LÝ THUYẾT LÀN SÓNG TRONG NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA THĂNG LONG - HÀ HỘI
TS. Trịnh Cẩm Lan *
1. Lý thuyết làn sóng là gì?
Lý thuyết làn sóng (Wave theory) hay Mô hình làn sóng (Wave model) là một lý thuyết
về sự biến đổi ngôn ngữ, trong đó, những hình thức mới của một ngôn ngữ lan truyền từ một
điểm trung tâm ra các vùng ngoại vi trong trạng thái sôi động ở trung tâm và yếu dần ở ngoại
vi. Mô hình này thường được so sánh với hình ảnh được tạo ra khi ta ném một hòn đá xuống
mặt nước.
Lý thuyết làn sóng được xem là do các nhà nghiên cứu thuộc trường phái Truyền bá
luận (diffussionism) châu Âu nêu ra từ cuối thế kỷ XIX. Những người đầu tiên đề cập đến lý
thuyết này là hai nhà nghiên cứu người Đức Johannes Schmidt và Hugo Schuchardt vào năm
1872
[1]
. Các nhà truyền bá luận cũng như hai nhà nghiên cứu là tác giả của lý thuyết làn sóng
đều chủ trương rằng, mọi sự biến đổi và cách tân ngôn ngữ (cũng như trong văn hóa) bao giờ
cũng xuất phát từ một nơi rồi lan truyền ra các vùng khác và chính sự lan truyền ấy đã tạo nên
một động lực của sự phát triển ngôn ngữ (hay văn hóa).
Liên quan đến lý thuyết làn sóng là một số các khái niệm, các mô hình lý thuyết khác,
không chỉ trong nghiên cứu ngôn ngữ, mà rộng hơn, cả trong và trước hết là trong nghiên cứu
văn hóa. Các nhà nghiên cứu văn hóa nhân chủng học phương Tây cuối thế kỷ XIX đầu XX
nhắc đến các khái niệm như sự thiên di, sự lan tỏa, sự loang ra… của văn hóa. Đó là sự truyền
bá các hiện tượng văn hóa thông qua những cuộc tiếp xúc giữa các dân tộc, các bộ lạc bằng
buôn bán, di dân và thậm chí… bằng xâm lược. Cũng có một số học giả gọi lý thuyết truyền bá
luận trong nghiên cứu văn hóa là lý thuyết về các vùng văn hóa hay các khu vực văn hóa
[2]
.
Tương tự như vậy, trong nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học cũng nhắc đến hàng loạt
các khái niệm phát sinh trên cơ sở lý thuyết này như sự truyền bá, sự lan tỏa, sự khuyếch tán…
của Charler Bailey, 1973
Nguồn: Walt W, Ralph W. Fasold, The study of Social Dialects in American English, Newbury
House Publishers & Rowley, Massachusetts, 1974, tr. 76.
Hình 3: Mô hình làn sóng mới theo một hướng
của Charler Bailey, 1973
Nguồn: Walt W, Ralph W. Fasold, The study of Social Dialects in American English, Newbury
House Publishers & Rowley, Massachusetts, 1974, tr. 77.
Trên đây là mô hình làn sóng mới của Charler Bailey được biểu diễn bằng sự lan tỏa
trong không gian và thời gian. Yếu tố không gian được thể hiện qua những vòng sóng. Yếu tố
thời gian được thể hiện quan các thời điểm khác nhau, từ thời điểm đầu tiên (Time i) đến thời
điểm cuối cùng (Time vii). Theo mô hình này, các vòng sóng đều khởi phát từ một điểm rồi lan
truyền đều đặn ra xung quanh (Hình 2) hoặc lan truyền theo một hướng (Hình 3) và tạo nên
những khu vực ngôn ngữ (hay phương ngữ) gồm trung tâm và ngoại vi cùng có chung những
đặc trưng ngôn ngữ nhất định. Về nguyên lý, đặc trưng cơ bản của khu vực trung tâm (focal
areas), theo Walt W và Ralph W. Fasold, là sự thu hút, tích hợp hay hội tụ (convergence), định
hình rồi lan tỏa (spreading). Do vị thế chính trị, văn hóa, xã hội… mà trung tâm bao giờ cũng
có sức thu hút cao những yếu tố từ ngoại vi. Người ta gọi đó là chức năng “tụ nhân, tụ tài” của
trung tâm. Sau quá trình thu hút và tích hợp vào trung tâm, các yếu tố đó sẽ được nhào nặn và
định hình. Với tính năng động và sôi động của trung tâm, các sản phẩm đã được định hình lại
lan tỏa, truyền bá ra ngoại vi, dần dần tạo nên sự thống nhất diện mạo của một khu vực ngôn
ngữ hay phương ngữ. Trung tâm còn có một đặc trưng nữa, nó không chỉ là đầu mối giao lưu,
tiếp xúc trong khu vực mà còn cả ngoài khu vực. Với đặc trưng này, trung tâm trở thành trạm
trung chuyển những tiếp xúc từ các trung tâm bên ngoài vào khu vực. Còn các khu vực ngoại
vi, chúng không chỉ chịu lực hút từ trung tâm mà còn tiếp nhận sự lan toả của trung tâm. Ngoại
vi bao giờ cũng ít sôi động hơn trung tâm, những làn sóng ngôn ngữ ra ngoại vi thường thưa
hơn, yếu hơn và có phần tĩnh lặng làm cho ngôn ngữ ở ngoại vi thường lưu giữ được những
dạng thức cổ hơn so với trung tâm. Các nhà ngôn ngữ gọi đây là những khu vực di tích (relic
areas)
[5]
[8]
. Gần
hai nghìn năm sau, vua Thục dời đô xuống Cổ Loa, trung tâm kinh tế - văn hóa của đất nước
đã bị hút về xuôi, đỉnh chóp thứ hai của tam giác châu thổ sông Hồng ở ngã ba sông Đuống
đã được định vị. Nhiều nguồn sử liệu đã cho biết rằng tam giác châu thổ sông Hồng này
chính là cái nôi của người Việt cổ. Nhưng tính chất Việt cổ nơi đây lại là kết quả của một sự
hòa trộn của nhiều tộc người khác nhau trong một cộng đồng chung thống nhất. Theo Trần
Quốc Vượng, đó là sự hòa trộn của “những nhân tố cư dân - ngôn ngữ - văn hóa: Môn Khme
cổ, Tày Thái cổ, Mã Lai cổ và thậm chí cả Tạng Miến cổ trong sự hình thành phức hệ cư dân
- ngôn ngữ - văn hóa Việt cổ”
[9]
.
Trên cơ sở thu thập và phân tích những cứ liệu về quá trình hội tụ và phân hóa tộc
người - ngôn ngữ - văn hóa dẫn đến sự hình thành những phức hợp văn hóa mới kiểu Đông
Sơn và những nhóm ngôn ngữ mới kiểu nhóm Việt - Mường, nhóm Chàm, nhóm Mèo - Dao…,
các nhà khảo cổ học và ngôn ngữ học cho rằng nhóm Việt - Mường là kết quả của sự hội tụ và
tiếp xúc của một bộ phận cư dân Môn Khme với một bộ phận cư dân Tày Thái
[10]
. Kết quả
nghiên cứu đó cho phép các học giả như Hà Văn Tấn, Phạm Đức Dương… đưa ra giả thiết về
những con đường thiên di trong lịch sử, được xác định là vào khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước
Công nguyên. Giả thiết cho rằng vào thời gian này, hàng loạt các cộng đồng tộc người mà chủ
yếu những cư dân Môn Khme vùng Bắc Đông Dương (vùng Thượng Lào) - những người nói
tiếng tiền Việt Mường và sống bằng nghề săn bắt hái lượm và làm nương trên các triền núi cao,
do sức hấp dẫn của năng suất lúa nước và cuộc sống ổn định dưới đồng bằng, đã di cư ào ạt
xuống các vùng trũng xung quanh vịnh Hà Nội
[11]
, thuộc tam giác châu thổ sông Hồng, cộng cư
rồi hòa huyết với các cộng đồng nói tiếng Tày Thái cổ ở đây. Trong quá trình khai khẩn đồng
bằng sông Hồng, cộng đồng cộng cư đó đã phát triển thành một cộng đồng mới: cộng đồng cư
Tiếng Việt hiện nay còn bảo lưu rất nhiều yếu tố gốc Thái trong các kết cấu hỗn hợp kiểu:
- cá bống mú, lược bí, mặt nạ, mưa phùn…(yếu tố Tày Thái in nghiêng, cùng nghĩa
nhưng làm định ngữ cho yếu tố Việt)
- chó má, cỏ giả, tre pheo, áo xống, kiêng khem… …(yếu tố Tày Thái cùng nghĩa nhưng
bị mất nghĩa làm cho từ mang nét nghĩa khái quát)
- trắng nõn, xanh lè, thơm phức… (yếu tố Tày Thái bị mất nghĩa làm cho từ sắc thái và
nét nghĩa hạn định)
Hàng loạt các từ thuộc lớp từ vựng cơ bản chỉ những con vật quen thuộc trong đời sống
như gà, vịt… trong tiếng Việt cũng là những từ gốc Thái.
Còn rất nhiều những cứ liệu ngôn ngữ khác mà Phạm Đức Dương đã đưa ra trong công
trình của ông về vấn đề này mà chúng tôi không thể dẫn ra hết (Xin tham khảo Phan Ngọc và
Phạm Đức Dương, đã dẫn)
Không chỉ thế, ngoài hai yếu tố chính là Môn Khme và Tày Thái, tiếng Việt Mường còn
được cho là hình thành bởi cả những yếu tố thuộc dòng Mã Lai, Tạng Miến… Thực tế, những
dấu tích để lại về mặt địa danh mà Trần Trí Dõi sau này đã tìm ra bằng phương pháp phục
nguyên nguồn gốc ngôn ngữ như sông “Cà Lồ”, làng “Cán Khê” (địa danh thuộc huyện Đông
Anh, ngoại thành Hà Nội) với nguồn gốc Nam Đảo
[13]
là một trong những cứ liệu ngôn ngữ xác
đáng chứng minh cho sự hội tụ trên đây từ trong lịch sử. Những số đếm đơn giản như một, hai,
cho đến mười, rồi trăm, ngàn… lại có cội nguồn Nam Á
[14]
được mượn vào tiếng Việt từ thời
kỳ đầu và tồn tại đến tận ngày nay. Sự tiếp nhận từ khu vực bên ngoài đó, qua một trạm trung
chuyển là Hà Nội cổ, rồi trở thành những làn sóng ngôn ngữ lan tỏa ra khắp xung quanh và các
vùng phụ cận. Kết quả, chẳng ai còn nhớ chính xác là từ khi nào những đơn vị từ vựng đó đã
trở thành phương tiện giao tiếp chung của tất cả người Việt.
2.2. Trường hợp 2: tích hợp và lan tỏa sự tiếp xúc Việt Hán
Lịch sử cho thấy, vào khoảng đầu Công nguyên, người Việt ở đất Giao Chỉ, đặc biệt là
ở vùng Long Biên - Hà Nội, đã bắt đầu tiếp xúc với tiếng Hán do việc các quan thái thú bắt đầu
sử dụng tiếng Việt.
- Sự xuất hiện 3 tuyến điệu do ảnh hưởng mạnh của tiếng Hán cũng là một điểm nhấn
trong lịch sử phát triển của tiếng Việt. Theo Haudricourt, sự xuất hiện 3 tuyến điệu này xảy ra
trong khoảng từ đầu Công nguyên đến thế kỷ thứ VI
[15]
. Vào thời kỳ sau, do sự nhích lại gần
cơ chế ngữ âm Việt của các từ mượn gốc Hán mà ba tuyến điệu của thời kỳ trước đã được nhân
đôi thành sáu thanh điệu như ngày nay. Quá trình thanh điệu hóa tiếng cũng diễn ra một cách
hoàn hảo nhất ở Hà Nội. Thật vậy, hệ thống thanh điệu 6 thanh rõ rệt của vùng Hà Nội được
cho là đã xác lập hoàn chỉnh từ cuối giai đoạn Việt Mường chung và tồn tại đến tận bây giờ là
cứ liệu ngôn ngữ xác thực chứng minh rằng những cư dân Hà Nội thời bấy giờ đã đi trọn vẹn
quá trình thanh điệu hóa trong khi các vùng lân cận như Cổ Nhuế, Sơn Tây (không phân biệt
được thanh ngang và thanh huyền), và xa hơn một chút như Thanh Hóa (không phân biệt được
thanh ngã và thanh hỏi), rồi xa nữa đến Nghệ Tĩnh (không phân biệt được thanh ngã và thanh
nặng, thanh nặng và thanh huyền)… đã không thực hiện được triệt để quá trình này.
- Sự hình thành cách đọc Hán Việt cũng là một trường hợp nổi bật của sự hội tụ và lan
tỏa trong tiếng xúc ngôn ngữ Việt - Hán. Qua vài thế kỷ tiếp xúc và vay mượn từ Hán Việt,
tiếng Hán, ban đầu được đọc bằng âm Hán, đã dần dần được người Việt chuyển sang đọc bằng
âm Việt dẫn đến sự hình thành cách đọc Hán Việt như chúng ta vẫn biết ngày nay. Trong quá
trình này, những bộ phận cư dân nói tiếng Việt cổ và tiếng Việt trung cổ sống ở vùng đô thị
Thăng Long - Hà Nội là những bộ phận chịu ảnh hưởng của tiếng Hán, đặc biệt là văn ngôn
Hán mạnh mẽ nhất. Vì điều này mà các học giả nghiên cứu lịch sử tiếng Việt đều có xu hướng
cho rằng địa bàn Thăng Long - Hà Nội là nơi tạo ra một cách đọc Hán Việt chính xác nhất.
Thật vậy, trải suốt mấy thế kỷ, các văn sĩ, trí thức ở mọi miền đất nước khi sáng tác thơ văn,
biên soạn thư tịch bao giờ cũng dùng cách đọc Hán Việt của vùng Hà Nội và coi đó như một
chuẩn mực. Cách đọc Hán Việt được hình thành ở Hà Nội, theo sự phát triển và khuyếch tán
của tiếng Việt, đã trở thành những làn sóng lan ra những vùng ngoại vi, và xa hơn, ra tất cả
vùng khác trong cả nước. Giờ đây, có thể nói, tất cả những ai sử dụng tiếng Việt trên lãnh thổ
Việt Nam đều dùng cách đọc này đối với tất cả các từ Hán Việt mà cho đến hiện tại đã trở
thành một bộ phận cơ hữu trong kho từ vựng tiếng Việt, chịu sự tác động của tất cả các quy
Publishers & Rowley, Massachusetts, 1974.
[6]
Một rặng núi hiểm trở, một con sông sâu… có thể trở thành vật cản tự nhiên, một cuộc chính biến,
một làn sóng di dân, … có thể trở thành một vật cản xã hội của những vòng sóng.
[7]
Labov W, Transmission and Diffusion, Language 83, June 2007.
[8] Theo sử sách, các bậc Vương gia của quốc gia cổ đại nào cũng có xu hướng đóng đô ở vùng đất giáp
ranh, nơi có nhiều đầu mối giao thông xuôi ngược và vì đồng bằng khi đó vẫn còn hoang vu hay vẫn là
rừng rậm, đầm lầy…
[9] Trần Quốc Vượng (chủ biên), “Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam”, NXB KHXH,
Hà Nội, 1996.
[10]
Phan Ngọc và Phạm Đức Dương, Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, Viện Đông Nam Á, Hà Nội,
1983, tr. 85.
[11] Vùng đất Hà Nội hình thành gắn liền với sự hình thành vùng châu thổ Bắc Bộ. Theo các nhà địa
chất học, sự hình thành châu thổ là cả một quá trình lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, ban đầu
là vịnh biển, rồi trở thành vùng trũng đầm lầy rồi mới trở thành đồng bằng châu thổ. Vào khoảng gần
2000 năm trước Công nguyên, vùng đất Hà Nội bây giờ còn là một vịnh biển, chuẩn bị chuyển thành
một khu vực đầm lầy.
[12] Cho đến hiện tại, chúng tôi vẫn quan sát thấy một số nhân chứng (hiện đang còn sống) của hiện
tượng này, khi phát âm các âm tiết có phụ âm đầu /l/ vẫn bắt đầu bằng động tác bật hơi do ảnh hưởng
của tiền phụ âm /m/ chưa triệt tiêu hoàn toàn (Cách phát âm của ông Nguyễn Ngọc Thành, cán bộ
trường Đại học KHXH&NV, một người quê Nghệ Tĩnh).
[13] Trần Trí Dõi, Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa, Hà Nội - những
vấn đề ngôn ngữ và văn hóa 990 năm Thăng Long, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001.
[14] Phan Ngọc và Phạm Đức Dương, Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, Viện Đông Nam Á, Hà Nội,
1983, tr. 138.
[15] Haudrricourt, Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 1, 1991, tr. 19-22.