Tổng quan về bệnh mỡ
máu cao
1. Định nghĩa mỡ máu cao
Mỡ máu cao là tình trạng mà lượng lipid trong máu cao hơn
mức bình thường.
Chỉ số chung Cholesterol
Dưới 200 mg/dl Mức độ tốt nhất
200 – 239 mg/dl Hơi cao
Từ 240 mg/dl trở lên Cao
Cholesterol có hại(LDL)
Dưới 70 mg/dl Tốt nhất cho những người
có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch
Dưới 100 mg/dl Tốt nhất cho người có
khả năng mắc bệnh tim
100 – 129 mg/dl Gần tốt nhất
130 – 159 mg/dl Hơi cao
160 – 189 mg/dl Cao
Trên 190 mg/dl Rất cao
Cholesterol có lợi (HDL)
Dưới 40 mg/dl ít
40 – 59 mg/dl Tốt hơn
Trên 60 mg/dl Tốt nhất
Triglycerides
Dưới 150 mg/dl Tốt nhất
150 – 199 mg/dl Hơi cao
Bệnh tiểu đường gây tăng cholesterol và triglycerid
- Ở những người do thiếu vận động hoặc ít vận động như ngồi
bàn giấy nhiều giờ, nhiều ngày, công việc lao động bắt buộc
ngồi lâu như thợ may, người đánh máy lại ăn chế độ nhiều
đạm, nhiều mỡ khiến cho năng lượng tích tụ lại thành mỡ, tăng
lượng cholesterol xấu và giảm lượng cholesterol tốt.
- Béo phì: làm tăng lượng mỡ trong máu.
Béo phì là yếu tố nguy cơ gây tăng mỡ máu
- Hút thuốc lá nhiều: hút thuốc lá thường thiệt hại các bức
thành của các mạch máu, làm cho chúng có khả năng tích tụ
mỡ. Hút thuốc lá làm giảm HDL tốt.
- Trên tuổi 45 đối với nam và hơn 55 đối với nữ.
- Di truyền: Gia đình có tiền sử bệnh tim mạch như mỡ máu
cao, huyết áp cao, bệnh tim mạch…
3. Triệu chứng
- Tăng mỡ máu có tính chất từ từ và xảy ra trong một thời gian
dài nếu không phát hiện kịp thời thì mới có các triệu chứng
điển hình.
- Xuất hiện các u vàng là các nốt màu đỏ-vàng, rắn chắc. U
vàng nhiều cục thường gặp ở những vùng chịu áp lực như mặt
duỗi của khớp gối, của khủy tay và ở mông. U vàng nhiều cục
rất thường gặp đi kèm với tăng cholesterol máu và tăng nồng
độ LDL- cholesterol. Nó cũng có thể gặp trong tăng lipid máu
thứ phát do hội chứng thận hư, nhược giáp.
Người bị bệnh u vàng thường bị tăng mỡ máu
4. Biến chứng
- Mỡ máu dư thừa, bám vào thành mạch máu gây ra các biến
chứng nghiêm trọng
Hydroxymethylglutaryl Coenzym (HMG - CoA) reductase,
làm ngăn cản chuyển hóa HMG - CoA thành mevalonat, tiền
chất của Cholesterol.
Chỉ định: Tăng LDL nguyên phát, và ở bệnh nhân vừa tăng
LDL, vừa tăng cholesterol và tăng triglyceride.
Tác dụng phụ: (nôn, đầy hơi, kích ứng dạ dày). Tác dụng phụ
ít gặp hơn như: đau đầu, rối loạn giấc ngủ, tăng men gan,
nhược cơ.
Liều khởi đầu và liều duy trì hàng ngày của các statin
là:
Tên thuốc Khởi đầu (mg) Duy trì (mg) Biệt dược
Lovastatin 20 20 - 80
Simvastatin 5 - 10 5- 40 Zocor
Pravastatin 10 – 20 10 - 40
Fluvastatin 20 20 - 40 Lescol
Atorvastatin 10 10 - 80 Lipitor
b) Nhóm Resin (Nhựa gắn acid mật)
Thuốc này hoạt động bên trong ruột non, nó gắn với acid mật,
ngăn cản sự tái hấp thu acid mật vào vòng tuần hoàn chung.
Các hoạt chất hay sử dụng là cholestyramin (questran) và
colestipol (colestid). Tác dụng phụ chủ yếu của chúng là gây
táo bón, đầy hơi, kích ứng dạ dày. Cần chú ý rằng không sử
dụng riêng nhựa gắn acid mật để giảm cholesterol máu trong
trường hợp bệnh nhân có tăng triglycerid hoặc bị táo bón.
Nhựa gắn acid mật không được hấp thu nên nó có thể ảnh
hưởng đến sự hấp thu của các thuốc khác nếu uống cùng thời
điểm. Do vậy, phải sử dụng cách nhau 4 - 6 giờ.
c) Nhóm ức chế hấp thu cholesterol
Ezetimib làm giảm lượng cholesterol của cơ thể bằng cách
giảm hấp thu cholesterol ở ruột. Tuy nhiên, thuốc không làm
Thực phẩm nên kiêng
Để giảm cholesterol trong máu, chế độ ăn chỉ được cung cấp dư
ới 30%
calo từ chất béo
Tránh ăn mỡ động vật (mỡ lợn, bơ, mỡ bò ), các loại thịt gia cầm khi
ăn
nên bỏ da.
Ăn ít thịt đỏ: giới hạn lượng thịt đỏ (bò, ngựa, trâu, cừu) tiêu thụ dư
ới
255 g/tuần.
Hạn chế ăn bao tử, lòng đ
ỏ trứng gà, vịt, trứng chim cút, não súc vật,
nghêu, sò, ốc…, cật heo, gan…do chứa nhiều cholesterol. ).
Tránh dùng kem sữa bò. Nếu dùng các thức ăn t
ừ sữa thì nên chọn loại
đã tách kem (còn g
ọi là sữa gầy). Ngay cả sữa chua hay pho mát cũng
nên chọn loại làm từ sữa gầy hoặc sữa có hàm lượng chất béo chỉ 1-2%.
Tránh dùng dầu cọ hay dầu dừa. Không chỉ tồn tại riêng lẻ, các lo
ại dầu
này có mặt trong kem thực vật đ
Nên dùng dầu ô liu, dầu cải, dầu ngô, dầu hạt rum, dầu đậu nành và dầu
hướng dương. Đây là những loại dầu có tác dụng làm hạ mức cholesterol.
Điều cần lưu ý là tổng tất cả các loại chất béo nói trên đều không được
vượt quá 30% lượng calo cho phép.
Ăn nhiều cá (mỗi tuần vài ba lần) để thu nhận axit béo hệ Omega-3, có tác
dụng bảo vệ tim mạch. Cá hồi, cá ngừ, cá mòi, cá trích và cá thu có nhiều
axit béo loại này.
Nạp đủ axit folic: Nếu hàm lượng axit này trong máu quá thấp thì hàm
lượng homocystein sẽ tăng, dẫn đến nguy cơ bị bệnh tim.
Ngoài ra, có thể dùng một trong các trà sau đây để phòng ngừa MMC: trà
cúc, trà thảo quyết minh, trà nhân trần, trà artisô, trà rau má, trà gừng, trà
lá sen…
8. Chế độ sinh hoạt
Tuyệt đối tránh xa thuốc lá.
Không uống rượu bia và các đồ uống ngọt
Không nên ăn tối quá muộn (quá 20 h) với thức ăn nhiều đạm vì rất khó
tiêu hoá và sẽ làm lượng cholesterol đọng trên thành động mạch dẫn đến
xơ vữa động mạch. Thời điểm ăn bữa tối hợp lý nhất là vào 19 giờ hằng
ngày.
Nên ăn nhạt vì thức ăn này có lợi cho sức khoẻ và bệnh tim.
Giảm tổng lượng năng lượng trong ngày để giảm cân nhằm có chỉ số BMI
thích hợp nếu có thừa cân, béo phì.
Về mặt tinh thần, tâm lý: có một chế độ sinh hoạt điều độ, không căng
thẳng, thoải mái, tránh các xúc động mạnh, không quá lo âu, sợ hãi, giận
dữ, buồn đau hoặc mừng vui quá độ.
Tập luyện thể dục thể thao vừa sức, nhẹ nhàng, thường xuyên, phù hợp
với thể trạng và điều kiện, hoàn cảnh của mình.
Giới hạn thời gian ngồi tại chỗ 60 phút mỗi ngày, ít nhất 3-4 ngày trong
tuần.