền của người tiêu dùng và
các biện pháp chống lại sự lạm dụng của những nhà sản xuất, kinh doanh.
Ở Việt Nam, chính sách bảo vệ người tiêu dùng cũng đã được quan tâm,
đặc biệt là sau khi Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng năm 1999
ra đời. Với quy định pháp luật đó bước đầu đã tạo được hành lang pháp lý cho
việc bảo vệ người tiêu dùng, các quyền của người tiêu dùng được ghi nhận,
các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng được thành lập. Nhưng do nhiều nguyên
nhân mà các quy định trên đã ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế như: quy định
còn chung chung, chưa thực sự đảm bảo cơ chế cho việc thực thi các quyền
của người tiêu dùng… Do đó, yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần xây dựng, ban
hành và bảo đảm thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng.
Tuy nhiên, do xu hướng chung của thế giới là toàn cầu hoá, hội nhập kinh
tế quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội nên không nằm ngoài
xu thế đó, việc ban hành các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
của Việt Nam cũng như vấn đề thực thi các quy định pháp luật đó phải có sự
1
2.1. Tình hình nghiêm cứu trên thế giới
Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng hay trách nhiệm sản phẩm của doanh
nghiệp luôn được coi là vấn đề quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới.
Hầu như năm nào, các bài nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
liên quan đến trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp cũng được đăng tải.
Trong số đó, nhiều bài nghiên cứu đề cập tới chế độ trách nhiệm sản phẩm ở
nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản. Sau
đây là một số bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này:
- Bài viết “The Japanese Products Liability Law (Pháp luật trách
nhiệm sản phẩm của Nhật Bản)” của Jason F.Cohen (nghiên cứu sinh Đại học
Fordham – Hoa Kỳ) đăng trên tạp chí “Fordham International Law Journal,
November 1997” đã làm rõ cơ sở chính sách và những đặc điểm cơ bản của
chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Nhật Bản.
- Bài viết “The future of products liability in America (Tương lai của
pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ)” của ba luật sư của Hoa Kỳ là
Gary Wilson, Vincent Moccio và Daniel O.Fallon đăng trên tạp chí William
Mitchell Law Review (năm 2000) đã bàn về chế độ trách nhiệm sản phẩm ở
Hoa Kỳ hiện tại, những tồn tại, bất cập và đề xuất một số hướng cải cách đổi
mới.
- “Products Liability – Why the EU does not need the restatement
(third) (Chế định trách nhiệm sản phẩm – Vì sao Cộng đồng Châu Âu không
cần theo mô hình của Hoa Kỳ)” của Giáo sư Rebekah Rollo (Đại học
Maryland - Đức) trong bài viết đăng trên tạp chí “Brooklyn Law Review,
Spring, 2004” đã nghiên cứu chế độ trách nhiệm sản phẩm theo quy định của
Cộng đồng Châu Âu (EU) và tác động của những thay đổi trong chính sách
trách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ tới chính sách tương tự của Cộng đồng
3
Tại Việt Nam nó cũng đã được ghi nhận trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi của
người tiêu dùng năm 1999, Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 thay thế
Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 và nhiều văn bản pháp luật khác
nhau như: Bộ luật dân sự 2005, Pháp lệnh chất lượng hàng hoá 1999 (được
thay thế bàng Luật chất lượng sảm phẩm hàng hoá 2007), Luật cạnh tranh
2004, Luật thương mại 2005, Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 2003 và
các Nghị định hướng dẫn thi hành…. Bên cạnh đó, phải kể tới là các bài viết
trên nhiều tạp chí chuyên nghành luật như Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tạp chí Luật học, tuy
nhiên số lượng vẫn còn chưa nhiều.
Không những thế, liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, Viện
Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp đã phối hợp với Dự án Hỗ trợ cải cách pháp
luật của Canada tại Việt Nam (dự án Lerap) tổ chức Hội thảo “Cơ chế pháp lý
bảo vệ người tiêu dùng: thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” (tổ chức
tại Khách sạn Melia trong 03 ngày từ ngày 14/8/2007 đến ngày 16/8/2007)
với sự tham gia của gần 70 đại biểu là đại diện các cơ quan bảo vệ người tiêu
dùng (Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Thương mại, Cục quản lý thị trường – Bộ
Thương mại, Cục an toàn vệ sinh thực phẩm – Bộ Y tế…), đại diện Bộ Tư
pháp, Tòa Dân sự - Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa Dân sự - Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội, đại diện Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt
Nam, đại diện Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng một số tỉnh, thành
phố, các chuyên gia pháp lý, đại diện phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, đại diện một số hiệp hội doanh nghiệp, đại diện của một số doanh
nghiệp, các cơ quan truyền thông, báo chí, một số chuyên gia của Canada.
Với hơn 10 bài tham luận tại Hội thảo, các đại biểu đã nêu rõ những khoảng
trống pháp lý trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay,
trong đó có khoảng trống về chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh
5
6
lý những nhà sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ kém chất lượng, góp
phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá các quy định pháp luật quốc tế và
quốc gia về bảo vệ người tiêu dùng
- Rút ra kinh nghiệm và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật
Việt Nam về vấn đề này
- Đề xuất cơ chế thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu
dùng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3.3. Đối tượng nghiên cứu của luận văn.
- Hệ thống các quy định pháp lý của quốc tế về bảo vệ người tiêu
dùng.
- Các quy đinh của pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo vệ
quyền lợi của người tiêu dùng.
- Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ người tiêu dùng, những
hạn chế còn tồn tại, phương hướng hoàn thiện và cơ chế để thực thi có hiệu
quả những quy đinh đó.
4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của một số
nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam” giúp chúng ta có thể:
- Hệ thống hóa các điều ước quốc tế của Liên hợp quốc, các nghị quyết
của Đại hội đồng Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng;
- Có được một số thông tin tổng quan về kết quả nghiên cứu pháp luật
của một số quốc gia về bảo vệ người tiêu dùng;
- Hiểu rõ hơn các nguyên lý, quan điểm của một số học giả trên thế giới
về bảo vệ người tiêu dùng;
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG
Trong xu hướng toàn cầu hóa, pháp luật Việt Nam đã có nhiều chính
sách mở cửa thị trường để cho các công ty nước ngoài tìm chỗ đứng trên thị
trường Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh các công ty sang đầu tư vào Việt Nam
đều mang theo dây truyền công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến
thì cũng có không ít một số công ty dùng Việt Nam là nơi giải quyết hàng hóa
tồn kho, lắp ráp các dây chuyền công nghệ đã lạc hậu cho nhà máy ở Việt
Nam hoặc tiến hành các chiêu thức tiếp thị gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Vì vậy, để quyền lợi người tiêu dùng được bảo vệ, nước ta đã ban hành các
quy định pháp luật về vấn đề này. Mặc dù vậy, trong thời đại hội nhập kinh tế
quốc tế, để các quy định của pháp luật Việt Nam được áp dụng một cách
thuận lợi và nghiêm chỉnh cũng như hạn chế hành vi vi phạm của các chủ thể
tham gia thì các quy định này cần phải phù hợp với quy định của pháp luật
quốc tế về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng.
1.1. Các quy định của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng
Liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, năm 1985, Bản hướng
dẫn bảo vệ người tiêu dùng đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức
thông qua. Đây là một tài liệu cơ bản và toàn diện về bảo vệ người tiêu dùng.
Bản hướng dẫn này giúp ích cho các chính phủ, đặc biệt là các nước đang
phát triển, trong việc hoạch định các chính sách và luật pháp bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng. Bản hướng dẫn đã được gửi cho các chính phủ thành viên
Liên hợp quốc, trong đó có chính phủ Việt Nam. Sau 10 năm ban hành, năm
1996, Liên hợp quốc đã gửi văn bản chính thức cho các chính phủ thành viên
đề nghị kiểm điểm lại việc thi hành Bản hướng dẫn về bảo vệ người tiêu
9
người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn với giá cả thấp hơn;
- Khuyến khích tiêu dùng bền vững.
1.1.2. Các nguyên tắc chung
Nguyên tắc là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chất chỉ đạo,
bao trùm có giá trị bắt buộc chung đối với các chủ thể là thành viên của Liên
hợp quốc. Theo đó, trong việc quy định về bảo vệ người tiêu dùng các nhu
cầu pháp lý mà Bản hướng dẫn nhằm hướng tới bao gồm:
Một là, bảo vệ người tiêu dùng tránh những mối nguy hại về sức khỏe
và an toàn;
Hai là, ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng;
Ba là, thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng để họ có thể lựa chọn sáng
suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân;
Bốn là, giáo dục người tiêu dùng, bao gồm giáo dục về các tác động về
mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của người tiêu dùng;
Năm là, thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho người tiêu dùng;
Sáu là, cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức người tiêu
dùng thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của
mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ.
Bảy là, thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Bản hướng dẫn nêu cụ thể việc sản xuất và tiêu dùng không bền vững,
đặc biệt là ở các nước công nghiệp, là nguyên nhân chính của sự xuống cấp
của môi trường toàn cầu. Tất cả các nước cần thúc đẩy tiêu dùng bền vững;
các nước phát triển cần đi đầu trong việc thúc đẩy tiêu dùng bền vững; các
nước đang phát triển cần tìm mọi cách để đẩy mạnh tiêu dùng bền vững trong
quá trình phát triển của mình, cần quan tâm thích đáng tới nguyên tắc chung
và các trách nhiệm cụ thể. Tình hình cụ thể và nhu cầu của các nước đang
phát triển cần phải được ghi nhận đầy đủ. Chính sách khuyến khích tiêu dùng
11
12
chuẩn quốc gia hoặc quốc tế, các tiêu chuẩn tự nguyện và lưu trữ hồ sơ an
toàn để đảm bảo rằng các sản phẩm phải an toàn cho sử dụng theo mục đích,
hoặc bình thường có thể dự đoán trước được.
Những chính sách thích hợp đó cần đảm bảo các sản phẩm được sản
xuất ra phải an toàn cho việc sử dụng có mục đích hoặc bình thường có thể dự
đoán được. Những người có trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường đặc biệt
là những người cung cấp, xuất nhập khẩu, những người buôn bán lẻ và tương
tự (sau đây gọi là những nhà phân phối) cần phải đảm bảo rằng trong quá
trình lưu thông, những hàng hóa này không trở thành độc hại do lưu kho hoặc
quản lý không tốt. Người tiêu dùng cần được hướng dẫn đầy đủ về cách sử
dụng hàng hóa và phải được thông báo về sự cố có thể xảy ra khi sử dụng
theo mục đích, hoặc trong khi sử dụng bình thường có thể thấy trước được.
Thông tin quan trọng về an toàn phải được truyền đạt tới người tiêu dùng
bằng những ký hiệu quốc tế dễ hiểu nếu có.
Không những thế, cần có chính sách thích hợp để đảm bảo rằng nếu
nhà sản xuất hoặc nhà phân phối thấy được tác hại sau khi hàng hóa đã được
đưa ra thị trường, thì họ phải khai báo ngay với những người có trách nhiệm,
và tốt hơn là với toàn thể công chúng. Bản hướng dẫn cũng yêu cầu các nước
cũng cần quan tâm đến các phương thức để bảo đảm rằng người tiêu dùng
được thông tin chính xác về những tác hại ấy.
Để ràng buộc trách nhiệm của nhà sản xuất trong việc đảm bảo chất
lượng sản phẩm với người tiêu dùng, Bản hướng dẫn ghi nhận khả năng linh
hoạt cho các quốc gia. Theo đó, các quốc gia cần ban hành các chính sách để
nếu một sản phẩm được phát hiện là kém chất lượng một cách nghiêm trọng
hoặc gây ra những tác hại thực sự nghiêm trọng ngay cả khi được sử dụng
đúng, thì nhà sản xuất hoặc nhà phân phối phải thu hồi và thay thế, hoặc sửa
chữa, hoặc đổi sản phẩm khác. Nếu không thể thực hiện được việc này trong
chính sách làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất phải đảm bảo hàng hóa đáp
14
ứng được nhu cầu hợp lý về độ bền, công dụng và độ tin cậy, phù hợp với
mục đích sử dụng, và người bán phải biết được những yêu cầu này đã được
đáp ứng hay chưa. Những chính sách tương tự cũng phải được áp dụng trong
các khâu cung ứng dịch vụ. Bên cạnh đó, để tạo cho người tiêu dùng được lựa
chọn trong phạm vi rộng các sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp nhất thì các
nước cần khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, có hiệu quả. Tùy vào điều kiện
ở mỗi nước mà có sự quan tâm để nhà sản xuất hoặc những nhà bán lẻ phải
đảm bảo cung cấp các phụ tùng và dịch vụ sau bán hàng đủ tin cậy.
Về vấn đề hợp đồng giao kết giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, Bản
hướng dẫn cũng yêu cầu có các quy định để bảo vệ người tiêu dùng tránh
những gian lận trong hợp đồng, như hợp đồng do một bên quy định tiêu
chuẩn, hợp đồng bỏ ra ngoài những quyền cơ bản và những điều kiện giao
nhận không sòng phẳng của người bán.
Việc xúc tiến thương mại và việc thực hiện buôn bán phải tuân theo các
nguyên tắc đối xử công bằng với người tiêu dùng và hợp pháp. Nguyên tắc
này quy định việc cung cấp thông tin cần thiết để người tiêu dùng có thể độc
lập quyết định, cũng như những biện pháp để bảo đảm rằng thông tin cung
cấp là chính xác. Vì vậy, cần khuyến khích mọi nguồn tin tự do đưa những
thông tin chính xác về mọi mặt của sản phẩm cho người tiêu dùng. Để người
tiêu dùng có thể tiếp cận thông tin chính xác về tác động môi trường của các
sản phẩm và dịch vụ thì cần phải thông qua các phương tiện như các thông tin
về sản phẩm, các báo cáo về môi trường của ngành, của các trung tâm thông
tin người tiêu dùng, các chương trình dán nhãn chứng nhận về môi trường và
các đường dây nóng thông tin về sản phẩm. Hơn thế nữa, cơ quan chịu trách
nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần có sự hợp tác chặt chẽ với các
vụ các nước cần khuyến khích và đảm bảo các phương tiện để kiểm nghiệm
và xác nhận độ an toàn, chất lượng của hàng hóa và dịch vụ thiết yếu của
người tiêu dùng.
16
1.1.3.4. Các phương tiện phân phối hàng tiêu dùng thiết yếu
Để hàng tiêu dùng thiết yếu đến tay người tiêu dùng được thuận lợi,
hiệu quả thì cần có phương tiện phân phối. Tuy nhiên, do địa hình, vùng miền
cũng như điều kiện kinh tế của từng quốc gia khác nhau mà việc sử dụng
phương tiện phân phối hàng hóa đặc trưng cho mỗi loại địa hình, vùng miền
cũng khác nhau. Chính vì vậy, khi tiến hành phân phối hàng tiêu dùng thiết
yếu, các nước cũng chú ý xem xét hai vấn đề sau:
Thứ nhất, phê chuẩn hoặc duy trì các chính sách để đảm bảo sự phân
phối hiệu quả hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng; ở nơi thích hợp, cần
xem xét các chính sách đặc biệt để đảm bảo việc phân phối những hàng hóa
và dịch vụ thiết yếu ở những nơi việc phân phối gặp khó khăn, đặc biệt đối
với các khu vực nông thôn. Những chính sách ấy có thể bao gồm việc trợ giúp
để tạo ra các kho chứa và các phương tiện bán lẻ thích hợp ở các trung tâm
mua bán nông thôn, khuyến khích người tiêu dùng tự giải quyết và kiểm tra
tốt hơn các điều kiện cung ứng hàng hóa và dịch vụ thiết yếu ở nông thôn;
Thứ hai, khuyến khích việc thành lập các hợp tác xã tiêu thụ và các
hoạt động thương mại có liên quan, cũng như thông tin về các hoạt động đó,
đặc biệt ở các vùng nông thôn.
1.1.3.5. Các biện pháp giúp người tiêu dùng được bồi thường
Vấn đề bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng là vấn đề luôn nhận
được sự quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng. Do đó, Bản hướng dẫn yêu
cầu các nước cần thiết lập hoặc duy trì những biện pháp hành chính và/hoặc
pháp chế để giúp người tiêu dùng hoặc, nếu phù hợp, các tổ chức liên quan có
Tùy từng vào chính sách của mỗi quốc gia, việc giáo dục người tiêu
dùng phải trở thành một bộ phận cấu thành của chương trình cơ bản của hệ
thống giáo dục, tốt nhất là lồng ghép vào các môn học hiện hành.
Các chương trình thông tin và giáo dục người tiêu dùng phải bao quát
các khía cạnh quan trọng về bảo vệ người tiêu dùng như:
18
- Sức khỏe, dinh dưỡng, ngăn cản bệnh loãng xương, thực phẩm bị pha trộn;
- Tác hại của sản phẩm;
- Ghi nhãn sản phẩm;
- Pháp luật có liên quan; làm thế nào để được bồi thường, các cơ quan
và tổ chức bảo vệ người tiêu dùng;
- Thông tin về cân đo, giá cả, chất lượng, điều kiện mua bán và việc
cung ứng các nhu cầu cơ bản;
- Bảo vệ môi trường;
- Sử dụng hợp lý vật liệu, năng lượng, nguồn nước
Để tiến hành các chương trình giáo dục và thông tin, các nước cần
khuyến khích các tổ chức người tiêu dùng và các nhóm liên quan khác, bao
gồm báo chí tiến hành các chương trình giáo dục và thông tin, bao gồm các tác
động về môi trường của việc mua sắm, bao gồm các lợi ích và chi phí của
những thay đổi trong tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của các nhóm người tiêu
dùng thu nhập thấp ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Tùy từng vào các
nước, các doanh nghiệp ở nước đó còn phải đảm trách hoặc tham gia một cách
thực tiễn và thích hợp vào các chương trình thông tin giáo dục người tiêu dùng.
Thể hiện sự quan tâm đến sự cần thiết phải đưa chương trình thông tin
và giáo dục người tiêu dùng đến những người tiêu dùng ở nông thôn và những
người tiêu dùng không biết chữ, yêu cầu các nước cần phát triển hoặc khuyến
khích phát triển các chương trình thông tin người tiêu dùng trên phương tiện
Để xây dựng và thực hiện các chiến lược thúc đẩy tiêu dùng bền vững,
các nước cần hợp tác với doanh nghiệp và các tổ chức dân sự liên quan để
thông qua việc phối hợp thực hiện nhiều chính sách trong đó có thể bao gồm
các quy định pháp luật; các công cụ kinh tế xã hội; các chính sách trong các
lĩnh vực như sử dụng đất, giao thông, năng lượng và nhà ở; các chương trình
thông tin nhằm tăng cường nhận thức về tác động của tiêu dùng; loại bỏ
những trợ cấp là nguyên nhân gây ra sản xuất và tiêu dùng bất hợp lý và thúc
20
đẩy các hoạt động quản lý môi trường đối với từng ngành cụ thể.
Để việc sử dụng hàng hóa có hiệu quả, các nước cần khuyến khích việc
thiết kế, phát triển và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ an toàn và tiết kiệm
năng lượng, có cân nhắc tới các tác động vòng đời. Nhằm khuyến khích người
tiêu dùng tái chế rác thải và mua bán các sản phẩm tái chế, các nước cần
khuyến khích xây dựng và thực hiện các chương trình tái chế.
Không những thế, các nước cần thúc đẩy sự phát triển và việc sử dụng
các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia về an toàn môi trường đối với sản phẩm và
dịch vụ; những tiêu chuẩn đó không được tạo ra các rào cản thương mại;
khuyến khích kiểm nghiệm tác động môi trường của sản phẩm.
Việc quản lý cẩn thận việc sử dụng những vật liệu gây nguy hại đến
môi trường và khuyến khích sự ra đời của những vật liệu thay thế là cần thiết
đối với mỗi quốc gia. Những vật liệu mới tiềm tàng chứa đựng nguy cơ gây
hại tới môi trường cần phải được đánh giá trên cơ sở khoa học về tác động lâu
dài đối với môi trường trước khi những vật liệu đó được đem đi phân phối.
Tăng cường nhận thức các lợi ích liên quan tới sức khỏe của việc tiêu
dùng và sản xuất bền vững, lưu ý cả các tác động đối với sức khỏe cá nhân và
đối với tập thể thông qua bảo vệ môi trường là một vấn đề mà các nước cũng
cần thực hiện.
về sức khỏe của người tiêu dùng như thức ăn, nước và thuốc chữa bệnh. Phê
duyệt hoặc duy trì các chính sách về kiểm tra chất lượng sản phẩm, về các
phương tiện phân phối an toàn và thích hợp, tiêu chuẩn hóa việc ghi nhãn
quốc tế và thông tin, cũng như các chương trình giáo dục nghiên cứu ở các
nước này. Đối với các lĩnh vực cụ thể, Bản hướng dẫn cũng yêu cầu các nước
cần quy định theo khuôn khổ chung trên một số phương diện cụ thể như:
Về thực phẩm
Khi xây dựng các chính sách và kế hoạch nhà nước về thực phẩm, các
nước cần xem xét nhu cầu của tất cả những người tiêu dùng đối với sự an toàn
22
thực phẩm, cần ủng hộ và nếu có thể, chấp nhận các tiêu chuẩn của Tổ chức
lương thực và nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức y tế thế giới của
Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Codex Limentarius của WHO hoặc khi không có
những tiêu chuẩn này thì công nhận các tiêu chuẩn về thực phẩm quốc tế đã
được công nhận rộng rãi khác và cần đẩy mạnh các chính sách và hoạt động
nông nghiệp bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất và nước, ghi
nhận kiến thức truyền thống.
Về nước
Trong khuôn khổ đề ra cho chương trình cấp nước quốc tế và Thập kỷ
vệ sinh, các nước cần xây dựng, duy trì và củng cố các chính sách nhà nước
để cải tiến việc cung cấp, phân phối, và chất lượng nước uống; quan tâm thích
đáng đến việc lựa chọn những mức độ chất lượng và công nghệ phù hợp, đến
nhu cầu cho các chương trình giáo dục và tầm quan trọng của việc tham gia
của cộng đồng và đặt ưu tiên cao cho việc xây dựng và thực hiện các chính
sách và chương trình liên quan tới việc sử dụng nước, ghi nhận tầm quan
trọng của sự phát triển bền vững của nước nói chung và thực tế hạn chế nguồn
nước nói riêng.
như:
- Phát triển, rà soát, duy trì hoặc củng cố các cơ chế trao đổi thông tin
về những chính sách và biện pháp của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ người
tiêu dùng.
- Hợp tác và khuyến khích sự hợp tác trong việc áp dụng các chính sách
bảo vệ người tiêu dùng nhằm đạt được những kết quả lớn hơn trong phạm vi
những nguồn lực hiện có. Ví dụ như sự hợp tác trong việc lập ra hay phối hợp
sử dụng những trang thiết bị thí nghiệm, những quy trình thử nghiệm chung,
thay đổi những chương trình về thông tin và giáo dục người tiêu dùng, những
chương trình tập huấn và phối hợp biên soạn các quy định.
- Hợp tác trong việc cải thiện những điều kiện để cung ứng những sản
24
phẩm thiết yếu cho người tiêu dùng, chú ý cả hai mặt giá cả và chất lượng. Sự
hợp tác như vậy cần bao gồm việc phối hợp cung ứng những hàng hóa thiết
yếu, trao đổi thông tin về khả năng cung ứng và những thỏa thuận về việc xác
định đặc tính của sản phẩm trong địa phương.
Thêm vào đó, nhằm tạo điều kiện cho các nước nhập khẩu khác tự bảo
vệ có hiệu quả tránh những hậu quả tai hại của các sản phẩm, các nước cần
phát triển hoặc củng cố các mạng lưới thông tin có liên quan tới các sản phẩm
đã và đang bị cấm, thu hồi hoặc thu hẹp phạm vi lưu hành.
Bên cạnh đó, các nước cần có những hành động để đảm bảo rằng chất
lượng sản phẩm và những thông tin liên quan tới các sản phẩm đó không thay
đổi trong các nước trên thế giới để có thể gây tác hại cho người tiêu dùng.
Để thúc đẩy tiêu dùng bền vững, các nước, các tổ chức quốc tế và
doanh nghiệp cần hợp tác với nhau để phát triển, chuyển giao và tuyên truyền
về các công nghệ có lợi cho môi trường, bao gồm thông qua các hỗ trợ tài
chính từ các nước phát triển, và để tạo ra các cơ chế mới hỗ trợ việc trao đổi